• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

70 Năm Xưa

Chính phủ Quốc Gia Việt Nam do ông Trần Trọng Kim thành lập. Ảnh ngày 20 Tháng 4, 1945.

ÐOÀN THÊM. Hai Mươi Năm Qua. 1945-1964. Việc Từng Ngày.

Ngày 18 Tháng Ba, 1945, biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng Quốc Gia Ðộc Lập, cám ơn quân Nhật và đón rước di hài nhà cách mạng Dương Bá Trạc từ Thiên Nam (Singapore) về nước.

17 Tháng Tư, 1945. Vua Bảo Ðại ủy Học giả Trần Trọng Kim  thành lập  chính phủ.

20 Tháng Sáu, 1945. Vua Bảo Ðại ban hành Dụ phục hồi công quyền cho những cựu chính trị phạm chưa được miễn tội danh.

Cùng ngày, Quyền Thống Ðốc Nhật tại Nam Bộ – Ông Minoda – ấn định giá lúa là 9$ mỗi tạ 60 ký, không có bao, để xay thành gạo Số 1 với 25% tấm.

10 Tháng 9, 1948. Tổng Trấn Nam Phần Trần Văn Hữu – Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân – ra “Nghị Ðịnh:Ai bắt được tù khổ sai vượt ngục Côn Luân được thưởng 200 đồng.”

CTHÐ: Tôi vừa trích một số sự kiên quan trọng của Quốc gia VN xẩy ra trong Tháng Tư 1945. Những sự kiện này được ghi trong tác phẩm “Hai Mươi Năm Qua. 1945-1964. Chuyện Từng Ngày” của ông Ðoàn Thêm.

Quốc kỳ Việt Nam do chính phủ Trần Trọng Kim ban hành, có ten gọi là Cờ Quẻ Ly. Dân Việt khi ấy không thích lá cờ này, vì cờ có một vạch bị gẫy đôi, và tên Cờ Quẻ Ly làm người ta nghĩ đến Ly Cách, Ly Loạn, Ly Biệt, Chia Lià. Lá Cờ Quốc Gia thứ nhất này bị gần như tất cả người dân Việt có ác cảm, nhiều người Việt không chịu dùng lá cờ này, không chịu nhận lá cờ này là Quốc Kỳ. Quốc kỳ Quẻ Ly chỉ dược dùng trong 4 tháng.

Trước khi bàn loạn về những sự kiên trên, tôi viết   Lời Cám Ơn Ông Ðoàn Thêm của tôi. Nhờ ông, nhờ tập Ghi Việc Nước từng ngày của ông, tôi có thể kể lại với quí vị độc giả về những sự kiên xẩy ra trong nước ta 65 năm xưa – năm tôi ở cái tuổi gọi là tuồi “Ngày Xưa Còn Bé” –  những sự kiên làm cho đất nước ta trở thành tanh banh như bây giờ, những sự kiện làm cho đời chúng ta nát như cái Mền SAKYMEN – Sài Gòn Kỹ Nghệ Mền Len, Xưởng Máy ở chân cầu Bình Trịệu. Bọn Bắc Cộng Cướp Nước đã phá nát xưởng Mền SAKYMEN từ lâu – những sự kiện sẽ làm cuộc đời con cháu chúng ta rách hơn sơ mướp.

Người Viết cần gì viết nhiều tác phẩm. “Hai Mươi Năm Qua” của ông Ðoàn Thêm là quyển sách quí trong Tàng Kinh Các Rừng Phong của tôi. Người Viết chỉ cần có một tác phẩm “để đời.” “Hai Mươi Năm Qua”  là “Tác phẩm Ðể Ðời” của Người Viết Ðoàn Thêm.

Tiểu sử của tác giả Ðoàn Thêm trên Internet:

Ðoàn Thêm là nhà luật học, nhà thơ, sinh ngày 5-11-1915 tại Hà Nội, quê làng Hữu Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, nay là huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.(1)

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, con trai nhà giáo dục, Cử nhân Ðoàn Triển (1854-1919). Thuở nhỏ ông Ðoàn Thêm học tại Trường Bưởi (Chu Văn An), đậu bằng Tú tài Pháp Việt, rồi vào trường Ðại học Ðông Dương, tốt nghiệp Cử nhân Luật trước năm 1945.

Trong kháng chiến chống Pháp ông tản cư, khoảng năm 1951 ông hồi cư về Hà Nội, sau năm 1954 ông  làm công chức tại Văn phòng Phủ Tổng Thống thời TT. Ngô Ðình Diệm (1954-1963). Sau đảo chính 1-11-1963, ông bỏ làm công chức, ông viết văn làm báo. Những năm 1960 có năm  ông được trao Giải thưởng “Văn Chương Toàn Quốc” (Sài Gòn), ông từ chối Giải vì cho mình là một công chức cao cấp của chính quyền thì không nên nhận Giải do Nhà Nước trao tặng.

Sau năm 1983 ông đi định cư  tại Canada, đến ngày 8-8-2005 ông qua đời, thọ 90 tuổi.

Kính ông Ðoàn Thêm: Tôi cám ơn ông.

CTHÐ: Tìm trên Internet tôi không thấy bức ảnh nào của ông Ðoàn Thêm. Tôi cũng không thấy bức ảnh nào của ông Dương Bá Trạc.

Năm 1944, Bộ Tư Lệnh Quân Ðội Nhật ở Ðông Dương đưa ba ông Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Trần Văn Ân sang Singapore tránh nạn ba ông này bị Mật Thám Pháp bắt. Theo tôi, người Nhật đã tính việc lật đổ chính quyền Pháp ở Ðông Dương từ năm 1944 nên họ đưa ba chính khách Việt Quốc Gia đi lánh nạn ở nước ngoài, chờ ngày cần tới họ đưa những ông này về nước lập chính phủ. Ông Dương Bá Trạc bị bệnh, chết ở Singapore. Người Nhật hoả táng ông, đựng tro ông trong bình, trao cho hai ông Trần Trọng Kim, Trần Văn Ân mang về nước.

Tuy Nhật tuyên bố nước Việt Nam độc lập, nhưng khi nước VN có chính phủ, mọi việc quan trong với đời sống người dân nước VN vẫn do người Nhật quyết định. Trong “Hai Mươi Năm Qua”  ghi sự kiện Nhật có những ông Toàn Quyền, Khâm Sai không khác gì chính quyền Pháp. Các ông Nhật định giá tiền thuế thân cho dân Việt, dân Tầu, giá luá gạo như sự kiện được trích trên đây.

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ sống vỏn vẹn có 4 tháng: chưa được đủ 120 ngày. Thủ Tướng Trần Trọng Kim – Vị Thủ Tướng Thứ Nhất của nước tôi – viết trong Hồi Ký “Một Cơn Gió Bụi” về việc chính phủ của ông lo Cứu Ðói dân Bắc Kỳ, ông than ông đã không làm được việc đó:

MỘT CƠN GIÓ BỤI. Hồi ký Trần Trọng Kim. Trích:

Việc quan hệ nhất  của chính phủ lúc ấy là phải lo sự vận tải tiếp tế gạo cho miền Bắc, dân tình đói khổ, người chết đói hàng ngàn, hàng vạn. Vì vậy chúng tôi đặt ra Bộ Tiếp Tế chuyên việc vận tải thóc gạo trong Nam ra Bắc. Bộ ấy không đạt được mục đích của chính phủ vì sự vận tải khi ấy khó khăn quá, đường xe lửa bị hư hỏng, thuyền bè đi ngoài bể bị tàu ngầm quân Ðồng Minh Anh Mỹ đánh chìm, nhiều thuyền  bị cướp chặn lấy hết gạo.

Thủ Tướng Trần Trọng Kim ghi về Quốc Ca, Quốc Kỳ trong Hồi Ký Một Cơn Gió Bụi:

Nước Việt Nam đã là một nước tự chủ thì phải có quốc kỳ và quốc ca. Bài quốc ca thì từ trước vẫn dùng bài “Ðăng Ðàn” là bài ca rất cổ, mà âm điệu nghe nghiêm trang. Chúng tôi nghĩ: trước khi có bài nào hay hơn và có nghĩa lý hơn thì hãy cứ dùng bài ấy.

Còn lá quốc kỳ, mỗi người bàn một cách, chúng tôi định đem hỏi mọi người trong nước và ai có ý kiến gì, thì vẽ kiểu gửi về. Có kiểu lá cờ Vàng có Quẻ Ly ở giữa là có ý nghĩa hơn cả. Chúng tôi định lấy kiểu ấy làm quốc kỳ. (2)

Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc Sử Diễn Ca có ghi khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng “Ðầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của Tổ quốc, lấy dấu hiệu Quẻ Ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ LY còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.

Lấy sắc Vàng là hợp với lịch sử, lấy Quẻ Ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa cờ của một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá Cờ Vàng Quẻ Ly có đủ các ý nghĩa.

Song có người nói: Cờ Quẻ Ly là một điềm xấu cho nên thất bại, vì “ly” là “lìa.” Ly là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ Ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lý, chứ không phải ở sự tin nhảm vô ý thức.

Việc thất bại là vì tình thế chứ không phải vì lá cờ. Giả sử dùng lá cờ khác mà trong hoàn cảnh lúc ấy có thể thay đổi được gì không?

Trong Hồi Ký Một Cơn Gió Bụi, Thủ Tướng Trần Trọng Kim viết về các ông Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam  và ông Bảo Ðại:

Nguyễn Hải Thần, chính tên là Vũ Hải Thu, người tỉnh Hà Ðông. Ông là người lão thực, trước đã thi đỗ tú tài, thường gọi ông Tú Ðại Từ. Khi ông Phan Bội Châu xướng lên việc xuất dương vào quãng năm 1905-1906, ông ra nước ngoài,  vào học Trường Võ Bị Hoàng Phố, Quảng Châu. Ông quen biết Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Ngô Thiết Thành, Trần Lập Phu v…v… Vì có sự quen biết ấy, nên khi ông Tưởng Giới Thạch làm Hiệu Trưởng  Trường Hoàng Phố, đã đưa ông vào làm một chức giáo viên ở trường, dạy về chính trị, mỗi tháng được sáu, bảy chục đồng tiền Tàu, lúc ấy cũng đủ sống. Một năm ở Nam Ðịnh có cuộc xướng danh các vị cử nhân Khoa thi Hương, Toàn quyền Sarrault đến Nam Ðịnh chứng kiến cuộc xướng danh ấy. Ông Vũ Hải Thu từ bên Tầu lén về nước, dấu trong người quả tạc đạn, đến dự Lễ Xướng Danh, dùng tạc đạn giết Toàn Quyền Sarrault.

Nhưng…. tạc đạn… không nổ, ông Vũ Hải Thu chạy thoát, đổi tên là Nguyễn Cẩm Giang. Một lần nữa sau cuộc chiến tranh 1914-1918 ông đem một toán quân thổ phỉ từ bên Tầu về nước đánh châu Ðà Long, ta thường gọi là châu Ðà Lùng thuộc tỉnh Cao Bằng. Việc thất bại ông sang ở luôn bên  nước Tàu và đổi tên là Nguyễn Hải Thần. Sự nghiệp cách mệnh của ông chứng rõ trong bài thơ ông gửi cho tôi khi tôi ở Quảng Châu vào khoảng cuối năm 1946:

Bốn chục năm nay vị nước nòi
Nước nòi chưa mạnh, quyết chưa thôi
Ðà Long phất trận gươm ba tấc
Nam Ðịnh tương bom lửa một mồi
Cha đứa cắn gà toan cõng rắn
Mẹ thằng giày mã dám đem voi
Nào ai mãnh sĩ mưu thần đó
Góp sức đun tay để cứu đời (3)

o O o

Tổng Ðốc Nguyễn Bá Trác, tác giả bài Thơ Hồ Trường, bị Việt Minh giết Tháng Tám 1945 ở Bình Ðịnh.

Vũ Hồng Khanh, tức Giáo Giản, trước làm giáo học ở một trường tiểu học Bắc Việt, sau theo Nguyễn Thái Học vào Quốc Dân Ðảng khởi nghĩa ở Yên Bái, rồi chạy sang Tàu ở bên Vân Nam.

Nguyễn Tường Tam, có bằng khoa học cử nhân, trước đứng chủ trương báo Phong Hóa rồi Ngày Nay ở Hà Nội và lập ra Ðảng Ðại Việt Dân Chính. Khi quân Nhật vào Ðông Dương, vì sự hành động của nhóm ông, người Pháp toan bắt ông, ông nhờ quân đội Nhật đưa sang ở Quảng Châu rồi sang Quảng Tây, nhập vào Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội.

Những người ấy tuy nói là ở đảng nọ phái kia, nhưng kỳ thực không có sự tổ chức gì ra trò. Bọn ông Hồ Chí Minh biết như thế nên mới lợi dụng danh hiệu Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội để che đậy công việc làm của Ðảng Cộng sản..

Về khoảng cuối năm 1944, Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội dời về tỉnh Quảng Tây và cho ông Hồ Chí Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó Hội cho ông Hồ Chí Minh cùng 22 đảng viên phần nhiều là người trong Ðảng Phục Quốc về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên là Ðỗ Thị Lạc là người  có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về sau người ta nói khi về đến Bắc Giang, có ba đảng viên trong 22 người ấy bị người Công sản giết vì không chịu theo Cộng sản. (4)

Ông Trần Trọng Kim viết về việc là Thủ Tướng Chính Phủ, ông đòi Người Nhật chính thức trả lại lãnh thổ Việt Nam:

Một Cơn Gió Bụi. Trích:

Tổng Tư lệnh Nhật cứ viện hết lý do nọ đến lý do kia, thành ra hai bên cứ bàn cãi đến một ngày ông mới chịu nhận lời trả lại Nam bộ. Có một điều nên biết, là từ ngày tôi ra Hà Nội, người Nhật thảo luận quốc sự với tôi rất hòa nhã và có vẻ cung kính, chứ không có điều gì trịch thượng hay gai ngạnh.

Mấy việc quốc sự kể trên xong rồi, tôi xin Tổng Tư lệnh Nhật tha và trả lại cho chính phủ Việt Nam hết thảy những sĩ quan và quân lính Việt Nam mà quân đội Nhật còn giam giữ ở các nơi, để chúng tôi tổ chức lại quân đội Quốc Gia Bảo An. Vì súng đạn không có, tôi lại xin cho chúng tôi súng đạn để những đội Bảo An ấy dùng. Tổng Tư lệnh Nhật nhận lời, tạm cho Bắc bộ 2000 khẩu súng và đạn dược.

Tôi xin tha cho những thanh niên bị Hiến binh Nhật bắt vì theo Việt Minh.  Tổng Tư lệnh Nhật gọi Ðại tá coi Sở Hiến Binh Nhật đem sổ tù nhân cho tôi xem, thì chỉ thấy độ 300 người bị bắt, chứ không như người ta đồn có tới hàng ngàn người, và có gần một trăm người đã được tha rồi. Tôi lấy mọi lẽ giải thích sự hành động của thanh niên, và mong người Nhật rộng lượng mà tha hết cả ra, để khỏi làm náo động lòng người. Hiến binh Nhật hứa sẽ xét chóng mà tha dần ra. Ngày hôm sau họ tha ra được năm, sáu chục người.

Chúng tôi ra Hà Nội, điều đình với Tổng Tư Lệnh Nhật được kết quả : lấy lại toàn lãnh thổ của nước Việt Nam, thu nhận và làm chủ hết các công sở thuộc Phủ Toàn Quyền của Pháp, lấy hết các binh sĩ Việt Nam để tổ chức đội quân Bảo An, lấy được 2000 khẩu súng mới và đạn dược, và xin tha được một số thanh niên bị Hiến Binh Nhật bắt.

Sự điều đình của chúng tôi được ổn thỏa dễ dàng, có lẽ vì người Nhật tự biết họ sắp thua nên họ đổi thái độ để mua chuộc lòng người. Hay là họ có ý gì khác nữa, ta không thể biết được.

Lúc ấy có ông Nguyễn Văn Sâm lãnh tụ Ðảng Quảng Xã, vừa ở Sài Gòn ra Huế. Tôi vào tâu vua Bảo Ðại, xin cử ông Sâm làm Nam Bộ Khâm Sai. Ngày 14 tháng Tám năm 1945, ông Sâm được sắc chỉ bổ vào Nam làm Khâm Sai.

Cựu TT Trần Trọng Kim viết về việc Vua Bảo Ðại thoái vị:

Tôi tâu Vua Bảo Ðại:

“Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. Việc đã nguy cấp lắm rồi, ngài nên nhớ lịch sử về Vua Louis XVI bên Pháp và Vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước”.

Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh, Vua hiểu ngay và nói: “Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà. Trẫm muốn làm người dân một nước độc lập  hơn làm vua một nước nô lệ”.

Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên ngài xuống  Chiếu Thoái Vị. Khi tờ chiếu ấy công bố, nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động, nhưng lúc ấy phần vì thấy tình thế nguy ngập, phần vì sợ hãi, còn ai dám nói năng gì nữa. Ðến tổ chức Thanh Niên Tiền Tuyến, đoàn thể được chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh, bọn lính hộ thành của nhà vua không nghĩ đến nhiệm vụ.. Các vị Tổng Ðốc, Tuần Phủ lẩn nấp đâu mất cả. Tình cảnh Nam triều rất tiều tụy. Nếu không mau lui đi, tính mệnh nhà vua và hoàng gia chưa biết ra thế nào.

Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi:

“Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Ðồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự trong nước.”.

Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Ðồng Minh sắp vào nước, mình nhờ quân Nhật đánh giết người mình thì còn ra làm sao nữa,  mình sẽ mang tiếng ” giết dân, cõng rắn cắn gà nhà.”

Tôi từ chối không nhận đề nghị của người Nhật.

Những người không biết rõ tình thế nói: lúc ấy giá chính phủ không vội, từ chức, chính phủ  chống cự lại, Việt Minh không làm gì được, vì họ không có binh lực gì cả. Về đường binh lực, lúc ấy Việt Minh không không có gì thật. Nhưng cái phương lược của họ đánh chiếm bằng tuyên truyền, bằng lối quỉ quyệt lừa dối để lôi kéo dân chúng đi theo họ, chứ họ không đánh bằng binh khí. Sự tuyên truyền của họ đã có ngấm ngầm từ lâu trước khi quân Nhật đảo chính người Pháp chứ không phải bây giờ mới có. Mình đem một vài trăm người trông cậy được ra chống với mấy vạn người toàn thanh niên, nông dân,  thuyền thợ và đàn bà trẻ con, lại có những người Việt Minh quỷ quyệt, táo tợn đứng sau lưng xui bẩy, chống sao được? Chẳng qua chỉ gây một cuộc đổ máu vô ích.

Việt Minh đã cướp quyền, vua Bảo Ðại đã thoái vị, tôi ra ở nhà đã thuê từ trước tại làng Vĩ Dạ gần Huế. Ðược mấy ngày, Việt Minh vào cung đưa vua Bảo Ðại, bấy giờ  là Công dân Vĩnh Thụy, ra làm Tối Cao Cố Vấn ở Hà Nội để dễ quản thúc.

Sau đó có người, hoặc vì tuyên truyền, hoặc vì không biết rõ sự thực nói: Chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ bù nhìn, ý nói là chúng tôi ra làm việc để người Nhật sai khiến. Tôi dám cả tiếng bác lời nói đó.

Tôi ra ở làng Lại Thế. Lúc đầu ông Trịnh Ðình Thảo, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đến ở với chúng tôi hơn một tháng mới trở về Sài Gòn. Chúng tôi ở đấy ngày ngày nghe tiếng trống mõ của dân làng, đàn bà trẻ con và dân đinh vác dao, vác gậy đi biểu tình mừng Ðộc Lập. Rồi sau lại thấy mở cuộc Quyên Vàng khắp cả nước. Ai có vòng xuyến, hoa tai hoặc đồ gì bằng vàng phải đem nạp chính phủ để dùng cho việc nước. Hết cuộc quyên Vàng đến cuộc quyên Ðồng,  quyên đủ mọi thứ.

Trong hoàng thành, Việt Minh cho người vào lấy những bảo vật và y phục của các vua chúa đời trước đem ra chợ bán. Khi quân Nhật sắp hàng có đưa trả lại chính phủ Việt Nam bốn tấn bạc bằng thoi chở vào để trong cung, số bạc ấy không biết về sau ai lấy mất. (5)

Một Cơn Gió Bụi ghi việc  ông Trần Trọng Kim, tác giả Hồi Ký sang Tầu:

Bấy giờ tôi không có tiền, may nhờ chính phủ Việt Minh ở Huế trả tôi 1.600 đồng, tiền lương quá nửa tháng cuối cùng của tôi, tôi mới có tiền chi tiêu.( 6 )

Tôi cho con tôi  ra Hà Nội lo tiền vào đem chúng tôi ra Hà Nội. Nhưng con tôi lo tiền chưa được, thành ra chúng tôi phải ở lại Huế hơn ba tháng. Ðất khách, quê người hiu quạnh, buồn bã, chỉ một mình vui với trăng, gió, với trời mưa nước lụt, ngồi nghe chim hót, ngắm cò bay, khi hứng thì đem Ðường thi ra dịch, nhờ thế khuây khỏa được qua ngày. (6)

Chờ mãi không thấy con tôi vào, may nhờ có ông bạn đến thăm, thấy tình cảnh của tôi, tự ý giúp tôi một số tiền, chúng tôi mới mua  mấy chỗ trên xe ô tô chở hàng từ Huế đi Hà Nội.

Ấy thế là xong một giấc mộng Nam Kha, làm việc nước  hơn bốn tháng trời, nghĩ lại thấy nực cười. Khi ở Băng Cốc về, tôi vẫn định bụng không làm gì cả, mà thành ra phải làm việc này đến  làm việc nọ, rút cục tay không lại hoàn tay không.

Cựu TT Trần Trọng Kim viết về việc ông gặp lại Vu Bảo Ðại ở bên Tầu. Ngày gặp lại  Tháng 8 năm 1949. Trích:

Hôm sau tôi gặp ông Bảo Ðại, lời đầu tiên ông nói:

Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn.”

CTHÐ: Vua, Tôi hai Vị bị “mắc lừa bọn du côn,” hai Vị chỉ bị bực mình, thất vọng, cay đắng. Than ôi.. Biết bao nhiêu người Việt bị “bọn du côn” ấy giết thê thảm.

Cảm khái cách gì.

Quốc sự 70 Năm Xưa còn nhiều chuyện cần kể và bàn loạn, như chuyện chính phủ Trần Trọng Kim cho ông Uỷ Viên Trần Tấn Phát ra Côn Ðảo đem những người tù chính trị về Sài Gòn. Sau đó chính quyền Pháp coi “ những tù nhân Côn Ðảo này là Tù Vuợt Ngục, ra lệnh bắt lại.”

Xin hẹn hồi sau kể tiếp.

CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG.

——————————————————————————

1 –  Hai ông Ðoàn Thêm, Nguyễn Hải Thần nguyên là Công Tử Hà Ðông. Tôi không tìm thấy ảnh ông Nguyễn Hải Thần trên Internet.

2 – Năm tôi 15 tuồi, có lần tôi được nghe bài “Quốc Ca Ðăng Ðàn.” Nhạc bài ca này làm tôi buồn muốn chít. Phải nghe bản nhạc này 10 lần chắc tôi chít lâu rồi. Nghe nói: Cờ Mầu Vàng là hiệu cờ quốc tế của những tầu biển có bệnh Dịch. Khi trên tầu có bệnh Dịch, tầu vào bến phải trương Cờ Mầu Vàng.

3 – Tạc đạn có ném ra… Nhưng.. Tạc Ðạn Không Nổ, Tạc  Ðạn Tịt Ngòi, Tạc Ðạn Sịt. Chắc đây là Tạc Ðạn Made in China. Than ôi.. Mưu sự tại Vũ Hải Thu, bất thành sự tại Tạc Ðạn Sịt. Không thấy trang Sử Việt nào ghi chuyện Toàn Quyền Sarrault về Trường Thi Nam Ðịnh dự Lễ Xướng Danh Tân Khoa, bị ném tạc đạn, ngoài trang Sử Một Cơn Gió Bụi này.

4 – Romeo Hồ Chí Meo lại có một con với Nữ đồng chí!  Ðồng Ðảng của Roméo Hồ Meo là Bin Lintôn khi biết chuyện này, ca ngợi: “Nice try!” – “ Khéo thay, bạn Hồ Chí Meo!”

5 – Còn ai lấy số bạc thoi ấy nữa? Năm 1975 bọn Cộng Ðầu Sỏ vào Sài Gòn, lấy 16 Tấn Vàng  của nhân dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Những thằng Cộng nào chia nhau 16 tấn vàng ấy??

6 – Việt Minh giết ông Thượng Thư Phạm Quỳnh, giết Tổng Ðốc Nguyễn Bá Trác, giết Khâm Sai Nguyễn Văn Sâm. Chúng không giết ông Khâm Sai Bắc Bộ Phan Kế Toại, không những Việt Minh chỉ để yên cho Cựu Thủ Tướng Trần Trọng Kim sống mà chúng còn trả tiền lương Thủ Tướng cho ông. Theo lời ông Trần kể lương Thủ Tướng của ông trong hơn nửa tháng là 1.600 đồng – khi ấy dân ta dùng giấy bạc của Pháp phát hành – như vậy Lương Thủ Tướng cả tháng của ông là 3.000 đồng. CTHÐ

Advertisements

One Response

  1. Trích:

    …”Mình đem một vài trăm người trông cậy được ra chống với mấy vạn người toàn thanh niên, nông dân, thuyền thợ và đàn bà trẻ con, lại có những người Việt Minh quỷ quyệt, táo tợn đứng sau lưng xui bẩy, chống sao được? Chẳng qua chỉ gây một cuộc đổ máu vô ích.”…

    (ngưng trích).

    Các chính quyền VN năm xưa, từ VNCH, nhà nước bù nhìn của thực dân Pháp, hoặc ngay cả phong kiến xa xưa đều thế cả! Hễ thấy dân đổ máu là nao núng, nương tay. Dân càng hy sinh, càng đổ máu chừng nào thì họ càng mềm lòng chừng nấy, để cuối cùng là… đành chịu hàng để tiết kiệm xương máu của người dân vô tội, dẫu trong tay họ vẫn còn dư súng đạn, cảnh sát và quân đội trang bị tận răng!

    Còn bọn vc hiện nay thì … sức mấy! Dẫu chỉ còn vài trăm tên côn đồ trung thành, vài thứ võ khí thô sơ và có cần phải giết là chúng giết ngay những thành phần chống đối không gớm tay, từ ngày này qua tháng nọ. Đối với chúng, không hề có chuyện “đổ máu vô ích” như nhà học giả họ Trần lo sợ. Miễn không phải là máu của chúng và của con em chúng và miễn là chúng củng cố được chế độ là chúng xuống tay không ngần ngại, không thương tiếc.

    Ai còn lạ gì? Chế độ nào rồi cũng không thể thắng nổi bọn côn đồ này, cũng vì lẽ đó !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: