• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Sài Gòn Có Gì Lạ Không Em (Bài 2)

Sài Gòn ngày xưa có “dân chơi, dân thầy, dân thợ, dân ngu..” Bắc Cộng đưa Già Hồ dzô, Sài Gòn có thêm “Dân Oan.”

Dương Hồng Ngọc Viết Từ Thành Phố Hồ Chí Minh năm 1982. Bài đăng trên Nguyệt San Hồn Việt  ở Cali, Kỳ Hoa cùng trong năm 1982. Bài viết nhỏ này, từ trong nước gửi ra, đã có tuổi đời gần 30 năm.

Trời làm một cuộc bể dâu…

Chẳng phải “Trời” làm mà là “Người” làm. Thi sĩ Nguyễn Du đổ tội cho Trời nhưng cứ đọc Kiều, tôi thấy mọi việc trong đó đều do Người làm, chẳng thấy Trời đâu cả.

Sau cuộc bể dâu, Sài Gòn, được những người Việt Bắc Cộng gọi là Thành Ðồng Tổ Quốc, mang cái tên mới  là Thành Phố Hồ Chí Minh. Với 30 triệu công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, Sài Gòn “bị” đổi tên, một số đường phố Sài Gòn cũng bị đổi tên. Sáu năm đã qưa, em ở xứ người bên kia biển chắc em cũng biết một số tên đường mới của Sài Gòn nên anh chỉ kể sơ sơ vài thay đổi em nghe, gọi là một chút tin sầu muộn về thành phố em đã ra đời, đã lớn lên, đã yêu đương, đã nhớ thương và đang thương nhớ.

  • Tự Do: Ðồng Khởi
  • Công Lý: Nam Kỳ Khởi Nghĩa
  • Phan Thanh Giản: Ðiện Biên Phủ
  • Hồng Thập Tự : Xô Viết Nghệ Tĩnh.
  • Thống Nhất: Lê Duẩn
  • Lê Văn Duyệt: Cách Mạng Tháng Tám
  • Trần Quốc Toản: 3 Tháng 2
  • Hiền Vương: Võ Thị Sáu
  • Trương Minh Giảng: Nguyễn Văn Trổi
  • Võ Tánh (Gia Ðịnh): Hoàng Văn Thụ
  • Chi Lăng: Phan Ðăng Lưu

Anh không thể biết hết, nhớ hết tên những đường phố Sài Gòn bị đổi tên nên ngay lúc này anh chỉ có từng ấy tên đường để kể em nghe. Chợ Cá Trần Quốc Toản vào năm 1976-1977 trở thành Chợ Xe Ðạp. Nhân dân Sài Gòn trước kia không mất công chế tạo những bộ phận xe đạp, xe Honda, vì những bộ phận rời này nhập cảng vừa tốt, vừa rẻ, chế đồ lô bán cho ai, có khi đồ lô chế ra giá thành còn cao hơn cả giá đồ ngoại. Nhưng sau 1975, dân Sài Gòn trở lại phong trào đi xe đạp của 30 năm trước. Nhân dân Sài Gòn chế tạo toàn bộ xe đạp. Tất nhiên là không thể tốt bằng xe ngoại quốc nhưng cũng không đến nỗi quá tệ. Xe đạp do tư nhân Sài Gòn chế tạo tốt hơn cả xe đạp quốc doanh, tức là xe do công xưởng Nhà Nước sản xuất. Những người miền Bắc vào Nam, ai có nhiều tiền thì mua xe Honda, tivi, tủ lạnh, radio cassette, ai nghèo cũng cố gắng bắt một chiếc đồng hồ Seiko hay Orient, một xe đạp. Nhiều người mua bốn, năm cái xe đạp, tháo rời, đem về Bắc bán, lấy lại tiền ăn đường và kiếm lời. Chợ Xe Ðạp Trần Quốc Toản phồn thịnh được khoảng 2 năm thì vào một buổi sáng đẹp trời bị đủ thứ công an, cán bộ thuế, Thanh Niên Xung Phong, ập tới bao vây bốn mặt, vào tịch thu hết hàng xe đạp bày bán trong chợ. Nói đúng ra là kiểm kê và mua lại nhưng mua theo giá Nhà Nước thì nhiều lắm là bằng hai phần mười thực giá của các thứ hàng. Chợ Xe Ðạp bị dẹp luôn. Thay vào đó người ta xây lên một tòa nhà khang trang gọi là Khu Triển Lãm Công Nghệ. Nếu có ngày nào em ở trong đoàn “Việt Kiều Yêu Nước Ngoài” về thăm quê hương, có thể em sẽ được tới đây và em sẽ lóa mắt vì những sản phẩm bày trong đó, tất cả đều là sản phẩm sản xuất, chế tạo ngay tại thành phố Hồ Chí Minh, cái gì cũng có, cái gì cũng tốt, cũng đẹp. Ðó cũng là chuyện thường thôi. Thủ tục này đã quen thuộc với dân Hà Nội, nay nó cũng trở thành quen thuộc với dân Sài Gòn. Trước ngày phái đoàn đến thăm khu triển lãm, người ta dọn dẹp, quét tước, treo bảng, căng băng-đơ-rôn. Người ta đem đến đó bầy đủ thứ máy may, máy nổ, xe đạp, bộ phận xe Honda, vải, lụa, bút giấy, giầy dép, nồi niêu soong chảo v…v…  Phái đoàn đến xem xong, phấn khởi hồ hởi ra về, người ta dọn dẹp, cất những món đồ đó vào kho, chờ đến lúc cần phải trưng bày lại đem ra. Một anh bạn ở miền Bắc vào Sàigòn chơi, ngay từ năm 1975, đã nói với anh:

“Việt kiều ở nước ngoài về thăm quê hương, được mời đi xem các thứ hàng sản xuất trong nước, ai cũng thích, cũng phục, vì sản phẩm nào mình cũng làm được, cũng tốt, cũng đẹp. Nhưng đó chỉ là những mặt hàng bày chơi thôi, làm gì có mà bán cho dân… ”

Sài Gòn 2010: Công an Việt Cộng tát tai người dân ở giữa đường.

Chợ Trời Sài Gòn trong 6 năm qua bị hốt, cho mở lại, dẹp, cho bán lại, cho đóng thuế, hốt, mở v…v…   tái sinh, tái tử nhiều lần, hiện lúc này được mở rải rác nhiều nơi nhưng không còn nhiều hàng cũ như trong những năm từ 1976 đến 1979. Ðường Huỳnh Thúc Kháng bán radio, cassette, tivi, cạnh đó là con đường có rạp xi nê là khu bán sữa, thịt hộp, bơ, rượu Tây, sâm nhung, trà Lipton, cà phê bột Nescafe, bật lửa Bic mỗi tệp đựng bốn, năm chiếc treo đầy các quán, vỉa hè Lê Lợi, từ hiệu sách Khai Trí cũ đến rạp xi nê Casino, là nơi bán bút viết. Ở đây có đủ các thứ bút ngoại quốc Pháp, Mỹ, Ðức, Nhật. Ðường Tạ Thu Thâu cũ, cạnh chợ Bến Thành là khu bán quần áo jeans. Khu chợ Nguyễn Thông bán đủ thứ mặt hàng ngoại quốc. Chợ An Ðông cũng vậy. Còn thuốc tây, kem đánh răng, xà bông ngoại nhập thì ở bất cứ các chợ lớn nhỏ nào trong và quanh Sài Gòn cũng có.

Tình hình ly kỳ là với thành phố Hồ Chí Minh Xã Hội Chủ Nghĩa hàng ngoại quốc lại nhiều, đẹp gấp nhiều lần thời Sài Gòn Mỹ Ngụy. Thời Sài Gòn trước 1975, Chợ Trời bán đồ ngoại thu gọn ở một đoạn đường ngắn trong khu Nhà Băng Chợ Cũ. Thời ấy, muốn mua một chiếc quần jeans vừa ý, vừa tiền, em phải đi tìm mỏi cẳng. Nay thì chỉ sợ em không có tiền. Vài tháng sau tháng Tư 75, nhìn những gói thuốc điếu Lucky, Pall Mall cuối cùng bày bán, anh nghĩ  khi những gói thuốc này hết đi mình sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn nhìn thấy chúng ở đâu nữa. Không ai có thể ngờ được cái cảnh khi hàng ngoại quốc ào ào đổ về qua Chương Trình Viện Trợ Tư Nhân, thuốc lá Mỹ tràn ngập Sài Gòn, vào tận xó xỉnh hang cùng, ngõ hẻm, át luôn thuốc lá nội hóa. Những thứ lẩm cẩm nhất như bình xịt nách Right-Guard, lotion After-Save, xà bông cạo râu Colgate cũng được gởi về. Có lần anh thấy cả những bình xăng bật lửa Ronsonol, Zippo. Ðúng là thượng vàng, hạ cám, từ những chiếc radio cassette tối tân nhất qua những chiếc xe đạp Peugeot đến những cây bút Bic bán lẻ 10 đồng một cây.

Những người sống sung sướng, ung dung, thoải mái nhất Thành Hồ bây giờ là những người có đồ ngoại quốc gửi về viện trợ. Họ an nhàn ăn chơi, quanh năm chẳng phải làm qua một việc gì khác ngoài việc đi Tân Sơn Nhất, đến Bưu điện, Nhà Imex, lãnh đồ. Những người có nhiều đồ viện trợ này còn sống thơ thới, hân hoan ở điểm họ được thân nhân bảo lãnh chờ ngày HCR gọi đến cho lên Boeing đi đoàn tụ gia đình. Ai sốt ruột thì dư tiền bán đồ mua cây đi chui.

Nếu em sống ở đây và em có đồ viện trợ, em mang soie Pháp đi bán, mỗi thước theo giá khi anh viết những dòng này cho em lên xuống từ 180 đến 200 đồng. Nếu em đi mua, em phải chi 220 đồng một thước. Vải Suissony – Suýt-sô-ni – để may quần Tây – không biết cái tên Suissony này viết đúng như thế nào, là tên thật của vải hay do nhân dân Sài Gòn đặt ra – từ 500 đến 600 đồng một thước, tùy theo màu. Em đừng tưởng dân Sài Gòn xã hội chủ nghĩa ưa mặc quần áo màu đen, màu nâu cho đỡ tốn xà bông, soie Pháp màu đen kém giá soie Pháp các màu khác, vải Suissony may quần Tây màu beige hiện đang đắt giá nhất.

Viết đến đây, anh dừng bút, đốt điếu thuốc, suy tư nửa phút, tự hỏi anh viết cho em những chuyện vật giá, vải lụa vớ vẩn này để làm gì ? Vật giá nay khác mai khác. Khi em đọc những dòng này có thể một mét Suissony đã lên đến bảy, tám trăm. Có điều anh có thể nói chắc là cứ tình hình này, vật giá tại Sài Gòn chỉ có tăng chứ không giảm. Và viết về đời sống ở đây anh không thể không nói đến chuyện vật giá, mặc dầu đó chẳng phải là chuyện lạ. Nói theo Duy vật Mác Xít thì xã hội này tất yếu phải có nạn lạm phát, đã có lạm phát thì vật giá phải tăng. Tại sao lại có lạm phát tiền tệ làm đồng tiền mất giá? Nhà Nước XHCN phải nuôi một số cán bộ, trước kia ta gọi là công chức, và bộ đội, công an để phục vụ bộ máy hành chính Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa hết sức kềnh càng. Số cán bộ các cấp hết sức đông. Những người này tất nhiên là không sản xuất gì cả, và tháng tháng Nhà Nước phải cấp tiền, cấp gạo cho họ. Như thi sĩ Ðỗ Mục tưởng tượng ông lạc vào Cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng, em hãy tưởng tượng em trở về, em đi trong đường phố Sài Gòn, em đi năm trăm thước, em gặp hai trụ sở ủy ban nhân dân phường, hai trụ sở công an phường, hai trụ sở phường đội, một trụ sở  ở dãy nhà bên tay phải em, một trụ sở ở dãy nhà bên tay trái em. Trung bình 300/400 nhà, nay gọi theo danh từ Trung Quốc là hộ, có một anh công an khu vực. Theo sự hiểu biết ABC của anh về kinh tế thì nông dân sản xuất lúa gạo và cần có phân bón, xăng dầu, vải, thuốc, cả thuốc chữa bịnh lẫn thuốc lá, giấy bút cho con em họ đi học, đường sữa nếu có v…v…  Nhân dân ở thành phố phải sản xuất ra những mặt hàng công nghiệp đó để đổi lấy lúa gạo mà ăn, hoặc phải làm ra một thứ hàng hóa gì đó bán ra nước ngoài để mua vào phân bón, thuốc trừ sâu, rầy, xăng, dầu là những thứ trong nước không có mà nông dân thì cần phải có, nếu thiếu họ không thể thâu hoạch được nhiều nông sản để nuôi thân họ và nuôi người khác. Nông dân không thể cứ bán thóc gạo, khoai đậu cho Nhà Nước để lấy một tập giấy bạc về nhà ngồi ôm chơi, họ mang tiền về thành phố mua những thứ họ cần. Khi họ mua một thước vải của dân thành phố với giá 200 đồng, một viên Aspirin với giá 2 đồng, thì họ phải bán con vịt, con gà của họ với giá 70 đồng. Hoặc họ đòi Nhà Nước phải trao đổi: mua gạo rẻ của chúng tôi thì làm ơn đem phân bón, xăng, dầu, thuốc trừ sâu, vải, diêm quẹt, đường sữa, nồi niêu, soong chảo, bút giấy mực về đây bán rẻ cho chúng tôi. Nhân dân thành phố không sản xuất được gì cả, Nhà Nước lấy những mặt hàng đó ở đâu ra mà đem về nông thôn đổi lấy thóc gạo nuôi quân đội, nuôi cán bộ, bán lại cho dân thành phố ? Nhà Nước chỉ còn có cách in giấy bạc và đánh thuế thật nặng bọn buôn bán lẻ, bán hàng ăn uống ở thành phố. Theo lý thuyết, xã hội chủ nghĩa không dung túng giới trung gian buôn bán kiếm lời, tất cả mọi người đều phải sản xuất ra vật phẩm, sản phẩm, chỉ có Nhà Nước mới có quyền buôn bán. Nhưng nay Miền Nam đang ở trong thời kỳ quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa nên nhà Nhà Nước tạm để cho nhân dân buôn bán nhưng đánh thuế thật nặng để cho nhân dân chỉ có thể sống lây lất chứ không thể làm giàu bằng buôn bán được.

Ðến đây, vì dùng đến danh từ “quá độ” – “ Trong thời kỳ quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa” – anh thấy cần phải giải thích về danh từ “quá độ” này. Ngay ở đây anh cũng thấy có nhiều người, kể cả những người có học ở Hà Nội vào, cũng hiểu sai tiếng “quá độ” như là “quá mức”. “Quá độ” là danh từ Hán-Việt, nghĩa của nó chỉ là “qua đò”. Lý thuyết xã hội chủ nghĩa quan niệm xã hội Tư bản chủ nghĩa (capitalisme) ở một bên bờ sông, xã hội Xã hội chủ nghĩa (socialisme) ở bờ sông bên kia. Bây giờ xã hội Miền Nam Việt Nam không còn là xã hội theo Tư bản chủ nghĩa nữa, mọi công cụ sản xuất, tức nhà máy, đất đai, đồng ruộng đều là của nhà nước, hoặc văn hoa và êm tai hơn, của nhân dân, do nhân dân làm chủ tập thể, nhưng cũng chưa hoàn toàn là xã hội theo Xã hội chủ nghĩa, Miền Nam đang ở trên con đò lênh đênh giữa dòng sông, nó đã rời bỏ bờ Tư Bản nhưng chưa sang đến bờ Xã Hội. Ðó là thời kỳ nó đang sang ngang, đang qua đò. Ở miền Nam có danh từ “quá giang”, đôi khi biến là “có gian” cùng một nghĩa như “quá độ”. Nhiều khi đi nhờ xe, chúng ta cũng nói “cho quá giang”.

Anh đã hai ba lần viết là anh cố tránh nói đến những vấn đề chính trị, xã hội, nhưng chẳng đặng đừng. Viết những chuyện tình cho em đọc, anh rất yên tâm, vì anh tự nghĩ anh đã nắm vững những chuyện đó. Viết về những vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, anh không yên tâm chút nào. Ðể anh kể em nghe một chuyện vui vui cho không khí đỡ nặng nề, u ám.

Dân Sài Gòn đã quen với câu cửa miệng được người ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần từ 6 năm nay: Ðảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ!

Trong một gia đình kia có hai vợ chồng, hai đứa con, một bà mẹ. Nói khác đi là có bà nội, bố mẹ và hai đứa con nhỏ. Hai đứa nhỏ được bố nó giải thích như sau:

– Câu “Ðảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ” áp dụng ngay trong nhà ta cũng rất đúng. Bố ví dụ này các con hiểu ngay. Trong gia đình ta, bà nội là Nhà Nước, bà nội quản lý hết mọi đồ vật, mọi việc làm trong nhà, bố mẹ là Ðảng, vì bố mẹ chịu trách nhiệm hết về mọi việc xảy ra trong nhà ta, bố mẹ lo cơm áo cho cả nhà, các con là Nhân Dân, vì tất cả những gì có trong nhà ta mai sau này đều là của các con, vì bố mẹ và bà nội chỉ có mục đích là lo cho các con …

Một hôm anh chồng đi làm về thấy vợ đi vắng, bà mẹ đau nằm rên hừ hừ, hai đứa nhỏ ngồi bí sị. Hỏi thì thằng lớn nói:

– Ðảng đi chơi chưa về, Nhà Nước đau không nấu cơm được, Nhân Dân nhịn đói …

Sài Gòn bây giờ có cả trăm truyện tiếu lâm mới thật hay, thật cay, thật chua, cười ra nước mắt và ca dao, hò, vè. Ða số tác phẩm truyền miệng kiểu văn học dân gian này được nhân dân sáng tác ở miền Bắc, truyền vào miền Nam, chỉ có một số ít được làm ở miền Nam, nhưng văn học dân gian truyền miệng ở miền Nam không thể hay bằng thứ ở miền Bắc. Ngay cuối năm 75, anh đã thấy nhân dân Sài Gòn truyền miệng câu ca dao:

“Khoai lang mắc nước, khoai lang sùng
Lấy chồng bộ đội, chẳng khùng cũng điên
Khổ qua mắc nắng, khổ qua đèo
Lấy chồng lính Ngụy, có nghèo cũng ham”

Năm năm sau, anh thấy ở Sài Gòn có câu:

“Lấy chồng cán bộ thì sang
Lấy chồng lính Ngụy lang thang Chợ Trời”

Văn nghệ dân gian nhiều ý nghĩa và biết là chừng nào. Chỉ cần đọc qua mấy câu ca dao trên thôi, em cũng có thể hiểu tâm trạng của nhân dân Sài Gòn, rồi thấy sự chuyển biến của tâm trạng ấy qua thời gian, không gian, cùng cuộc sống của đám nhân dân ấy, rõ ràng, thấm thía hơn là anh vất vả hì hục viết 50 trang giấy để diễn tả.

o O o

Ðầu năm 1977, anh bán dàn Nhạc Akai được 700 đồng. Sống quẩn quanh một năm rưỡi ở Sài Gòn rồi, anh chị nhớ Ðà Lạt, Vũng Tàu quá – Ðà Lạt thì không thể đi được, vì tiền chi phí quá nhiều, còn Vũng Tàu thì anh chị có thể đi được. Vũng Tàu là nơi anh chị gặp nhau, yêu nhau vào mùa thu năm 1954 . Có tiền bán dàn nhạc Akai, anh chị bèn đi chơi một chuyến Vũng Tàu 3 ngày Trong những lần đến Cấp trước đó, anh chị thường đến ngụ ở khách sạn Kim Ðiệp. Lần này đến Vũng Tàu, khách sạn Kim Ðiệp bị sung công, trở thành nơi tiếp đãi du khách nhà nước, anh chị không phải là du khách nhà nước nên phải đến trọ ở một khách sạn khác nhỏ hơn . Những quán ăn ở bãi trước vẫn còn là của tư nhân, quán đóng, quán mở. Anh chị đến Quán Hòa Bình, nơi anh chị vẫn đến ăn mỗi lần tới Vũng Tàu. Ông bà chủ quán Hòa Bình coi anh chị là khách quen, mỗi lần anh chị đến là ông hay bà  ra ngồi bàn trò chuyện  mặc dầu ông bà không biết tên anh chị .

Một lần, vào năm 1974, anh chị đang ngồi ăn thì bà chủ quán HB đến bàn hỏi về các món ăn có được vừa ý hay không. Bỗng bà nói:

– Các cô em trong nhà tôi cứ nhìn ngắm hai ông bà. Các cô ấy nói sao hai ông bà đã có tuổi rồi mà yêu thương nhau quá …

Chị nhìn anh, đôi mắt ngạc nhiên như hỏi anh tại sao chúng mình yêu thương nhau mà người ta lại biết ? Anh không lấy làm lạ vì anh biết hai người yêu nhau thường có những cử chỉ, những ánh mắt trìu mến mà họ tưởng rất thường, rất tự nhiên vì họ làm mỗi ngày, người ngoài chỉ cần chú ý nhìn họ là thấy ngay họ yêu thương nhau. Những cặp vợ chồng thù ghét nhau cũng có những cử chỉ, những ánh mắt nhìn nhau mà người ngoài cũng nhìn thấy ngay là họ thù ghét nhau. Tình Yêu cũng như Thù Hận không thể nào che dấu được  .

Trong quán có hai cô em rất được, anh trông mê quá đi, nhưng không dám để lộ ra ánh mắt, anh không dám cả nhìn lâu hai nàng.  Một cô đến bàn nói với vợ chồng anh:

– Chúng em thấy ông bà có hạnh phúc quá … Chúng em ước gì chúng em cũng được như ông bà.

Anh nói láp nháp với cô mấy câu lý thuyết và triết lý về Tình Yêu, những lời nói về Tình Yêu vô thưởng vô phạt. Hôm nay kể lại chuyện đó, anh nhớ anh co nói với cô ta một câu:

“ Muốn được như chúng tôi bây giờ, các cô phải tính ngay từ khi các cô còn trẻ.”

Ý anh muốn nói:

“Các cô phải yêu ngay từ khi các cô còn trẻ. Các cô yêu một người, các cô hy sinh cho người đó.”

Lần này trở lại quán, các cô đã vắng mặt, chỉ còn bà chủ . Thấy vợ chồng anh, bà chủ mừng rỡ ra ngồi bàn, đôi bên hỏi thăm, kể lể với nhau đủ thứ chuyện xảy ra từ 30 Tháng Tư …

o O o

Em hãy đọc những lời thơ này của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, do ông viết vào cuối 75, đầu 76, vài tháng trước khi ông bị bắt, chừng 8 tháng trước khi ông chết:

Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ
Xa nhau nàng vẫn mong chờ
Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành
Biết đâu anh đã trở thành
Xương tan một nắm vô danh bên trời
Bờ sông bãi cát bồi hồi
Ðã khô rồi, đã trắng rồi biết đâu
Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương
Là Nam, Bắc, là Âm, Dương ?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây ?

Anh  buồn phiền, anh đau thương, nhưng nỗi buồn phiền, đau thương của anh còn kém xa nỗi đau, nỗi buồn của nhiều người. Anh tự coi anh vẫn còn đỡ khổ, anh vẫn còn được sống quanh quẩn ở nhà anh với vợ con anh, chân tay anh còn nguyên vẹn, thỉnh thoảng anh  còn được đạp xe ra Bưu Ðiện lãnh những gói đồ Em và các bạn Anh gửi cho …

Sài Gòn hiện có 5 triệu người thì có tới 3 triệu người ngày đêm chăm chỉ và đều đều nghe các đài BBC, VOA, đài Úc. Chưa bao giờ người Sài Gòn lại chăm nghe các đài phát thanh ngoại quốc bằng bây giờ. Nhiều người từ mấy chục năm nay, tuy biết cõi đời này có những cái đài phát thanh gọi là BBC, VOA nhưng không hề nghe bao giờ, như anh chẳng hạn, từ sau tháng Tư 1975 đến nay, cũng xoay cho được một cái radio để nghe tin tức, mặc dầu nhiều khi nghe xong cảm thấy buồn hơn, tuyệt vọng hơn, vì thiên hạ loan toàn những tin tức gì đâu, xa lơ xa lắc, đúng là ở một thế giới nào khác, thiên hạ chẳng nói gì, chẳng nhớ gì đến mình, mình bị rơi chìm vào quên lãng.

Chăm nghe radio để hôm sau, nếu có tin gì hay, gặp nhau bàn láo với nhau. Mỗi đêm đài ngoại quốc có tin gì đụng chạm xa gần đến Việt Nam là sáng hôm sau gần như toàn dân, từ bà hàng thịt ở chợ đến ông thợ hớt tóc, váy tai, đều biết, đều nói và bàn luận, suy diễn. Nhiều người nghe rồi vì một là không hiểu rõ ý nghĩa của bản tin, hoặc nhớ lõm bõm, nhớ sai, thêm suy luận vào, hôm sau loan lại tin đó một cách khác hẳn. Nhiều khi anh nghe BBC và VOA chỉ cốt để sau đó nếu ai nhắc lại tin các đài ấy đã loan một cách sai lạc, anh có điều kiện để nói: “Không phải thế đâu. BBC nó loan như thế này …”

Chuyện này không phải anh bày đặt ra mà là không biết từ nhân dân ai nghĩ ra đầu tiên. Nhiều người gọi BBC bằng cái tên Bà Bánh Chưng, Bà Bán Cháo, Bà Bán Cam và gọi VOA là Vợ Ông Anh. Người ta thường nói với nhau: “Ê … hôm qua Bà Bánh Chưng bà ấy nói …” hoặc hỏi nhau: “Ê … mấy hôm nay Vợ Ông Anh  có chuyện gì hấp dẫn không …?”

Ðêm qua Bà Bán Cam có mục điểm sách. Radio của anh cũ quá, hình như trời lại có bão, nên tiếng radio rè rè thật khó nghe. Ðến mục điểm sách, anh đã định tắt đi nhưng nghe nói cuốn sách nhan đề là “Hollywood – Việt Nam” anh lại cố nằm nghe. Tác giả cuốn sách hình như là Alan Ginsberg thì phải, nếu anh nghe tên không lầm. Sách viết có phê phán những cuốn phim về chiến tranh mà Hollywood đã sản xuất từ 1940 tới 1980, tổng cộng tới ba, bốn trăm cuốn gì đó. Trong số này Bà Bán Cháo kể nhiều đến những gì Ginsberg đã viết về 3 phim nói về Chiến tranh Việt Nam, tức là nói về vụ tham chiến của Quân Ðội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam: The Green Berets, The Deer Hunter và Apocalypse Now.

The Green Berets có John Wayne đóng vai chính được thực hiện vào khoảng những năm đầu 1960 khi Tổng Thống John Kennedy quyết định đưa quân Mỹ vào tham chiến ở  Việt Nam, lập ra đoàn quân riêng đội Mũ Xanh lá cây để làm việc đó. Ngay tác giả Ginsberg cũng phê phán nghiêm khắc phim này vì trong có đoạn tả 40 người lính Việt Cộng thay phiên nhau hãm hiếp vợ và con gái một xã trưởng Việt Nam Cộng Hoà ở thôn quê miền Nam.

The Deer Hunter được làm sau khi Mỹ bỏ của chạy lấy người, Mỹ rút chạy khỏi Việt Nam còn nhục nhã, dơ dáng, thảm hại hơn quân đội Pháp đàng hoàng rút khỏi Bắc Việt Nam năm 1954. Phim The Deer Hunter có đoạn làm khán giả xúc động  là đoạn tả cảnh lính Bắc Việt bắt các tù binh Mỹ và tù binh Cộng Hòa Việt Nam phải cầm súng lục trong có nạp 1 viên đạn, kê lên mang tai bóp cò, để họ đặt tiền đánh bạc với nhau căn cứ trên việc súng sẽ nổ hay không nổ.

Muốn chơi cái trò gọi là roulette russe này, người ta phải có loại súng lục revolver, thường gọi là súng rouleau, có trái khế, kiểu súng cao bồi Mỹ, súng của cảnh sát Sài Gòn cũ hoặc súng của các nhân viên FBI dùng. Quân đội nước Xã Hội Chủ Nghĩa nào thì anh không biết, riêng quân đội Bắc Việt Cộng thì không có súng lục rouleau, các sĩ quan của họ  dùng súng K54 do Tiệp Khắc hay Trung Quốc chế tạo. Anh dám nói chắc họ không hề biết cái trò chơi tự sát kiểu roullette russe này. Trong các sách anh đọc trước kia anh còn nhớ rằng cái trò này là do bọn vương tôn, công tử quý tộc nước Nga Sa Hoàng ăn không, ngồi rồi, bày đặt ra. Bọn này không còn biết làm gì để có được cảm giác mạnh, ngồi uống rượu với nhau, bỏ khẩu súng ra bàn, trong ổ đạn có 6 lỗ, có 1 lỗ nạp đạn, họ xoay ổ đạn vài vòng để không biết viên đạn nằm ở lỗ nào rồi mỗi tên kê nòng súng lên mang tai bấm cò, nếu trúng lỗ có đạn là đạn nổ, vỡ sọ chết, còn không thì đặt súng xuống đến lượt tên kia. Tên nào nhát không dám kê súng lên tai là thua.

Thật ra, anh cũng chẳng cần phải biện hộ cho quân đội Bắc Việt Cộng bởi vì tác giả Ginsberg có hỏi nhà đạo diễn phim The Deer Hunter về chuyện này và nhà đạo diễn đó trả lời rằng: “Ðúng ra tôi cũng chưa nghe qua một tù binh Mỹ nào kể rằng lính cộng sản Bắc Việt bắt họ phải làm như thế, nhưng làm phim thì phải có những cảnh kích động để hấp dẫn khán giả …”

Còn phim Apocalypse Now thì dường như, vì radio của anh quá rè anh nghe không rõ lắm, kể lại chuyện đầu dơi, tai chuột của một anh Ðại tá Mỹ nào đó muốn chiếm riêng một vùng rừng núi ở biên giới Việt – Kampuchia để ảnh làm lãnh chúa, trong phim có những đoạn tả cảnh gái điếm Việt Nam trần truồng trong những chuồng chấn song sắt như chuồng khỉ trong Sở Thú, cảnh dân Việt Nam đánh bạc, có anh thua bạc tự tử bằng súng ngay trong sòng bạc.

Những đoạn phim đó trình bày chúng ta, những người Việt Nam, như bọn mọi rợ hèn hạ không đủ điều kiện và tư cách làm người. Anh buồn rầu mà thấy rằng ông cha ta trong cả ngàn năm đã đổ bao nhiêu xương máu, đã chết không biết bao nhiêu người, để làm cho bọn phong kiến phương Bắc – bọn người Hoa – không còn dám gọi chúng ta, dân tộc ta là Man Di. Trong một trăm năm nay, chúng ta đã lại đổ không biết bao nhiêu xương máu, đã kẻ trước người sau lao vào chết, để bọn thực dân da trắng từ phương Tây đến không còn dám chửi chúng ta là “Salaud! Bête” – Sa lù bệt – và gọi dân tộc ta là “Sale Race”. Nhưng cho đến nay chúng vẫn cứ coi khinh chúng ta, vẫn công khai mạt sát dân tộc ta, bôi đủ thứ dơ bẩn nhất lên mặt chúng ta. Bao nhiêu xương máu và nước mắt của chúng ta đổ ra là vô ích hay sao Em ? Có biết bao nhiêu Câu Tiễn Việt Nam ngồi nếm phân trong những rạp xi nê ấy đã câm miệng hến, đã cúi đầu tủi nhục đi ra hay vẫn thản nhiên coi như đó là cảnh sống của những dân tộc nào khác không phải dân tộc mình.

o O o

Em hãy ngả đầu, nhắm mắt  nghe  một bài Sẩm Xoang:

Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Cơm nhà, quà vợ, nửa rồ anh lại nửa điên
Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng chiền chiền .
Ngày qua ngày muộn đêm phiền theo đêm
Nhưng mà Em ơi … Anh nghĩ cái thân Anh
Ðến hôm nay còn nệm ấm giường êm
Vợ thương, con thảo Anh còn rên cái nỗi gì ?
Bạn bè Anh như lá đài bi
Ðứa thì dãi nắng, đứa thì dầm sương
Thằng sông Vô Ðịnh phơi xương
Thằng thì con vợ nó phú lỉnh một đường sang sông
Thơ xanh Anh chép giấy hồng
Lúc hèn thì đến Quận Công cũng hèn
Nói gì rằng đỏ, rằng đen !

Anh nghe nói trong số những người bỏ nước ra đi có nhiều cặp vợ chồng, nhiều người yêu nhau, khi sang nước người, đã bỏ nhau, đã hết yêu nhau. Anh không được biết cuộc sống của những cặp vợ chồng, những đôi tình nhân ấy ở những nơi xa xôi ra sao nên Anh không thể bàn loạn về tình trạng đáng buồn này. Có những cặp vợ chồng bỏ nhau, những đôi tình nhân hêt yêu nhau anh quen biết khá thân ở đây từ trước, có những người Anh không được quen chỉ nghe tên tuổi. Anh không biết rõ vì sao họ bỏ nhau nên Anh chỉ có thể nói rằng việc họ bỏ nhau, họ hết yêu nhau, làm anh buồn. Anh có cái tật khá kỳ lạ, Anh chỉ thích thấy người khác yêu nhau, hy sinh cho nhau. Thấy người khác yêu thương nhau Anh sung sướng như chính anh được yêu thương. Thấy tình yêu của người, Anh thấy đó như là tình yêu của anh. Thấy tình yêu chiến thắng, Anh phấn khởi, tin tưởng. Thấy tình yêu thảm bại, Anh ủ rũ, âu sầu.

Ở đây cũng có khá nhiều cặp vợ chồng tan rã, nhưng vì anh sống ở đây, Anh hiểu rõ hoàn cảnh sống của những người ở đây từ sáu năm nay nên anh có thể bào chữa được đôi chút cho họ . Tình Yêu – kể cả TÌNH YÊU viết hoa cả bẩy chữ – có thể chết vì nhiều thứ Bệnh. Tình Yêu thường chết vì ly cách, vì tuyệt vọng, vì đời sống vật chất quá khốn khó. Ở đây – ở quê nhà, ở Sài Gòn – Tình Yêu chết vì bị cả ba cái Bệnh ấy tấn công cùng một lúc: ly cách, tuyệt vọng, đói rách. Người phụ nữ có thể chịu đựng được ly cách hoặc đói khổ miễn là không tuyệt vọng. Ðã ly cách, đói khổ mà còn tuyệt vọng thì hết thuốc chữa. Bởi vậy Anh nghĩ rằng nếu ở đây – trong nước, ở Sài Gòn bị đổi tên – có những người để cho Tình Yêu của họ chết thì phần nào họ đáng được tha thứ. Họ đáng thương chứ không đáng trách. Tuy vậy ở đây vẫn có nhiều trường hợp Tình Yêu đã chiến thắng cả ba kẻ thù Ly cách, Ðói khổ và Tuyệt vọng. Anh ca tụng Tình Yêu đó. Anh ca tụng những người phụ nữ Sài Gòn có thứ Tình Yêu đó:

Thương biết mấy nghe chồng tập nói
Tiếng đầu ngày chồng hỏi: Cà phê ?
Chồng Em đi cải tạo về
Thương chồng thuốc lá, cà phê cho chồng
Trống cơm ai vỗ nên vông
Tay không Em vỗ cơm chồng áo con
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm phụ nữ Sài Gòn vẫn thơm.

Người chồng đi tù cộng sản trở về mái nha xưa và vòng tay gầy của người vợ hiềnø, buổi sáng thấy vợ cho uống cà-phê, ngạc nhiên vì thấy vợ mình còn có cà phê cho mình uống, không phải anh đòi vợ anh cho cà phê.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, Ngày 6 Tháng Sáu, 2011.

Advertisements

3 Responses

  1. Bác HHT,

    Phục bác quá sức! Thủa âý ai cũng sơ VC vaĩ tè ra quần mà bác dám viết những sự thực phơi bày cái gọi là “thiên đường XHCN” .

    Chúc bác luôn mạnh khỏe.

  2. Thật ra thì danh hiệu “Thành Đồng Tổ Quốc” đã có từ thời kháng chiến chống Pháp. Tác giả của nó chẳng ai xa lạ, chính là tên điếm quốc tế hồ chó mao. Hãy nghe cho đích xác nguồn gốc của “danh hiệu” này qua lời kể của Xuân Vũ, trang 242, cuốn ” Mạng người lá rụng” (NXB Xuân Thu):

    Trích:

    …”Số là cái “thành” này già Hồ tặng cho Nam Kỳ không phải cho khu Năm khu Sáu. Đây là lời phỉnh vĩ đại nhất đối với dân Nam Kỳ. Do sự phỉnh này mà dân Nam Kỳ mới đưa ngực ra đỡ đạn cà nông trong mười năm trời và lấy làm tự “hìu” so với các miền đất kháng chiến khác… Nhưng dù được nhận mặc lòng, dân Nam Kỳ cũng không đứa nào thèm đeo trên ngực, vì cái ngực bằng xương thịt thì lỗ chỗ dấu đạn mút canh tông và cà nông, còn thì tả tơi nên không còn chỗ đeo. Còn một chỗ khả dĩ đeo được cái huy hiệu đó nhưng không thể đeo vì ở đó, sợ không ai nhòm thấy. VINH QUANG CŨNG CÓ LẮM THỨ VINH QUANG, THỨ VINH QUANG THIỆT TÌNH LÀ GHẾ NGỒI, ĐẤT ĐỨNG THÌ DÂN NAM KỲ KHÔNG ĐƯỢC CẤP PHÁT BAO GIỜ. Còn vinh quang hàng mã thì được cấp phát nên không nhận. Đại khái cái Thành đồng nó như vậy đó, cho nên dân Nam Kỳ trên đường này và trong thời kỳ chống Mỹ ở Nam Bộ có những danh từ nhại lại : Thành bùn tổ cuốc, Thành bùn tổ cò…

    (ngưng trích)

    Họ hồ và đồng bọn đã dùng danh hiệu anh hùng này, thành đồng nọ để xúi con người ta xông vào chỗ chết thay cho chúng, hầu chúng đạt mục tiêu đánh cướp miền Nam. Cướp được miền Nam rồi, chúng chỉ việc “truy thưởng” gia đình những người này danh hiệu “liệt sĩ” rồi cấp cho tờ giấy khen là xong!

    Hồ và đồng bọn quả đã xem mạng những “đồng chí” người miền Nam của chúng rẻ hơn cả bèo!

    • Chuyện “Thành đồng” này nghe sao như chuyện mấy thằng con nít được thằng người lớn mất nết khen “chì”! Khen cho chúng vênh vang mặt mày đã đời rồi, tên mất dậy này mới xúi chúng nhào dzô ăn thua đủ với thằng cô hồn bự con gấp mấy lần chúng!

      Tưởng là chuyện con nít nhưng lại là chuyện có thật mới đau đớn cho đất nước VN. Hồ chó mao và đồng đảng của y đã lường gạt nhân dân miên Nam nói riêng và toàn dân VN nói chung một cách ngoạn muc. Trò lường gạt này quả thật vĩ đại và vô tiền khoáng hậu chưa từng thấy xảy ra trong sử VN và sử thế giới, mà lại thành công vượt bực mới nói chứ!.

      Chưa từng thấy bất kỳ dân tộc nào trên trái đất này lại ngây ngô, ngu dại dễ bị gạt gẫm mà mãi đến sáu mươi năm sau vẫn không nhận thức rằng mình đang bị gạt, như dân tộc VN !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: