• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Sài Gòn Có Gì Lạ Không Em?

Năm 2005 khi loan báo tôi có ý viết thêm và đăng lại một số những bài tôi viết ở Sài Gòn và gửi sang Kỳ Hoa 20 năm xưa, một độc giả của tôi gửi cho tôi điện thư:

Kính thưa bác Hoàng Hải Thủy,

Cháu tên là V., cháu có đọc bài Viết ở Rừng Phong “Tắm Mát Ngọn Sông Ðào” của bác. Thấy bác ngỏ ý bác muốn đọc lại những bài viết của bác những năm 1977, 1978, 1982, 1983, những bài bác viết ở Sài Gòn và gửi sang Hoa Kỳ. Cháu có cất giữ 2 bài viết của bác năm xưa, cháu cắt hai bài này từ tờ báo “Hồn Việt”  Số 151 tháng 11 năm 1982  và tờ “Nguồn Việt” (Hồn Việt mới) số 5 tháng 8 năm 1983, hai bài viết với  tựa đề “Sài Gòn có gì lạ không em” (đính kèm) ký tên tác giả là “Dương Hồng Ngọc” (?) Dù bác để tên khác nhưng cháu đọc là cháu nhận ra văn phong của bác ngay. Cháu muốn gửi biếu bác 2 bài viết này.

Trong bao năm ở xứ người, cháu vẫn thường đọc lại những bài viết ở Sài Gòn cờ đỏ của bác, đọc để vưà cười lại vừa khóc một mình. Cháu rời VN từ Tháng 4/ 75 nên những bài báo của bác là những hình ảnh sống động vẽ ra cho cháu thấy cảnh sống khốn khổ của người thân mình còn kẹt lại bên nhà. Ðọc để thương nước mình, thương dân mình nhiều hơn. Cháu cảm ơn bác đã viết thiên phóng sự này, và cảm ơn bác vẫn còn tiếp tục Viết ở Rừng Phong  cho cháu được đọc mãi .

Vài hàng tin để bác biết, chúc bác và gia đình nhiều vui khỏe an khang .

 Kính thư

 HV

9 giờ tối Thứ Hai. Miền Tây Bắc Xứ Cờ Hoa

Bác Hà Ðông kính mến,

Bác ơi… có tin vui, lục bài  ra cháu mới biết là cháu có đến 4 bài của bác lận. Ôi.. cháu sung sướng quá. Mấy hôm khi biết bác muốn đọc lại những bài viết cũ, cháu đã tự chửi cháu là ngu quá, đã để dành mà không để dành cho nhiều, hồi đó cháu làm biếng không ráng giữ hết tất cả những bài báo của bác để bây giờ hối tiếc thì than ôi đã muộn rồi!

Cháu cũng thắc mắc sao ông Trần Tam Tiệp lại không giữ lại những bài báo quí giá này? Ðộc giả thì khó mà giữ được, lý do mỗi lần dọn nhà là một lần thanh lọc, tổng vệ sinh, phải vứt bỏ một mớ đồ vật, sách báo cũ, băng nhạc cũ, tất cả a lê cho vào sọt rác dù có tiếc đứt ruột; ở apartment thì còn có thể bê bối chứ mới mua cái nhà cả mấy trăm ngàn mà ôm cái đống đồ cũ đó vào nhà thì mất mặt bầu cua quá xá… Không ngờ có ngày tóc lấm chấm bạc lại nhớ những món đồ cũ đó mà xót sa, nhất là tiếc những tờ báo năm xưa, đôi khi tình cờ mò ra đâu đó được tờ báo cũ là vồ lấy đọc ngấu nghiến.

Tin vui thứ hai: nghe bác nói bác sẽ gõ lại những bài viết này, thêm lời phụ đề năm nay 2005 của bác rồi cho đăng báo lại, cháu cảm động quá. Vậy thì cháu sẽ phụ với bác, hai bác cháu cùng gõ bài cho vui và cho nhanh, nhà cháu cũng sẽ phụ một tay.

Nghe bác kể lúc bác viết những bài đó bác sợ hãi vì có thể bị nguy hiểm như thế nào cháu thương quí bác hơn. Lâu nay cháu vẫn muốn biết làm sao bác gửi những bài viết này ra ngoại quốc được? Ai mang đi gửi cho bác? Ai mà dám làm việc đó?

Mấy tuần nay cháu không được đọc bài Viết ở Rừng Phong nào của bác, vì cháu làm biếng đi chợ, nếu đi chợ muộn thì hết báo, tờ báo Sàigòn Nhỏ chạy quá, bác ạ, phải đi chợ sáng Thứ Bẩy chứ chiều mới đến là coi như hết báo, thế là cháu phải đợi bài  lên Net mới đọc được, hay là đợi mượn tờ báo bên nhà ông anh cháu. Mùa hè lu bu nhiều chuyện nên cháu hơi lơ là trong việc đi chợ lấy báo. Nếu bác có bài Viết ở Rừng Phong tuần trước và tuần này, xin bác gửi cho cháu.

Bác nhớ câu này không:

Trăm nghìn gửi lậy tình quân
Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi…

Bác mà đăng lại bài có câu đó với lời phụ đề 2005 thì đọc lại cháu sẽ là người khóc trước nhất.

Cho cháu gửi lời hỏi thăm cô Alice, cháu nhớ nhất là Kiều Giang.

Kính quí,

HV

Mời quí vị đọc, và đọc lại nếu quí vị đã đọc, bài tôi viết năm 1982:

SÀIGÒN CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

Dương Hồng Ngọc Viết Từ Thành Phố Hồ Chí Minh

Anh có một cặp cá tai tượng, khoảng hai mươi con cá vàng, nuôi trong cái hồ nước ngoài sân bếp. Buồn quá không có việc gì làm thì nuôi chơi vài con cá. Vài ngày anh lại ra chợ mua bèo tấm về cho cá ăn.

DƯƠNG HỒNG NGỌC Viết từ Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh đầu truyện trên Nguyệt san Hồn Việt.

Ở những chợ quanh Sài Gòn, có những bà già, em nhỏ chịu khó đi vớt bèo tấm về bán cho những người nuôi vịt, nuôi cá. Một thùng bèo tấm bán hết ít nhất cũng được 10 đồng. Làm nghề này không cần vốn, chỉ mất công, hôm nào hàng họ có ế cũng không sợ lỗ, vì bèo để hôm sau vần còn tươi, còn bán được. Mỗi lần mua bèo, anh thường mua 50 xu tức 250 đồng cũ, bọn VC đổi 1 đồng tiền của chúng lấy 500 đồng của tam đồng bạc Quốc Gia VNCH của ta, anh mua bèo tấm về cho cá ăn.

Sáng nay khi đi qua chợ anh phải dắt xe đạp, vì vỉa hè trước chợ bị bà con chiếm kín để bán hàng, người đi bộ cũng phải đi dưới đường. Sài Gòn hiện có 3 triệu xe đạp, 1 triệu xe xích lô đạp. Mới có 6 năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mà gần như mọi người dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có được mỗi người một chiếc xe đạp, mười năm nữa thôi những người dân ấy sẽ tiến lên, mỗi người sẽ có một chiếc ô tô bương. Thành phố rất vui nhộn và hoạt động, vì đầy người đi xe đạp. Nhưng sáng nay, sở dĩ anh đi mua bèo cho cá vất vả hơn mọi lần vì con đường qua trước chợ đã chật, đã luôn luôn đầy người nhất là vào những buổi sáng, riêng sáng nay lại còn kẹt hơn vì ở đó có nhà có đám ma.

Nhà có đám ma sắp động quan, con cháu tràn ra vỉa hè và xuống đường, khăn trắng, khăn vàng. Xe tang đậu bên đường, hai dàn nhạc một ở đầu xe tang, một ở cuối xe tang. Dàn kèn Tây với đủ trombone, trompette, clarinette, trống cà rùng, một dàn kèn Bát âm tò tí te dân tộc. Hai dàn kèn Tây Ðông thi nhau trình tấu. Ở Sài Gòn bây giờ, muốn nghe nhạc kèn đồng chơi những bài Paloma, La Cumparsita, Lô-ve-sì-to-ri v.v… người ta chỉ việc đi theo những đám ma có dàn kèn. Trước 1975 nhiều đám ma ở Sài Gòn cũng có những dàn kèn đồng đưa đi như thế, nhưng ngày đó chúng ta điên đầu, nhức óc vì những băng nhạc, chúng ta vất vả vì công ăn việc làm, nên mỗi lần đi đường gặp đám ma là chúng ta tìm đủ mọi cách chạy cho mau, tránh cho xa, lỉnh sang đường khác để tránh nạn kẹt xe. Sáu năm rồi những máy quay băng không còn nữa, chúng ta ít có dịp được nghe nhạc kèn đồng nên chúng ta đâm ra thèm. Dàn kèn đám ma thường biểu diễn cả  bài Nắng Chiều ngày xưa em thích:

… Qua bến nước xưa… lá hoa về chiều…

Dàn kèn đồng, thường thuộc các phường có nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Anh mù tịt, điếc đặc về âm nhạc nên anh có cảm tưởng như các nhạc công Kèn Ðồng Ðám Ma nay toàn là những nhạc công nhà nghề, biểu diễn thần sầu, quỉ khốc, nhạc công Mỹ Ðen New Orleans trước đây anh thấy trong phim xi-la-ma chơi kèn đồng cũng chỉ cừ đến thế là cùng. Nhiều dàn kèn đưa đám ma chuyên nghiệp, có tổ chức đàng hoàng, có đồng phục đen, đi giày da, có cả những anh dẫn nhạc cầm gậy múa may, tung gậy lên, bắt lại, kiểu các em Marjoret của các dàn nhạc kèn đồng ở Mỹ, trông đẹp, vui ra gì.

Sáng nay, khi dắt xe qua cửa nhà đám ma, anh nhìn tấm ảnh chắc vừa phóng đại đêm trước, để trên xe tang, thấy người ra đi là một bà cụ già vấn khăn kiểu Bắc kỳ di cư, nếu bà cụ có chụp tấm ảnh này 20 năm trước thì khi chụp chắc bà cụ cũng đã phải 80 tuổi. Anh tức cảnh sinh tình, vừa dắt xe đi vừa làm bốn câu thơ:

Cả đời chẳng biết tiếng tò te
Chết rồi, tai điếc lấy gì nghe?
Con cháu mừng rơn, con cháu khóc
Tò le nhạc trổi bản Lô-ve

Anh mở đầu cuộc kể chuyện bằng một chuyện đám ma là có chủ ý. Các cụ ta có câu “sinh dữ, tử lành” sao anh thấy hay quá, đúng quá. Trời đất này, chẳng cứ gì ở Sài Gòn hay Bắc Kinh, mà là ở khắp thế giới, dân số gia tăng vòn vọt, người ta nhung nhúc, nhiên liệu cạn dần, diện tích đất đai để canh tác thâu hẹp so với số người cần đào đất để ăn. 20 năm trước trên báo Paris Match có đăng phóng sự kèm hình ảnh ở Ấn Ðộ người ta muốn nhân dân giảm chửa đẻ, vì dân số đông qua rồi, chính phu khuyến khích đàn ông “treo chim,” – cắt ống dẫn tinh – những trạm y tế “treo chim” lưu động được mở ở những nhà ga, cửa chợ. Ðàn ông vào “treo chim” không những miễn phí mà còn được chánh phủ tặng tiền, ai  không lấy tiền thì có quyền lấy cái radio transistor về nghe nhạc chơi cho đỡ buồn. Chuyện dân số khủng hoảng cũng như các cuộc lạm phát võ khí hạch tâm hiện nay chắc ở bên ấy em biết rõ hơn anh. Vậy anh chỉ nói chuyện ở đây thôi. Ở đây “tử” là một vấn đề khó khăn, phiền nhiễu mà “sinh” lại là vấn đề gay cấn, dữ dội hơn. Chết thì chỉ phải lo có một lần thôi, xong là hết, còn sinh ra một tí nhau là phải lo dài dài. Một hộp sữa Nestlé thứ thiệt, nhập khẩu hiện được bán ở vỉa hè Thành Hồ với giá 40 đồng, một hộp sữa bột Vitalait bán với giá trên 200 đồng. Lương công nhân nhà nước trung bình một tháng là 200 đồng, cộng 12 ký gạo mua rẻ theo giá cung cấp 40 xu một ký. Người công nhân đẻ con lấy gì nuôi con? Trong gia đình người nào cũng phải làm, mà đi làm cũng vẫn không sao đủ ăn. Em hãy nghe lời ca một bài hát phổ biến của Xã Hội Chủ Nghĩa Miền Bắc Việt Nam:

Cháu lên ba…  cháu vô mẫu giáo

Cô thương cháu…  cháu không khóc nhè
Sáng ban mai…  cha vào nhà máy
Mẹ trồng rau trái… ông bà lo cấy cầy
La lá la… Lá la… la…la

Cô dâu Sài Gòn những năm 1982, 1983.. Em vẫn khăn voan, vẫn xuyến vàng.. Những năm này bọn Cộng chưa mở cửa nước cho ngoại nhân vào cưới vợ Việt đưa đi.

Người nữ công nhân XHCN có con nhỏ buổi sáng phải dậy sớm từ 5 giờ, nấu cơm cho vào lon guigoz – ở miền Bắc là cho vào bao nylon – để chồng và mình mang đến công xưởng ăn trưa, đạp xe máy đưa con gửi ở nhà giữ trẻ, chiều 4 giờ 30 tan xưởng phải ghé chợ mua mớ rau, miếng đậu, qua nhà trẻ đón con, về nhà nấu cơm. Ði về một ngày hai lượt, mỗi lượt mất cả tiếng đồng hồ. Ðường xa, xe đạp tã, xe hư không có tiền thay đồ mới. Bởi vậy, những người công nhân ở miền Bắc mới có câu mô tả đời sống của họ như sau:

Ăn cơm qua loa, mặc áo chuyên gia, đi xe cố vấn

Em đoán, em hiểu câu đó muốn nói gì? Em không thể hiểu hay đoán đúng được, ngay anh sống ở đây đã 6 năm, khi được nghe câu nói đó và được hỏi là hiểu ra sao, anh cũng giải nghĩa nó ra như vầy:

–  Người công nhân miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ăn uống qua loa thôi, tức là ăn uống ít, làm việc với tư cách là chuyên gia, chuyên viên, đi làm thì đi nhờ xe của các cố vấn khối Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhưng hiện thực  trong câu đó được giải đúng như thế này:

–  Ăn cơm qua loa là ăn tập thể trong công xưởng, đến giờ ăn thì có loa phóng thanh báo giờ ăn, mặc áo chuyên gia là … chuyên mặc áo da, tức cởi trần, quần xà lỏn, đi xe cố vấn là đi xe đạp vỏ ruột xe bị vỡ banh ta-lông, lòi phèo, không có tiền thay vỏ mới phải lấy dây cao su quấn lại đi tạm.

Ðó là chuyện đời sống công nhân, còn đời sống nhân dân thành phố Hồ chí Minh thì khác hẳn. Ðời sống ở thành phố này đầy những mâu thuẫn, những sự kiện trái ngược hẳn nhau, muôn mặt mà mặt nào cũng đầy nhũng dễ hiểu và khó hiểu. 80% dân thành phố không làm  qua một việc gì cả, không ai kiếm ra tiền. Có nhiều người như anh từ 6 năm nay không kiếm ra được một xu. Ai cũng kêu đói khổ nhưng các quán ăn, quán nhậu mọc lên như nấm, quán cà phê, quán chè chiếm hết vỉa hè, chỗ ăn uống nào cũng đông nghẹt những người khi chiều xuống và nắng tắt. Có những quán thịt cầy mà muốn ăn người ta gần như phải tranh cướp chỗ ngồi, giành giựt từng đĩa chả, tô rựa mận. Mỗi đĩa cầy tơ 5 đồng, một tô bún bò giò heo 8 đồng. Phở thì tạm kể 4 tiệm phở có tiếng, đông khách nhất: Phở Tàu Bay vẫn ở chỗ cũ đường Lý Thái Tổ, phở Hòa vẫn ở chỗ cũ đường Pasteur, phở Colette ở khoảng giữa trường Colette cũ và bệnh viện Da Liễu đường Hồ Xuân Hương, đây là tiệm phở mới mở sau 1975, phở Bắc Huỳnh ở nhà ga Ðà Lạt di tản xuống nay ở đường Võ Tánh cũ, cạnh cà-phê Hòa gần Nhà Thờ Phú Nhuận. Hiện nay đó là 4 tiệm phở đông khách nhất của Sài Gòn. Phở Hòa mỗi ngày tiêu thụ 200 ký thịt bò. Phở Colette là nơi có nhiều Việt Kiều Yêu Nước Ngoài về thăm quê hương đến ăn. Ở những tiệm này giá mỗi tô standard là 10 đồng, một tô extra-qualité là 12 đồng – 5 đồng, 6 đồng một tô phở nghèo, người Sài Gòn vẫn ăn như điên. Thuốc lá 555 bán lẻ 3 đồng một điếu, Lucky Strike, Pall Mall 2 đồng 50 xu một điếu, người Sài Gòn vẫn hút rất tỉnh. Một bộ đồ jeans gồm 1 blouson, 1 quần jeans hiệu Tegwood hay Levi’s loại  được bán với giá 2.000 đồng : 1 triệu đồng cũ, người Sài Gòn vẫn mua tỉnh bơ.

Và đám cưới – Bây giờ là những tháng cuối năm, bây giờ là mùa cưới ở Sài Gòn. Vào những sáng chủ nhật nếu em đạp xe đi trong dòng xe đạp cuồn cuộn như nước trên một con đường dài nào đó của Sài Gòn, như đường Trần Hưng Ðạo, đường Lê văn Duyệt nay là đường Cách Mạng Tháng 8, em có thể gặp 3 đám rước dâu. Cô dâu vẫn đến những nhà trang điểm cô dâu trước khi lên xe bông. Và vẫn xe bông Hoa Kỳ Chevrolet sơn đỏ trắng uống xăng như uống nước. Những  chiếc xe này nằm ụ một thời mấy năm, nay được sưả sang, lại có khách mướn. Giá một lít xăng do Nhà Nước bán ra cho dân hiện nay ngang với giá chợ đen, có khi còn đắt hơn giá chợ đen nữa, là 25 đồng. Giá mướn xe bông hiện nay là 300 đồng một giờ. Nhà đám thường mướn xe nhiều nhất là 2 giờ đồng hồ, vừa đủ thời gian rước dâu, đưa cô dâu, chú rể đến nhà thờ làm lễ nếu có đạo, đưa cô dâu chú rể đến nhà hàng. Tới nhà hàng là trả xe vì ăn uống xong, tan hàng, mạnh ai nấy về bằng mọi phương tiện vận chuyển, cô dâu có thể về bằng Honda với chú rể, các cụ về bằng xích lô đạp. Có lần anh gặp nguyên một đám rước dâu đi trên một chiếc ô tô buýt. Cô dâu mang vương miện, voan trắng, bao tay trắng, ngồi với chú rể vét-tông cà-la -hoách ở ghế đầu, gần tài xế. Tiện gọn mà vẫn đẹp như thường. Ít tiền thì rước dâu bằng xe lam cũng thuê giờ. Nhưng đa số đám cưới cô dâu vẫn đi bằng xe bông Huê Kỳ .

Sáu năm cả nước xếp vào hàng
Cứ tưởng bà con đói cả làng
Ai ngờ đám cưới Em ra rít
Em vẫn khăm voan vẫn xuyến vàng

Sáu năm vất vả ởThành Ðồng
Cứ tưởng rằng em ế chổng mông
Ai ngờ đám cưới em ra rít
Em vẫn xe bông vẫn pháo hồng

Những nhà hàng chuyên tổ chức tiệc cưới lớn nhỏ ngày xưa Văn Cảnh, Lê Lai, Á Ðông, Bát Ðạt, Ngọc Lan Ðình ..v.. v.. nay là Quốc Doanh, thuộc quyền nhà nước quản lý và kinh doanh, xong đa số người làm cũ vẫn còn được ở lại làm, những nhà hàng này vẫn nhận đám cưới ăn uống linh đình theo giá ngoài thị trường, tức là theo giá chợ. Cán bộ, công nhân viên nếu làm việc ở các cơ sở, cơ quan nhà nước, khi lấy vợ, lấy chồng, nếu có giấy giới thiệu của cơ quan và khéo xoay xở, được giảm tiền một phần nào, được mua một số thuốc lá, nước ngọt theo giá Nhà Nước cung cấp, để đãi khách.

Chưa bao giờ câu “gạo châu, củi quế”  lại đúng cho bằng ở Thành Hồ hôm nay. Người ta thường nói gạo thịt đắt như vàng nhưng theo anh thì gạo thịt đắt hơn vàng. Em bỏ 18.000 đồng ra mua một cây vàng, nhưng vàng còn nguyên đó, nửa năm sau cần tiền em bán đi, có thể em sẽ thâu về được 25.000 đồng. Còn gạo thịt em mua về thì hôm sau nó tiêu tan ngay.

Anh mù tịt về chính trị, lại điếc lòi về các vấn đề kinh tế, xã hội, cãi nhau thì chuyên môn lý sự cùn, gàn dở. Về mặt con người thì anh thuộc loại “phú quý tất dâm, bần tiện tất di, uy vũ tất khuất” – có tiền bạc, được giàu sang là anh ăn chơi, dâm dật ngay, vì có tiền mà không ăn chơi thì để tiền làm gì, rơi vào cảnh bần tiện là anh thay đổi ngay tính nết, anh hèn ngay lập tức, nghèo hèn mà kiêu căng, phách lối thì chỉ là đồ ngu xuẩn, đáng khinh, đáng thương chứ không đáng kính phục, nhất là ở vào thời loạn, thì chỉ tổ chết uổng, kẻ thù sẵn sàng giết mình, nó lại có dao, súng, thì anh phải chịu khuất phục nó thôi, không có gì anh hùng trong việc liều mạng đánh lại thằng ác ôn có súng, nhất là khi thằng ác ôn ấy lại là thằng cộng sản. Ở Sài Gòn của chúng ta trước đây có biết bao nhiêu anh trọc phú bây giờ nằm dài trong tù, tài sản mất hết, bao nhiêu  của chìm, của nổi nhờ bóc lột người khác, nhờ gian manh, nay đổ xuống sông, xuống biển hết.

Người nghèo không có ăn phải ăn mắm, mút dòi là chuyện tất nhiên, không có gì để chúng ta phải nói cả, nhưng bọn nhà giàu mà keo kiết, bủn xỉn, suốt đời chỉ muốn vơ vào túi tham không đáy, vơ vét của thiên hạ không bao giờ thỏa mãn, thì không ai có thể bênh vực được. Chưa bao giờ anh thấm thía câu “tiểu nhân chết vì lợi, nhà giàu chết vì của, người có danh tiếng chết vì cái danh của mình” bằng lúc này.

Nhiều lần ngồi uống rượu với nhau trên vỉa hè, những lúc ngà ngà say, bọn anh sau khi nói đủ thứ chuyện trên trời, dưới biển, thường nhắc lại những đoạn tình sử trong Ðồ Long Ðao, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ và Tam Quốc Chí. Nhiều lần anh nghe các bạn anh ba hoa chít choè về bài thơ mở đầu và kết thúc truyện Tam Quốc. Bài thơ chữ Hán có mấy câu đại ý nói “bây giờ chỉ còn thấy nước sông Trường Giang cuồn cuộn chảy, những người anh hùng đã chìm đắm đâu mất hết.” Anh thấy các bạn anh tỏ ra cảm khái vì câu thơ đó. Có lần anh nói bài đó có gì đặc sắc, đọc một trăm bài thơ Ðường thì có đến 99 bài cảm hoài, tiếc thương việc cũ, than thở đời sống phù du, hư ảo qua mau, cái bài mà tao thấy hay nhất, thấm thía nhất trong Tam Quốc là bài thơ mà một số người ngồi trong quán rượu bên đường ngâm với nhau trong khi Lưu Bị cùng Quan, Trương đi đến nhà Gia Cát Lượng Khổng Minh, dừng lại nghe và Lưu Bị tin là chắc có Khổng Minh ngồi trong số cao nhân đó. Bài thơ ấy anh chỉ nhớ có 2 câu trong bản dịch của Tử Vi Lang:

Hãy giữ thân thôi, đừng thắc mắc
Danh ta muôn thuở mất hay còn…

Vì lợi mà táng thân, việc đó đáng chê thật rồi, nhưng vì danh mà táng thân cũng bị Trang Châu chê luôn. Hàn Tín lòn trôn thằng bán thịt heo ở chợ Hoài Am là chuyện đáng chê  nhưng nếu khi ấy Hàn Tín tức khí, rút gươm ra đâm thằng bán thịt  tất bị nó đánh chết. Lỗi chẳng phải ở thằng bán thịt thất phu mà chính là lỗi ở ông Hàn Tín dở hơi lúc còn nghèo hèn không biết sống theo những điều kiện hèn hạ của mình, đã yếu như sên, không có võ nghệ, không giỏi  kiếm thuật, nhất là không có ý liều mạng, thì ông đeo kiếm làm cái gì ? Thằng bán thịt nó thấy ông có vẻ huênh hoang, nó hạ nhục ông vì cái thanh kiếm ông đeo, nào nó có thù oán gì ông. Ðúng ra là nó dạy ông một bài học đích đáng về phép sống ở đời, phép giữ mình, trong thời loạn khi mạng người rẻ hơn súc vật. Súc vật người ta quí là phải, vì người ta ăn được thịt súc vật, để sống, còn người chết thì người ta còn phải mất công đào sâu, chôn chặt.

o O o

Quí vị vừa đọc vài trang tôi viết trong hai năm 1982, 1983  về Sài Gòn và người Sài Gòn.

Hôm nay, một sáng Tháng Năm 2011, ở Kỳ Hoa Ðất Trích, tôi viết thêm:

Hai mươi năm ba chìm, bẩy nôi, chín lênh đên, hai lần 8 năm tù tội ở Sài Gòn, khi sang được Kỳ Hoa, một trong những thất vọng của tôi là tôi không được thấy, không được đọc những bài tôi viết hai mươi năm xưa.

Trần Tam Tiệp ở Paris không giữ được những bài viết của Dương Hùng Cường, của tôi, vì năm 1998 anh bị đột quị rồi bại liệt nửa người, anh sống trong căn phòng kê vừa cái divan, cái TV để trên cái bàn nhỏ, sách báo của anh bị bỏ đi hết.

Tôi có nhiều bài đăng trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong của ông Hồ Anh, trên tờ Ðất Mới thời các ông Thanh Nam, Mai Thảo, Vũ Ðức Vinh làm công việc biên tập. Cả hai tờ báo này cùng không giữ những số báo 20 năm xưa.

Tôi gửi bài đi qua Bưu Ðiện, để tên người gửi và địa chỉ giả. Nhiều lần đến Bưu Ðiện Sài Gòn gửi thư đi, tôi dừng xe đạp trong những đường vắng, như đường Tú Xương, xem có tên công an nào đi theo không. Khi ta ngờ và dò chừng, có công an VC đi theo ta biết ngay. Gửi năm bẩy lá thư sang Mỹ, Pháp, Úc, nhiều lần gửi xong tôi ngẩn ngơ như người gửi các con của mình đi ra biển mà không biết chúng có tới bến hay không. Năm 1983 nhờ Trần Tam Tiệp, anh em chúng tôi có cô Nguyễn Thị Nhạn, nhân viên Bưu Ðiện Sài Gòn, giúp trong việc nhân sách báo Tiệp gửi về, chuyển thư, bản thảo của chúng tôi sang Tiệp ở Paris mà không sợ bị bọn kiểm duyệt chặn xem thư. Khi chúng tôi bị bắt, cô Nguyễn Thị Nhạn cũng bị bắt. Ra tòa, vì tội giúp chúng tôi,  cô bị án tù khổ sai 5 năm.

Trăm nghìn gửi lậy tình quân
Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi…

Hai mươi năm rồi, tôi không nhớ tôi viết hai câu Thơ ấy trong bài nào, tôi nhớ đó là lời tạ lỗi vì tôi không có can đảm viết kể tội bọn Cộng nhiều hơn.

Chưa hết chuyện Sài Gòn có gì lạ không Em?

Advertisements

5 Responses

  1. Tuyệt, tuyệt nhất là bạn HV. Giờ tìm đâu cho có những người nầy.

  2. 7/6/2011

    Kinh CTHD,

    Rat cam on duoc doc bai viet nam xua cua ong, qua la danh bat hu truyen, rat la sung man, y tu nhip nhang, noi dung quyen chat vao nhau. Thao nao bon VC, no thu va lam tinh lam toi ong. Nhat la bon van si ngoai ay, mac cam thua kem ve van phong lan tu duy, toi khong noi ngoa – Nguyen Khai chi dang theo hau ong hoc cach viet van, toi doc cua ong ta may quyen ma chan nhu com nep nat, noi bay mot chut la vua D vua run, nen sao ra duoc tac pham hay. Rat tiec chi co 1 HHT. Chuc ong luon vui manh de tra het ngiep van cho nguoi doi thuong thuc va nho mai den ong.

  3. Kính bác CTHĐ,

    Hai câu thơ Bác sáng tác:

    Trăm nghìn gửi lậy tình quân
    Tấc lòng can đảm có ngần ấy thôi…

    mà cô HV nào đó nói nếu được Bác đăng lại sẽ là người khóc trước nhất tưởng chừng như lời than thở của một mối tình không trọn vẹn…

    Nhưng nghe Bác kể lại chuyện cô Nguyễn thị Nhạn và chú thích của Bác về ý nghĩa của hai câu thơ, tôi lại càng cảm thông tình cảnh của đời sống dân chúng Sài gòn của thập niên 80, 90 biết dường nào. Rời VN giữa năm ’79 đã từng sống với Cộng sản hơn bốn năm và qua thư từ của gia đình gửi từ VN những năm sau đó tôi thấy Bác CTHĐ như là một máy quay phim hay chụp hình rất sống động về nỗi cơ cực của người Sài gòn sau ’75. Chuyện đáng buồn là vì quá cực khổ dưới sự tàn ác và khủng bố của Cộng sản, ít người còn có tinh thần và can đảm dể chụp lại những thước phim quý giá đó làm bằng chứng tố cáo tội ác của bọn Cộng cho đời sau học hỏi và kết án. Thử hỏi những thế hệ thanh niên VN sinh ra sau này có ai biết đến chuyện ăn bo-bo, đánh tư sản, kinh tế mới, thanh niên xung phong, vượt biên v.v… mà Cộng sản đã phát động để bần cùng hóa dân Sài gòn ra sao ? Chắc ít người hiểu được những chuyện đó. Nói gì những kẻ chưa hề sống dưới chế độ kềm kẹp của Cộng sản một ngày. Không có những người viết lịch sử trung thực thì những sự tàn ác dối trá của Việt cộng theo thời gian sẽ tan biến, và nhiều người sẽ tiếp tục bị lừa gạt nữa. Nhìn tấm hình cô dâu Sài gòn những năm 1982, 1983 lại thấy mủi lòng cho thân phận của những cô dâu lấy chồng Đài loan, Hàn quốc sau này.

    Bác CTHĐ là một người rất can đảm nhưng cũng rất thật với chính mình biết là sức mình có hạn, khi nói không thể viết kể tội bọn Cộng nhiều hơn. Sự thành thực với cá nhân khi phân tích tâm lý con người ở cuộc sống trong những tình huống khác nhau dễ làm người đọc cảm thông và yêu Bác hơn. Có điều gì uất nghẹn giống nhau của người dân Sài gòn sau ’75, cùng khổ mà không được than vãn và người dân Sài gòn bây giờ, nhục nhã trước sự chèn ép ngang ngược của Tàu Cộng mà không được biểu lộ sự bất bình ?

    Mến chúc Bác CTHĐ luôn được nhiều sức khoẻ để hàn huyên với độc giả mãi mãi.

  4. Nói đến đám tang trong bài này tôi mới liên tưởng đến những đám tang năm xưa, hồi tôi còn ở Sài gòn. Đám tang thì luôn treo ảnh của người mới chết để mọi người tỏ lòng kính trọng . Đó là vì người quá vãng ít ra cũng có liên hệ với tang quyến và những người đến tiễn họ lần cuối .

    Tuy nhiên, toàn thể miền Nam sau ngày mất nước đều phải treo hình một tên lường gạt khét tiếng. Tên này đã chết từ lâu và dù chả ai quen biết hoặc thân thuộc gì với y, nhưng đàn em của tên này bắt mọi người phải treo ảnh của hắn quanh năm trên tường, ở một chỗ đẹp đẽ tôn nghiêm nhất nhà.

    Nói thiệt, tấm ảnh của y luôn làm cho người nhìn chỉ muốn phỉ nhổ và lộn mửa. Lộn mửa hơn nữa là cái mặt cười cười đểu giả của hắn trước muôn vàn cảnh khổ của chủ nhà do đàn em của hắn gây ra. Dân càng đói, hắn cười càng tươi!

    Có cần phải “thành khẩn khai báo” tên tuổi của tên vô lại này không, các bác?

  5. Kinh chao bac HHT.
    doc Sai gon co gi la khong em bong boi hoi nho lai thoi ky den toi tai Cu xa tu do va toan Viet nam luc do.Mong doc nhung hoi uc cua Bac trong giai doan nam nha cho qua cua bac> Chu Bac cung gia quyen an khang, binh an trong tam hon.
    Cuu hang xom cua Bac

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: