• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Em Ơi Đợi Anh Về..!

(Bấm vào nút PLAY hình tam giác ở trên để nghe nhạc)

Em ơi…Còn tiếc thương nào???

Rừng Phong, Kỳ Hoa, Ngày 6 Tháng Sáu, 2011.

Trong bài VoRP “Châu Ro” đăng tuần trước, tôi viết về 2 bài thơ của Tố Hữu – Châu Ro, Ly Rượu Thọ – tôi đọc hai bài thơ này năm tôi 11, 12 tuổi. Qua dòng thời gian dài 60 năm, tôi quên gần hết hai bài thơ ấy. Tôi ngỏ lời xin bạn đọc nào có hai bài thơ ấy làm ơn gửi cho tôi.

Bài báo đăng lên Trang “hoanghaithuy.com” tôi được ngay điện-thư của quí bạn:

swan42,  June 4, 2011:

Xin Bác CTHÐ xem 2 bài thơ Châu Ro và Ly Rượu Thọ theo link sau đây. Google: “Châu Ro,Tố Hữu”. Chọn link “Hoa Học Trò.” Hay mở Google: “Ly RượuThọ, Tố Hữu”, chọn link “LY RƯỢU THỌ PHANTOM.” Kính.

T Pham, June 4, 2011:

Cháu vô Google tìm được mấy bài thơ  xưa của Tố Hữu mà bác CTHÐ muốn đọc lại :

Ly Rượu Thọ

Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu hí lạnh giữa tàn quân
Ðồi phong xa bốc khói, đỉnh non gần
Ðã khuất phục dưới lá cờ binh Nhật.
Trán kiêu hãnh lần đầu trông xuống đất
Mã nghẹn ngào: “Thôi hết, Mãn Châu ơi!”
Và quân binh cúi lặng chẳng nên lời…

Rồi từ đó, và gươm vàng võ phục
Và cừu hận và lòng sôi rửa nhục
Mã chôn sâu trong một cõi trời riêng
Buông hồn đau, liễu rủ suối ưu phiền.
Cốt oanh liệt đã khoác màu ẩn sĩ
Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỉ
Ðàn ca lên cho át tiếng đầu rơi
Dưới gươm bay vun vút loáng xanh trời.
Mãn Châu Quốc đang những giờ hấp hối
Gượng kêu lên, hỡi ôi lời trăn trối:
“Chiếm Sơn đâu, cứu nước, Chiếm Sơn ơi!”

Thì nơi kia Mã vén trướng, tươi cười
Cúi lạy mẹ chúc mừng ly rượu thọ.
Ðào xuân thắm dâng hương vào cửa sổ
Mai xuân trong rắc trắng mái hành lang.
Mẹ ngồi yên, như cốc nước e tràn
Không dám động – và nhìn con lặng lẽ
Nhưng mắt yếu bỗng rưng rưng ngấn lệ
Trán nhăn nheo bỗng ửng máu tim già
Và bàn tay run rẩy đỡ ly ngà
Bỗng quật xuống nền hoa: ly rượu vỡ!
Ly rượu vỡ tan tành. Ôi bỡ ngỡ
Ôi hãi hùng. Mã tướng run toàn thân!
Lần đầu tiên, Mã tướng run toàn thân!
Ngoài chiến địa, Chiếm Sơn hằng ngạo nghễ
Trông lửa đạn là trò chơi con trẻ
Mà hôm nay Mã tướng run toàn thân
Mà hôm nay Mã tướng chết hai phần!

Nét nghiêm khắc cong vòng cung môi mỏng
Nghe sôi sục cả linh hồn nóng bỏng.
Người mẹ già thét lớn: “Mã Chiếm Sơn!”
(Mã run lên) “Ðâu giọt rượu căm hờn?
Mãn Châu quốc nghe không mày, rên rỉ
Dưới gót sắt của Phù Tang ích kỷ
Ðang mang quân giày xéo cả Trung Hoa
Nước Trung Hoa yêu dấu của lòng ta
Ðã thống khổ bởi bao xiềng ngoại quốc!
Chưa vừa ư những tai ương thảm khốc
Ðã đè trên dân tộc nước non mày!
Có chi vui sông núi đỏ tràn thây
Mà Mã tướng ngày nay dâng rượu cúc?
Rượu cúc ấy, Chiếm Sơn, là rượu nhục!”

Rừng phong xa loáng bạc nắng lung lay
Hoa đào bay, trước cửa, hoa đào bay
Trong hoa tuyết trắng ngần rơi lả tả…
Và xuân ấy năm nghìn quân của Mã
Ðánh tan xương của Nhật, một sư đoàn.

Quanh quẩn

Có ngang dọc mới hiểu buồn quanh quẩn
Khổ vô biên của ngày tháng khô khan.
Ðây con tàu im lặng vượt thời gian
Toa lớn nhỏ quanh năm vừa chật chỗ.
Khách chen chúc trên hai hàng sập gỗ
Một lối đi vừa rộng giữa bờ xai
Những tường cao và những chấn song gài
Chuồng tiêu giữa hai ô phòng nho nhỏ
Giản tiện quá: chơi, nằm, ăn, ỉa đó.
Ðủ ba mùi: vôi, cứt với mồ hôi
Trộn hoà nhau làm nên một thứ mùi
Cay nồng nặc của bọn người khốn nạn
Mà muỗi rệp cũng hè nhau đốt cắn
Mà đến loài chí rận cũng không tha!
Mỗi người đi khi lãnh vé vào toa
Là cảm thấy mình sa vào địa ngục
Nơi phải nuốt chua cay và tủi nhục
Trọc lóc đầu, số áo đã thay tên
Bàn tay trơn còn đâu nữa tự quyền
Còn đâu nữa mênh mông đường hoạt động!
Thân giam cấm như con thuyền biễn rộng
Sống loanh quanh trong một vũng ao tù
Ðời lặng thầm không một tiếng vang to
Trăm ý nghĩ không ngoài khuôn chật hẹp
Ngày cứ thế, vươn lên rồi cửa khép:
Nghĩa là trưa; đóng mở: nghĩa là chiều
Rồi là đêm, cửa khoá. Ngọn đèn treo
Bật cháy sáng. Thì thầm rồi yên tĩnh
Toa tàu đổi làm một căn phòng bệnh
Những chăn đơn phủ kín những hình hài…
Rồi lại mai, trưa, chiều, tối: một ngày mai
Tuy khác đến, nhưng để rồi lại cũ.
Mùa đổi áo trên những cành gội nhỏ
Một khung trời mưa nắng, bốn tường câm.
Ga thời gian, từng chặng, mắt vừa tầm
Khách đôi kẻ trông ra ngoài tính nhẩm…
Ngày đi chóng bởi không chờ, tháng chậm
Khách dài lâu ngao ngán rủa bâng quơ
Ở ngoài kia, bao kẻ đợi người chờ!
Bao đồng chí, những ai còn ai mất?
Trái đất hỡi, sao mà mi vẫn chật!
Ðừng ai vô thêm nữa, bạn đời ơi
Rát mắt trông ra, cửa sắt ngăn trời
Ôi đêm tối những nơi nào lửa đỏ?
Nếu đôi lúc ta hát thầm nhỏ nhỏ
Dưới gầm xai, hay cười nói huyên thuyên
Như một thằng trẻ dại, một thằng điên
Là để khổ trong những giờ im lặng
Ðể nuốt bọt với bao nhiêu mật đắng
Của một đời cách biệt khối đời chung
Ðể nao nao với những mộng không cùng
Ðể cháy ruột mơ những ngày hoạt động.

Lao Thừa Thiên, tháng 6-1939
Nguồn: Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003

Châu Ro

Châu Ro ơi, xa rừng quê núi cũ
Tù nơi đây buồn lắm phải không anh?
Người Thượng già đương mải ngó xa xanh
Với đôi mắt dại đờ trong tuyệt vọng
Bỗng quay lại, cơ chừng nghe xúc động
Cả một lòng thương nhớ dưới chiều đi
Anh nhìn tôi, đau đớn, rồi thầm thì:
“Tôi nhớ lắm, chui cha, tôi nhớ lắm!”

Ôi tiếng nhớ sao mà nghe buồn thảm
Nó kéo dài như một tiếng dê kêu
Lạc bầy đi ngơ ngác dưới sương chiều…
Tôi để lặng nghe nỗi lòng đau khổ
Của anh bạn, trong khi sầu não đó
Kể bên tai, bằng một giọng rừng non:
“…Mấy năm rồi, xa cái vơ cái con
Tôi nhớ lắm! Nhớ cái nhà cái cửa
Nhớ cái rẫy nhiều khoai, nhiều bắp lúa
Nhớ con bò to, nhớ mấy con heo
Không biết còn, hay Ông bắt chết queo
Ðể con đói với vợ nghèo trong núi?”

Rồi bỗng lặng trầm ngâm anh rã rượi
Há hốc mồm như để gió rừng xa
Của quê hương đem lại chút hơi nhà…
Và dưới bóng mây đen, trong hộc tối
Như hang đá chiều hôm dày khí núi
Ðọng sương mờ trên đôi mắt chứa chan
Bao nhớ nhung, thờ thẫn, ngó lên ngàn…
Anh không khóc nhưng vì đâu chẳng biết
Có lẽ bởi bao nhiêu điều nhớ tiếc
Trong lòng anh hun lại khối căm hờn
Những bàn tay độc ác đã chia tan
Tổ yên ấm trên đầu ngàn, ngọn núi
Tôi bỗng thấy chớp loè lên dữ dội
Lửa thù trong đôi mắt tối chiều đông
Ðôi vành môi thành một lưỡi dao cong
Anh nghiến chặt hai hàm răng lẩm bẩm:
“Ðau cái bụng, ui chui cha, tức lắm!”
Và hồi lâu, bên ngưỡng cửa song tù
Tôi còn nghe tiếng nói của Châu Ro:
“Ðau cái bụng, ui chui cha, tức lắm!”

Lao Bảo, mùa đông 1940

Nguồn: Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003

C Nguyen, June 5, 2011:

Bác CTHÐ,

Cảm ơn Bác đã cho tôi đọc lại bài thơ “Mã Chiếm Sơn”. Tôi được cô giáo dạy học thuộc lòng bài thơ này khi tôi là học sinh lớp Nhất, khoảng năm 1968 ở trường tiểu học Ng~Tri Phương, nhà trường trong khu Nguyễn Lâm, Nguyễn Kim bên Sân Vận Ðộng Cộng Hòa. Tôi chỉ nhớ lờ mờ bài thơ rất hay, cùng với một số bài thơ học thuộc lòng mà cô giáo yêu thơ cao hứng bắt học sinh phải học. Nay nhờ Bác tôi mới biết bài thơ này là của Tố Hữu.  Giữa năm 1979 tôi vượt biển một mình qua được Nam Dương, nhờ ông anh ruột qua Mỹ trước bảo lãnh nên tôi mau chóng được vào sống ở xứ Cờ Hoa. Job đầu tiên ở Mỹ của tôi là thợ hàn ở xưởng đóng tàu NASSCO, San Diego, tôi làm việc đêm ngày để kiếm tiền gửi về giúp mẹ tôi và anh chị em tôi còn kẹt lại ở VN.

Sau này qua sách báo hải ngoại tôi mới biết Tố Hữu là “Tố Nịnh”. Khách quan mà nói Tố Hữu là nhà thơ có tài, nhưng đáng tiếc tư cách con người cá nhân của Tố Hữu là chuyện hoàn toàn trái ngược và đóng phần không nhỏ vào tội ác giúp Cộng Sản xúi đẩy biết bao thanh niên VN vào chỗ chết một cách mù quáng…

Bác CTHÐ có trí nhớ thật siêu đẳng và có tài khêu dậy những ký ức của con người một cách tuyệt diệu. Tôi hân hạnh được đọc truyện đầu tiên của Bác qua tác phẩm phóng tác “Chiếc Hôn Tử Biệt,” nhờ bà mẹ tôi ở Sài Gòn thuê truyện đọc. Sau đó là Ðỉnh Gió Hú”, Kiều Giang”, “Ðịnh Mệnh Ðã An Bài”,  Như Chuyện Thần Tiên” v.v… Và cũng nhờ những phiếm luận trên báo chí hải ngoại hiện nay của Bác mà tôi có dịp biết thêm ít nhiều về cuộc sống của nhà văn Ngọc Thứ Lang, tác giả “Bố Già” mà tôi hằng ngưỡng mộ. Lập trường và những nhận định của bác CTHÐ về thời sự lúc nào cũng chính xác, ít nhiều trào phúng của con người đã sống, từng trải qua khá nhiều kinh nghiệm vui buồn, hạnh phúc cũng như đau khổ trong cuộc sống và nhất là rất thật và nhiều lý thú. Ðọc những bài viết của Bác tôi tưởng như tôi được trò chuyện với những thế hệ người Sài Gòn xưa, từ thời 50, 60 qua 70, 80 kéo dài cho đến bây giờ. Biết đựợc tâm tư của mấy thế hệ Sai Gòn  chẳng là sướng sao?

Bác CTHÐ quả là tuyệt vời.

o O o

CTHÐ: Mời quí vị đọc một bài Thơ tôi thấy Hay của Tố Hữu. Tôi đọc bài thơ này năm 1952. Dễ đến cả 50 năm bài thơ này không được đăng lại trên các báo Việt. Và cũng 50 năm, năm nay 2011, tôi đọc lại trọn vẹn 4 bài Thơ Tố Hữu tôi đọc năm tôi 11, 12 tuổi

Trích trên Net: “Em ơi..! Ðợi Anh về!” Thơ tiếng Nga, thi phẩm của Thi sĩ Nga  Konstantin Simonov. Ðây là một trong những bài thơ nổi tiếng của Nga Xô-viết trong Thế Chiến Hai. Bài thơ được sáng tác vào năm 1941 khi Simonov  tạm biệt người vợ Valentina Serova để lên đường ra mặt trận.

Thi phẩm  được Nhà thơ Tố Hữu dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt vào khoảng năm 1949 – 1950 và đã được phổ nhạc.

Em ơi.. đợi anh về

Ðợi anh hoài em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Em ơi.. em cứ đợi.

Dù tuyết rơi, gió thổi
Dù nắng cháy em ơi!
Bạn cũ có quên rồi
Ðợi anh về em nhé!

Tin anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi cứ đợi!

Em ơi em cứ đợi
Dù ai thương nhớ ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già, con dại
Hết mong anh trở lại
Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì em ơi mặc bạn
Ðợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về!

Ðợi anh anh lại về.
Trông chết cười ngạo nghễ.
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ
Nào có biết bao giờ
Bởi vì em ước vọng
Bời vì em trông ngóng
Tan giặc bước đường quê
Anh của em lại về.

Vì sao anh chẳng chết?
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người.
Biết như em chờ đợi.

o O o

Dễ đến cả 50 năm những bài Thơ trên của Tố Hữu không được đăng lại trên các báo của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Và cũng 50 năm, năm nay 2011, tôi đọc lại trọn vẹn 4 bài Thơ Tố Hữu tôi đọc năm tôi 11, 12 tuổi.

Cảm khái cách gì.

Tôi không bàn luận nhiều về 4 bài Thơ. Quí bạn đọc và quí bạn có những cảm nghĩ của quí bạn. Tôi chỉ cần viết thêm:

Trong bài Ly Rượu Thọ:

Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu vang hí giữa giữa tàn quân
Ðồi phong xa bốc khói, đỉnh non gần
Ðã khuất phục dưới lá cờ binh Nhật
Trán kiêu hãnh lần đầu trông xuống đất
Mã nghẹn ngào: “Thôi hết.. Mãn Châu ơi..!:
Rồi quân binh nín lặng chẳng nên lời.
Cốt oanh liệt đã khoác mầu ẩn sĩ.

Theo tôi, những lời thơ tôi nhớ đúng hơn:

Ngựa rung bờm vang hí giữa tàn quân
Ải quân xa bốc khói, đỉnh non gần
Ðã khuất phục dưới lá cờ quân Nhật
Trán kiêu hãnh lần đầu trông xuống đất
Mã nghẹn ngào: “Thôi hết..Mãn Châu ơi..”
Rồi buông cương, nín lặng chẳng nên lới.

Và câu:

Cốt oanh liệt đã khác mầu ẩn sĩ

Câu thơ tôi đọc và tôi nhớ đúng hơn:

Cốt tráng sĩ khoác mầu tro ẩn sĩ.

Nay – Năm 2011, tuổi đời Bẩy Bó Tám Que – tôi thắc mắc: Tại sao bà mẹ Tướng Mã Chiếm Sơn – là người Mãn Châu – lại thương khóc Trung Hoa:

Mãn Châu quốc nghe không mày, rên rỉ
Dưới gót sắt của Phù Tang ích kỷ
Ðang mang quân giày xéo cả Trung Hoa
Nước Trung Hoa yêu dấu của lòng ta.

Phải chăng bà mẹ Tướng Mã là người Trung Hoa?

Trong bài Châu Ro:

Cả một lòng thương nhớ dưới chiều đi.

Thơ tôi nhớ:

Cả một trời thương nhớ dưới chiều đi.

Tôi cảm khái cách gì với câu Thơ:

Ðây con tầu im lặng vượt thời gian.

Năm năm sống quanh quẩn giữa ba bức tường và một hàng song sắt Nhà Tù Chí Hoà, tôi thấy câu Thơ tả cảnh sống trong tù thật tuyệt.

Advertisements

5 Responses

  1. Kính bác CTHĐ,

    Hôm nay có dịp vào trang web của Bác, lại thêm một sự ngạc nhiên và lý thú lần nữa. Bài hát ” Em ơi Đợi Anh Về ” lâu lắm tôi được nghe ca sĩ Elvis Phương hát trong một cuốn băng nào đó và cảm nhận ngay cái hay của những lời trong bài hát. Lời tuy không dài, ngắt nhịp từng câu ngắn nhưng đầy sự day dứt của kẻ ra đi cho quê hương cho người ở lại. Dù phải đối đầu với bao gian khổ hy sinh ngoài mặt trận, nhưng khi lòng vẫn tin tưởng có được tình yêu hiện hữu thì vẫn có quyền hy vọng vào một ngày mai tươi sáng sẽ được xum họp thật nhiều hạnh phúc trong tương lai. Nay qua bác CTHĐ tiết lộ mới biết xuất xứ cũng từ bài thơ do Tố Hữu dịch từ tiếng Pháp qua tiếng Việt của nhà thơ người Nga Konstantin Simonov. Tôi không biết được nguyên tác của bài thơ tiếng Nga hay qua tiếng Pháp nhưng bài thơ bản tiếng Việt của Tố Hữu cũng quá hay rồi…Tôi vẫn công nhận thi tài của ” thi nô ” Tố Hữu (nếu không thì sao bác CTHĐ vẫn còn vấn vương đến những bài thơ này sau hơn nửa thế kỷ?), nhưng luôn nhăn mặt mỗi khi nghĩ đến tư cách và con người của Tố Hữu. Nhất là sau này khi Thi nhân trở thành thảm trạng với câu thơ ví von (hình như của Nguyễn Xuân Sách) :” Nhà càng lộng gió, thơ càng nhạt ! “.

    Tạm gác chuyện Tố Hữu qua một bên và nhân được đọc qua bài thơ bác CTHĐ dẫn của một thi sĩ người Nga, xin lạm bàn với Bác một ít suy nghĩ về các văn nghệ sĩ của xứ Nga-La-Tư rộng lớn và cái đảng chết tiệt Cộng sản. Có lẽ đất nước Nga tuy to lớn nhưng lại ít được thiên nhiên ưu đãi, thời tiết lại quá khắc nghiệt nên những cảm nghĩ của văn nghệ sĩ Nga về thân phận con người đều đã được đẩy đến tận cùng. Những thảo nguyên bao la bát ngát của đất nước này đã làm cho dân tộc Nga thường có những suy nghĩ to lớn, thích chiếm đoạt và bao trùm thiên hạ: Tolstoi, Dostoevsky v.v… với những tác phẩm văn học đồ sộ, nhiều triết lý về cuộc sống, hay Tchaikovsky và các sáng tác âm nhạc bất hủ, hoặc những câu thơ nói về tình yêu của Pushkin không ai diễn tả nào bằng…Tôi thích nghĩ đến dân tộc Nga ở những tâm hồn như thế. Ngược lại vì nghịch cảnh của thiên nhiên, dân Nga hay có tính nổi loạn, khích động và thích làm cách mạng. Không phải ngẫu nhiên mà Lenin, Stalin có thể mê hoặc, đạt được sự ủng hộ của một khối dân chúng to lớn làm đảo lộn cả thế giới với chủ nghĩa Cộng sản tàn ác, vô thần. Không phải chuyện tự nhiên khi Liên Xô tự hào là đã giải phóng được Âu Châu khỏi ách thống trị của chủ nghĩa Đức-Quốc-Xã Hitler. Tuy nhiên cũng có những nhà văn Liên Xô như Pasternak, Solzhenitsyn v.v…tố cáo chế độ Cộng sản một cách rất hiện thực, bày ra được hết nỗi thống khổ của người dân dưới chế độ Cộng sản sau khi đã thực sự sống đủ và hiểu rõ được bản chất của chế độ vô nhân này. Họ làm được chuyện đó khi có được sự đòi hỏi bức thiết của trái tim mạnh hơn nỗi sợ sệt do nạn đàn áp, khủng bố có hệ thống của bọn cầm quyền.

    Chủ thuyết Cộng sản là không tưởng, người nghĩ ra nó là Marx, người Đức nhưng ít ai để ý đến nó và cho nó cơ hội được bám rễ. Cho đến khi Lenin, Stalin áp dụng chủ thuyết đó trên dân tộc Nga thì nó được bùng phát thật mãnh liệt không những ở xứ sở Nga mà còn phát triển, lây lan gần phân nửa các quốc gia trên thế giới ở thời kỳ cực thịnh của nó. Điều đáng buồn là đồng thời với sự mê hoặc và phát triển của chủ thuyết Cộng sản là sự hủy hoại óc sáng tạo và nền đạo đức, nhân tính do bản chất dối trá và khủng bố của nó khi con người bị nhồi sọ, trở thành là những cỗ máy phục vụ cho một thiểu số lãnh đạo xuẩn ngốc, điên rồ, gian tham quyền lực. Vì thế không thể có được một sáng tác văn học hay nghệ thuật nào có giá trị đích thực dưới chế độ Cộng sản. Chủ thuyết Cộng sản là đề cao sự chém giết, nhưng tại sao các văn nghệ sĩ là tai mắt, cảm nhận, chứng nhân của tất cả dân chúng không nói ra được những sự thực của trái tim của mình? Vì bọn cầm quyền Cộng sàn rất gian manh, họ hiểu rõ sức mạnh của giới văn nghệ sĩ nên khi nắm được quyền hành, chuyện trước nhất của bất cứ một đảng Cộng sản ở bất kỳ một quốc gia nào là nắm được sự kiểm soát và khuynh loát đám văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ v.v…hay tất cả những giới có khả năng biểu lộ được tình cảm thiết thực của con người cho những người khác thấy. Có che đậy được sự thực thì đảng Cộng sản mới tiếp tục có được sự ủng hộ của đám đông dù vô tình bị mê muội chạy theo lý tưởng sai lầm hay cố ý ngậm miệng do lòng sợ hãi của bản thân đối với sự khủng bố của chế độ.

    Ác nghiệt thay là chế độ Cộng sản !! Nó đã là vật cản rất to lớn đối với sự tiến bộ của nhân loại trong một thời gian tuy không dài lắm (khoảng hơn 70 năm kể từ khi cuộc cách mạng vô sản 1917 đến khi Liên Xô tan rã 1989) đối với lịch sử của thế giới, nhưng đã làm tan hoang đề lại nhiều di hại ở bất cứ một quốc gia và dân tộc nào nó đã đi qua. Vô phước thay những dân tộc đã phải trải qua những kinh nghiệm xương máu với Cộng sản !! Họ phải cần một thời gian rất dài để hàn gắn mọi vết thương lòng, hồi phục lại tiềm năng đã bị Cộng sản hủy diệt. Thử nhìn xem dân tộc Nga từ bỏ được chế độ Cộng sản sau khi Liên Xô tan rã đến nay đã được 22 năm, họ vẫn đang loay hoay sửa chữa tất cả mọi lãnh vực để lấy lại khả năng phát triển cùng với dân tộc cũa những quốc gia khác may mắn không bị nạn Cộng sản. Mà có lẽ cũng còn lâu nước Nga mới có thể trở thành vị thế là một trong những cường quốc có ảnh hưởng mạnh đến thế giới như đã là trước đây. Và nền văn học nghệ thuật của người Nga chắccũng cần một thời gian lâu hơn nữa đề họ có thể tìm lại được niềm tự hào…

    Viết đến đây tôi không còn hứng thú để tiếp tục khi chợt liên tưởng đến số phận hẩm hiu của dân Việt Nam và những văn nghệ sĩ thật sự của dân tộc. Và cũng sẽ còn lâu lắm khi những tài năng cỡ Tố Hữu được trả lại vị trí chính đáng của họ là phục vụ cho niềm sáng tạo đích thực từ trái tim và lương tâm của con người.

    Xin cảm ơn bác CTHĐ đã cho tôi cơ hội có được niềm cảm hứng để trau dồi tiếng Việt.

  2. Một chế độ bắt mọi người ăn ớt
    Friday, August 19, 2011 2:40:05 PM

    Bình Luận

    Ngô Nhân Dụng

    Ðến Mátx-cơ-va vào buổi trưa, lúc 2 giờ chiều tôi đi tìm đến ngôi nhà cũ của Boris Pasternak nơi ông viết những ngày chót trong đời.

    Ðể được nhìn những hàng cây, khu vườn, quanh ngôi nhà nơi ông đã sống, đặt chân lên mặt đất, bước trên những con đường mà ông thường đi bộ. Tôi đã xúc động và suy nghĩ về những bài thơ, về cuốn tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago trước đây nửa thế kỷ; và cảm thấy mang nợ ông từ thời đó. Sau khi Pasternak được trao giải Nobel năm 1958, hai dịch giả Văn Tự và Mậu Hải đã cho in bản tiếng Việt ở Sài Gòn. Bản dịch vẽ ngoài bìa hình ảnh một cánh đồng tuyết mênh mang dưới bầu trời xám nhạt và chân trời mầu tím, cũng là hình vẽ bìa cuốn sách in tiếng Ý, ấn bản đầu tiên được công bố trong thời gian đó.

    Trên con đường đi bộ từ nhà ga xe lửa Peredelkino tới dacha (biệt thự miền quê) của nhà văn, trong đầu tôi chợt nhớ câu nói của một nhân vật trong Bác Sĩ Zhivago, “Con người ta sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống.” Ý tưởng này đã len vào đầu tôi từ nửa thế kỷ nay; càng sống và ngẫm nghĩ càng thấm thía. Hồi 20 tuổi, khi đọc tới câu đó tôi nghĩ đến những khẩu hiệu kêu gọi “xây dựng một thế giới mới,” những bài thơ ca ngợi một “ngày mai tươi sáng,” mà thế hệ cha anh cho đến thế hệ tôi đã được nghe. Chính Pasternak chắc đã cảm thấy chán ngán với những khẩu hiệu “chuẩn bị sống” như vậy trong nhiều năm, trước khi đặt bút viết.

    Nhân vật Bác Sĩ Zhivago đã cảm thấy “Cuộc cách mạng không mang lại ánh sáng mà họ mong đợi.” Họ thấy loài người không thể cứ tiếp tục “chuẩn bị sống” suốt thế hệ này sang thế hệ khác. Nhất là suốt ngày cứ phải nghe máy phóng thanh đầu phố thúc giục “chuẩn bị sống,” hy sinh hôm nay cho một ngày mai càng ngày càng xa vời! Chính tâm trạng chán ngán lan trong toàn thể xã hội đã khiến người dân thờ ơ, lãnh đạm với cuộc sống thật, đưa tới cảnh trì trệ kinh tế trong chế độ Xô viết sau này.

    Pasternak không phải một nhà phê bình chính trị. Ông đóng vai trò một thi sĩ. Thi sĩ sống và rung động cùng một nhịp với những xúc cảm của đồng bào chung quanh họ. Ðiều khiến các thi sĩ chán nản nhất là những lời nói được lập đi lập lại, bắt buộc phải nghe mãi sẽ thấy chúng trở thành trống rỗng. Pasternak cũng như nhân vật Zhivago thuộc thế hệ lớn lên trong cuộc cách mạng 1917 ở Nga, khi họ cảm thấy xã hội cần phải thay đổi toàn diện, tận gốc rễ. Ðó là lúc Pasternak nhìn thấy chung quanh ông, cảnh vật vô tình như những hàng cây cũng đang lên tiếng nói, những tảng đá cũng muốn biểu tình! Nhưng cuối cùng người ta cũng nhìn ra cuộc cách mạng lôi cuốn đầy những kẻ hoạt đầu trong vai trò lãnh đạo và cán bộ tuyên huấn. Họ khai thác, lợi dụng khát vọng thay đổi cuộc đời của mọi người chung quanh, để chiếm đoạt quyền hành. Rồi sau đó họ bám chặt lấy quyền bính, nhân danh lịch sử và nhân danh tương lai để chấp nhận bất cứ hành động tàn ác nào cũng làm được. Khi đã nhân danh một “chân lý duy nhất,” nhân danh tương lai của cả loài người, thì người ta không ngại gì phạm những tội ác lớn nhất. Họ phải bám lấy quyền bính, rồi biện minh quyền bính đó bằng cách lập đi lập lại những khẩu hiệu trừu tượng, cũ kỹ, sáo mòn, trống rỗng. Rồi nhét vào miệng mọi người buộc họ phải nuốt như những khẩu hiệu khô cứng đó như món ăn hàng ngày. Sống trong cảnh đó, những người biết rung động và biết suy nghĩ không thể nào chịu đựng nổi.

    Trong một màn đối thoại vào lúc nước Nga đang lên cơn sốt cách mạng, sau khi chế độ vô sản chuyên chính đã thiết lập, có hai nhà trí thức Nga tranh luận với nhau. Một người lắc đầu nói: Những điều anh vừa bàn toàn là triết lý không à. Nhưng triết lý chỉ là những gia vị cho cuộc sống. Con người ta không thể sống bằng triết lý mà thôi, cũng như người ta không thể chỉ ăn ớt mà sống!

    Vào những năm 1950, 60 ở Sài Gòn, lớp thanh niên chúng tôi cũng chuyền tay nhau đọc bản Tuyên ngôn Cộng sản do nhà xuất bản Thợ Thuyền ở Paris in bằng tiếng Pháp, cùng những cuốn sách mỏng ký tên Stalin, về Duy Vật Biện Chứng, về Duy Vật Lịch Sử, vân vân. Như một nhà văn Pháp sau này cảnh cáo: Chủ nghĩa Marx là một thứ ma túy của giới trí thức. Max cống hiến một cách nhìn thế giới và lịch sử như một bộ máy đồng hồ, một hệ thống sơ đẳng, máy móc. Pasternak là một thi sĩ, tiếp nối một dòng văn nghệ của nước Nga, với mối quan tâm sâu xa về ý nghĩa của lịch sử. Cả hai đều chịu ảnh hưởng tôn giáo. Pasternak thấm nhuần một cách nhìn thế giới như một hệ thống sinh học, mà có lẽ chính ông chưa bao giờ đọc về lý thuyết hệ thống.

    Pasternak nhìn thế giới và lịch sử loài người như một huyền nhiệm, không thể dùng mô hình máy móc mà mô tả để hiểu được. Không có chánh kiến thì sẽ không thành cách mạng. Nhìn sai sẽ đưa tới những hành động sai lầm. Tệ nhất, là sẽ giết người, sẽ giết rất nhiều người! Pasterak viết: “Người ta không trông thấy lịch sử, cũng như không ai nhìn thấy cỏ mọc, không ai thấy rừng lá đang đổi mầu!” Khi đọc Pasternak vào những năm đầu 1960, tự nhiên chúng tôi nhận ra cuộc cách mạng vô sản là một ảo vọng, ở chính nước Nga nó đã không có thật. Và thế giới loài người không thể sống với những thứ triết lý máy móc như vậy. Nhiều người trong thế hệ chúng tôi ở miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi ảo vọng của chủ nghĩa Marx chính là nhờ đọc Pasternak.

    Những nhân vật trong cuốn Bác Sĩ Zhivago như Komarovsky và Strelnikov, mỗi người đều gây ra những khổ đau cho người khác theo cách riêng của họ. Nhưng những người này chỉ tác hại tạm thời, cá biệt. Mối họa lớn nhất gây ra tại nước Nga dưới chế độ cộng sản còn rộng lớn và sâu xa hơn, chắc chắn tác hại lâu dài hơn. Nhưng vào thời Pasternak đang viết cuốn Bác Sĩ Zhivago, ông chưa được chứng kiến những tai hại lâu dài khác mà chế độ cộng sản đã để lại, cả sau khi chính chế độ đó sụp đổ.

    Một chế độ bắt mọi người dân chỉ được đọc một thứ báo, nghe một thứ đài, báo đài chỉ tuyên truyền một chiều, thì sẽ tước bỏ của mọi người một khả năng cần thiết để sống như những con người, là thói quen suy nghĩ độc lập. Một chính quyền bắt dân phải học tập căm thù, nghi ngờ, soi mói, rình mò, tố giác và sợ hãi lẫn nhau, thì sẽ phá nát nền móng của cả đạo lý lẫn nền tảng của thị trường kinh tế tự do. Một xã hội được tổ chức như một guồng máy, tất cả trông lên chờ nghe lệnh “ở trên” và chờ được “ở trên” ban phát ân huệ, thì sẽ không tập được thói quen tự lập, tự cường; mất luôn cả khả năng nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm về hậu quả những việc mình làm. Khi mọi sinh hoạt trong xã hội đều được chính trị hóa, những người cầm quyền không cần dùng luật pháp, cũng không cần đến đạo lý, thì nền tảng của xã hội bị phá vỡ và hủy hoại. Ðó là tình trạng Mạnh Tử gọi là “Thượng vô đạo pháp, hạ vô pháp thủ.”

    Hậu quả của những tác hại đó là sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga, tham nhũng đã hoành hành rộng hơn trước. Ngày xưa các công chức chỉ đi mua bóng đèn hư “cháy tóc” đem tới sở thay để lấy cái bóng đèn tốt mang về nhà. Ngày nay kinh tế đã phát triển hơn, đồ tiêu dùng nhiều hơn mà nhu cầu cũng nhiều hơn, các các quan chức cũng nhiều mánh khóe làm tiền hơn. Họ không đủ khả năng kinh doanh làm giầu, thì họ đem bán một thứ bán được, là quyền quyết định, là chữ ký, là con dấu, bằng mọi thứ mưu mẹo. Quan chức không có thói quen chịu trách nhiệm, mà cũng chưa bao giờ sống trong một hệ thống cai trị có luật lệ nào rõ ràng để căn cứ vào đó mà ấn định trách nhiệm. Tự do đối với họ có nghĩa là tự do sử dụng quyền hành để bắt chẹt người dân, bán lẻ quyền hành bắt dân phải mua. Họ chưa bao giờ được tập tành thói quen nghĩ rằng quyền hành nào cũng có giới hạn. Chính người dân cũng chưa có thói quen sống tự do, chưa có thói quen tự lo liệu những việc liên can đến cuộc sống công, bởi vì họ đã quen ỷ lại vào guồng máy bao cấp. Người ta dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ với các lợi ích chung của cả xã hội, vì đã bị nghe nói dối nhiều quá. Nhiều người sợ tự do, ghét tự do, vì bị mất cảm giác lười biếng, an phận trong thời bao cấp! Cũng giống như cả một xã hội bị bắt ăn ớt mãi, đến khi được ăn cơm không biết cơm là ngon nữa!

    Những tác hại của chế độ cộng sản trên đất nước Nga còn nhiều mặt phức tạp nữa. Và ở Việt Nam cũng vậy. Như một người mới nhận xét trên Blog Dân làm Báo. Ông Vũ Ðông Hà nhìn thấy “Gia tài lớn nhất để lại cho con” là “Lòng sợ hãi!” Ông viết: “Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội…”

    Người Việt Nam xưa kia có bổn tính sợ hãi, hèn nhát, ích kỷ và mê muội hay không? Chắc chắn là không. Tổ tiên chúng ta không mắc chứng bệnh tập thể đó. Người Nga vốn sẵn bổn tính tham nhũng và sợ hãi các tham quan hay không? Chắc không đến nỗi như thế. Pasternak nằm dưới mặt đất ở Peredelkino có thể coi là may mắn không phải chứng kiến những tác hại mà chế độ cộng sản để lại như một gia tài cho dân Nga, ngay cả sau khi chế độ đó đã sập. Các chứng hư tật xấu đã được gieo mầm trong 70 năm sống dưới chế độ độc tài toàn trị, khi được tự do có ngay cơ hội để bùng nổ. Nhưng khi đọc các bài thơ và theo dõi các nhân vật tiểu thuyết của ông, chúng ta có thể tin rằng dân tộc Nga vốn có một tâm hồn lớn. Tự do đã tạo cơ hội cho các tham quan, nhũng lại và bọn gian thương hoành hành. Nhưng tự do cũng sẽ giúp cho con người tập lối sống chịu trách nhiệm và tự gắng sức bảo vệ các quyền tự do của mình. Không phải nước nào chuyển hóa từ chế độ cộng sản sang một thể chế tự do hơn cũng biến chứng trở thành thoái hóa như nước Nga. Như Giáo Sư Nguyễn Minh Cần nêu ra làm thí dụ: “Ở các nước Ba Lan, Tiệp, họ đã dân chủ hóa thực sự, đã tập được lối sống dân chủ với tinh thần trọng pháp rất cao. Chúng ta biết, hàng chục năm trước khi bức tường Berlin đổ, giới trí thức ở Tiệp, giới công nhân ở Ba Lan đã mạnh dạn đứng lên tổ chức và tranh đấu cho các quyền tự do của họ. Chính những hoạt động đó đã gieo mầm cho một xã hội công dân, tạo nền tảng cho chế độ dân chủ tự do.”

    • Hồi trước có một nick tên là “thằng hề” vẫn hay gởi những bài dài ngoằng, nhưng thực ra cũng là copy từ những link khác rồi paste vào đây. Bác bacthan phải nhắc “thằng hề” rằng chỉ cần post link là đủ rồi, có phải không ạ?

      Bài này lấy từ “đàn chim việt” với link dưới đây:

      http://www.danchimviet.info/archives/41166

      • @ Bác Phương Lê,

        Có lẽ Bác CNguyen mới nên không biết thôi.

        @ Bác CNguyen ,

        Thay vì paste nguyên bài viết ,Bác có thể LINK những bài mà Bác thích cho các Bác trên diễn đàn này cùng đọc.

        Em rất thích những comments Bác viết về Bố Già. Thật tuyệt vời. Mong được đọc thêm những comments của Bác.

  3. Trước hết, xin tạ lỗi với bác Phương Lê đã quên “post cái link”

    http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=135827&z=7

    và đúng như comment của bác T Phan, tôi mới tập tễnh vào trang Hoàng Hải Thủy lúc gần đây thôi nên chưa biết luật lệ của diễn đàn CTHĐ. Nhưng có lẽ đó là thói quen, mỗi khi muốn chia sẻ tin tức với bạn bè ở Việt nam tôi thường “copy & paste” sau khi “post link” vì nhiều khi họ không đọc được do “tường lửa” ở VN đôi lúc gây trở ngại, loay hoay để vượt hơi mất thì giờ.

    Cám ơn hai Bác về những comment của tôi về tác phẩm Bố Già nhân đọc bài viết của bác CTHĐ trên trang Hoàng Hải Thủy. Thật ra tôi không dám ” múa rìu qua mắt thợ ” , chẳng qua tôi ngưỡng mộ tác giả Ngọc Thứ Lang với tác phẩm Bố Già và Hoàng Hải Thủy với các tác phẩm Kiều Giang, Đỉnh Gió Hú, v.v…đã từ lâu . Tài dịch thuật và phóng tác của hai thầy này mới thật là tuyệt vời, giúp cho độc giả có được một rung cảm y như khi đọc bản nguyên tác nhưng độc đáo là kiểu rung cảm sâu đậm hơn qua tiếng Mẹ. Nhất là không phải ai cũng có khả năng sinh ngữ vừa đủ để hiểu hết ý nghĩa cùa các lời văn trong nguyên tác. Hoàng Hải Thủy và Ngọc Thứ Lang là một trong những nhà văn tài danh đã giúp thỏa mãn thú vui đọc sách cho mọi ngưòi Việt nam, nhất là cư dân Sài gòn thời trước năm ’75. Mà chỉ có các nhà văn mới diễn tả được cho người đọc những cảm xúc đó bằng tài năng của họ.

    Nhân đây xin cám ơn bác CTHĐ đã có những bài viết rất sống động và thật. Đọc CTHĐ để thỉnh thoảng được khóc, cười, giận… vui buồn theo những kỷ niệm thời xa xưa ờ Sài gòn và bây giờ ở chốn tạm dung, trên đất Mỹ cũng chẳng sướng sao?

    Chúc bác CTHĐ luôn vui mạnh để tiếp tục viết cho các độc giả trung thành của Bác.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: