• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ngàn Năm Tây Tạng

Năm 1960, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến Ấn Ðộ. Ông được Thủ Tướng Ấn Nerhu nồng nhiệt tiếp đón. Năm ấy Ấn Ðộ đang chống Trrung Cộng. Trong góc ảnh: Ðức Ðạt Lai năm 2000.

Trong đời tôi  có những hình ảnh tôi chỉ nhìn thấy thoáng qua mà tôi nhớ mãi. Những hình ảnh người lạ, những người lạ sống ở những nơi thật xa nơi tôi sống, những người lạ không có liên can gì đến tôi, đời tôi. Như một buổi chiều xưa trong rạp xi-nê Majestic, Sài Gòn, tôi nhìn thấy trên màn ảnh Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ðấy là lần thứ nhất tôi nhìn thấy hình ảnh ông. Dường như đó là năm 1960.

Tôi không kể ngày tháng đích xác trong bài này, chuyện qua đã lâu, chuyện nhiều người biết, những chuyện không cần kể thêm ngày tháng khi chúng xẩy ra. Năm xưa ấy  Ðạt Lai Lạt Ma vừa  đi ra khỏi Tây Tạng, ông vượt Hy Mã Lạp Sơn, ông sang Ấn Ðộ.. Từ ngày này Ðạt Lai sống lưu vong, ông tố cáo với thế giới việc bọn Tầu Cộng cho quân chiếm Tây Tạng, làm nước Tây Tạng trở thành một tỉnh của nước Tầu Cộng. Từ ngày này Ðạt Lai lãnh đạo cuộc tranh đấu chống bọn Tầu Cộng xâm lăng nước Tây Tạng.

Những năm trước năm 1960  những rạp xi-nê Sài Gòn thường chiếu những phim thời sự quốc tế – Actualités – của Pháp: như phim Pathé Con Gà Trống Gô-loa vỗ cánh gáy cúc cu ly cu, như phim L’Éclair Journal. Phim thời sự những năm 1950, 1960 – đưa từ Pháp sang –  là phim đen trắng. Trên màn ảnh rạp Majestic, tôi không rõ Ðạt Lai bận áo nâu hay vàng, chỉ thấy áo ông mầu sám. Năm xưa ấy, Ðạt Lai người tầm thước, thanh tú, đi lại nhanh nhen, ông khoảng 30 tuổi. Ông ra đời năm 1935. Hình ảnh ông đi qua mắt tôi trong vài sát-na. Rồi biến mất. Trong nhiều năm tôi chẳng để ý gì đến ông và những việc ông làm. Ðể rồi 50 năm sau ngày nhìn thấy Ðạt Lai lần đầu trên màn ảnh Majestic Sài Gòn, trong những ngày sống biệt xứ ở nước Kỳ Hoa tôi thấy hình ảnh ông trên những trang báo Mỹ, những màn ảnh TiVi Mỹ. Năm tháng qua, Ðạt Lai nay là ông già thân hình nặng nề, cử chỉ chậm chạp. Nhìn ông năm nay tôi nhớ hình ảnh ông trẻ trung, linh động tôi thoáng thấy 50 năm xưa.

o O o

Ông ra đời Ngày 6 Tháng Sáu Năm 1935, sau tôi 2 năm, ông tuổi Hợi. Một buổi chiều giữa năm 1959 tôi nhìn thấy Ông lần thứ nhất trên màn ảnh rap Xi-nê Majestic, Sài Gòn. Ông xuất hiện chừng nửa phút trong phim Thời Sự, năm xưa ấy gọi là phim Actualités. Phim của một hãng Tin Pháp, phim đen trắng nên tôi thấy áo Ông mầu đen, năm đó Ông là một thanh niên dáng người thanh thoát, Ông đi lại nhanh nhẹn.

Năm 1959 Ông 24 tuổi, năm 1959 tôi 27 tuổi.

Ông là vị Phật Sống của dân Tây Tạng. Danh hiệu của ông là Ðạt-lai Lạt-ma. Nhiều người dân thường trên khắp thế giới biết danh tiếng Ông.

Như đất nước Việt Nam của tôi, quốc gia Tây Tạng liền biên giới với nước Tầu. Không phải đến thời bọn Cộng Mao làm chủ nước Tầu, các nước nhỏ ở quanh nước Tầu mới bị người Tầu xâm lăng, chinh phuc, đồng hoá. Việc xâm chiếm và đồng hoá đã diễn ra trong cả ngàn năm, nhưng đến Thế Kỷ 20, hai nước Tây Tạng, Việt Nam vẫn chưa bị trở thành hai tỉnh của “Trung Quốc Vĩ đại,” dân Tây Tạng, dân Việt Nam vẫn chưa thành dân Tầu, dù trong nhiều năm nước Việt Nam đã là một nước bị nước Tầu đô hộ: “An Nam Ðô Hộ Phủ.”

Có 2 nước nằm cạnh nước Tầu bị người Tầu xâm lăng, đặt quan cai trị, gọi là một “Phủ” của Tầu: Việt Nam là An Nam Ðô Hộ Phủ, Cao Ly là An Ðông Ðô Hộ Phủ.

Chuyện bọn Tầu Cộng ngang nhiên xua quân sang chiếm Tây Tạng, biến Tây Tạng thành một tỉnh của Tầu, làm tôi nghĩ đến nước Việt của tôi, đến dân tộc tôi. Tôi sợ, tôi buồn.

o O o

Trên đây là hai đoạn tôi viết về Ðức Ðạt Lai Lạt Ma từ năm 2005. Hôm nay, Ngày 18 Tháng 7, 2011, tôi lại viết về Ông.

Ðạt Lai Lat Ma vừa đến Thủ đô Washington. Tổng Thống Obama tiếp ông trong 45 phút tại Nhà Trắng. Tìm trên Internet và trên tờ nhật báo The Washington Post, tôi thấy những tin về cuộc gặp trên đây, những tin làm trái tim tôi nặng trĩu.

Bọn Tầu Cộng vẫn phản đối việc các chính phủ các nước Âu Mỹ tiếp Ðức Ðạt Lai. Bọn Tầu Cộng thấy hình ảnh Ðức Ðạt-lai gợi cho người Tây Tạng nhớ việc đất nước của họ bị chiếm cứ, gợi cho người thế giới nhớ đến việc bọn Tầu Cộng ngang ngược chiếm nước Tây Tạng. Trước khi Tổng Thông Hoa Kỳ tiếp Ðức Ðạt Lai, một phát ngôn viên Bộ Ngoại Gia Tầu Công – Phát ngôn viên, Ngoại Trưởng Tầu Cộng chưa thèm lên tiếng – gửi một điện văn đến Toà Bạch Ốc, nguyên văn :

“We firmly oppose any foreign official to meet with The Dalai Lama in any form. We request the US side to honor its serious commitment that recognizes Tibet as part of China and oppose Tibet independence.”

“Chúng tôi cương quyết phản đối bất cứ viên chức ngoại quốc nào gặp ông Dalai Lama với bất cứ hình thức nào. Chúng tôi yêu cầu phiá Hoa Kỳ hãy tôn trọng những cam kết về việc nhận Tây Tạng là một phần của nước Tầu và chống lại việc Tây Tạng độc lập.”

Sáng Chủ nhật 17 Tháng 7, 2011, tôi tìm trên Nhật báo The Washington Post bản tin về cuộc TT.Obama tiếp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma ở Nhà Trắng.

Bản tin được đăng nơi trang trong, trang A 3. Trích một đoạn:

“President Obama held a closed-door meeting with the Dalai Lama on Saturday despite the strong objection of the Chinese government.

In a statement released after the meeting, The White House said Obama reiterated the US position that Tibet is a part of China…

Obama restated that the United States does not support Tibetan Independence.”

“Tổng Thống Obama làm cuộc gặp kín Ðúc Ðạt Lai Lạt Ma trong buổi sáng ngày Thứ Bẩy dù có sự phản đối mạnh của chính phủ Trung Quốc.

Trong một tuyên cáo được phát sau cuộc gặp, Bạch Cung nói TT Obama nhắc lại lập trường của Hoa Kỳ coi Tây Tạng là một phần của Trung Quốc.

TT Obama tái tuyên bố rằng Hoa Kỳ không ủng hộ sự Ðộc Lập của  Tây Tạng.”

Hai đoạn tin làm tôi – CTHÐ – não nùng ai oán. Té ra chính phủ Hoa Kỳ, từ lâu, công nhận quốc gia Tây Tạng là một phần đất của Trung Quốc, lại té re – xin lỗi – té ra từ lâu rôi các chính phủ Hoa Kỳ không ủng hộ Quốc Gia Tây Tạng độc lập. Dzậy mà tôi chẳng biết gì cả về sự công nhân và không ủng hộ đó. Tôi ngơ ngác:

Dzậy thì Ðức Ðạt Lai đến nước Mỹ, chắp tay lậy các ông Mỹ cứu giúp nuớc Tây Tạng, dân Tây Tạng làm chi?

Quí vị nào biết tù năm 1960 vào tháng nào, năm nào chính quyền Hoa Kỳ “công nhận Tây Tạng là một phần cuả nuớc Tầu Cộng??” Tổng Thống nào nói lời công nhận ấy? Sự công nhận ấy có phải đưa ra thảo luận trước Quốc Hội Hoa Ky và có phải được Quốc Hội chấp thuận hay chỉ cần một Tổng Thống Hoa Kỳ nói ra là đuợc, là hợp hiến pháp?? Xin cho tôi biết, tôi cám ơn.

Một ông bác sĩ làm chính trị nói:

“Phục ông Ðạt Lai quá. Ông ấy đi khắp thế giới, chỉ chắp tay lậy thôi..”

Tôi ngao ngán nghĩ:

“Ði khắp thế giới, chỉ chắp tay lậy?? Ðược cái gì? Nuớc Tây Tạng mất vẫn mất.”

Tôi nghĩ  thế nhưng tôi không nói ra.

Trông người lại ngẫn đến ta…

Nỗi buồn, sự tuyệt vọng như chất kịch độc, ngấm vào tim tôi. Tôi không còn viết gì được.

Nhớ lại17 năm trước khi tôi mới đến Kỳ Hoa, tôi lấy cái tên “Viết ở Rừng Phong” đặt cho loạt bài văn nghệ-văn gừng tôi sẽ viết, “Viết ở Rừng Phong” sẽ là những bài ca tụng Tình Yêu, những chuyện Văn Thơ. Cuộc sống lưu vong kéo tôi sa đà vào những chuyện chính chị chính em, vào việc đả kích, móc lỗi người này, người nọ. Hôm nay với trái tim nặng như đá, tôi mời quí vị bạn đọc ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca đọc bài văn nghệ này.

Như tôi mời quí vị một chén chè bột khoai bún Tầu đường cát hạt sen của Sài Gòn 9 Giờ Tối những năm 1960. Quí vị dzùng qua nếu không ấm bụng, mát dzạ, cũng chẳng có hại gì.

Một đêm ở Virginia, một số ông HO mở một cuộc gặp mặt. Các ông gọi cuộc gặp này là Về Bến Cũ: các ông gọi Sài Gòn là Bến Cũ của các ông. Tôi đến dzự. Tôi gập lại nhiều bạn ở xa đến: Hoàng ngọc Liên ở Raleigh, Bắc Carolina, Trương sĩ Lương ở Dallas, Texas, Cao Sơn ở San José, Cali, cô cháu Hồng Vân, con ông bạn Quốc Phong Chủ nhiệm Tuần báo Kịch Ảnh và Nhật báo Tiếng Vang ngày xưa; nay cô cháu Hồng Vân là Chủ nhiệm Nguyệt san Kịch Ảnh ở Houston, Texas, và tôi xúc động gập lại Huỳnh Anh.

Huỳnh Anh và tôi không gập nhau không phải hai mươi nhăm năm mà là đã ba mươi mấy năm. Những năm trước 75 cùng sống trong lòng thủ đô Sàigòn thân thương nhiều anh em chúng tôi có khi cả hai, ba năm không gập nhau. Vào lúc 10 giờ đêm trong Nhà Hàng Thần Tài Mới, khi anh đi đến, nhìn miệng anh cười, thấy ánh mắt anh, tôi nhận ra anh:

— Huỳnh Anh? Ở đâu?

— San Francisco.

— Chúng mình gặp nhau lần đầu ở Văn Cảnh, có phải không nhỉ? Lúc ấy toa đang chơi nhạc ở Văn Cảnh.

– Ðúng. Còn nhớ ai giới thiệu mình với nhau không? Duy Sinh…

Năm ấy là năm 1960. Ðời người trung bình có sáu mươi năm  – Sáu mươi năm cuộc đời – Huỳnh Anh và tôi gặp nhau từ bốn muơi năm trước, chúng tôi không gặp nhau đến ba mươi năm, nay tình cờ gặp lại nhau ở quê người, tôi bồi hồi nhớ lại hình ảnh đầu tiên của Huỳnh Anh tôi thấy năm xưa: anh ngồi với dàn trống trên sàn nhạc Dancing Văn Cảnh. Năm ấy anh là Xếp Ðoóckét ban nhạc ở Dancing này. Và năm ấy hai chúng tôi còn rất trẻ, chúng tôi tên nào cũng chỉ mới trên dưới ba mươi tuổi. Bốn mươi năm qua, đêm tha hương ở một nơi xa cách quê hương đúng nửa vòng trái đất, cây đa, bến cũ, những con đò gặp nhau ở bến lưu vong tình ngãi, tâm tư không khác xưa, những con đò và những ông chủ đò, chỉ có những ông lái đò xưa nay không còn trẻ nữa.

o O o

Bến Cũ mười một giờ đêm, những con thuyền lẻ tẻ theo nhau rời bến, ông bạn văn nghệ Ðài VOA hỏi tôi:

— Anh có bài thơ về người tình của Thạch Sùng, nàng kỹ nữ tên gì đó, nhớ không?

— Lục Châu.

— Cho tôi bài thơ đó.

Dễ thôi. Có ngay. Hôm nay Rừng Phong mưa rơi – Mùa Hạ 2000 mưa nhiều trên Virginia Ðất Tình Nhân – vì Ðêm Tao Ngộ Tha Hương Bến Cũ tôi viết lại chuyện đời nàng Lục Châu đời Tấn, người kỹ nữ dám chết vì người đàn ông yêu thương nàng.

Nói đến Lục Châu là phải kể Thơ Ðỗ Mục. Ðỗ Mục tài hoa – chỉ với hai bài thơ tứ tuyệt – tám câu thơ, mỗi câu bẩy chữ, tất cả  Ðời Tấn, trước đời chúng ta khoảng một ngàn năm trăm năm, có Thạch Sùng và Vương Khải là hai người giầu nhất Trung Quốc. Tục truyền Thạch Sùng từng làm Thái Thú Giao Chỉ, tức làm Quan Toàn Quyền cai trị nước Nam ta, lại có lời đồn Thạch Sùng từng hành nghể hải tặc, tức cướp biển. Thạch Sùng yêu nàng kỹ nữ Lục Châu – cũng lại chuyện người đời nói lại với nhau: Thạch Sùng “mua” Lục Châu bằng cách để nàng đứng lên cân, nàng cân nặng 40 ký, Thạch Sùng cho xếp đủ 40 ký-lô vàng, ngọc để đổi nàng. Thạch Sùng đưa Lục Châu về ở Hồ Nam, làm riêng cái lầu trong Vườn Kim Cốc cho nàng ở, rất mực yêu thương nàng.

Chẳng cứ gì thời loạn, ngay trong thời bình ta thường thấy:

“Tiểu nhân chết vì tiền, nhà giầu chết vì của, kẻ sĩ chết vì cái danh của mình.”

Ðó là quy luật của muôn đời.

CTHÐ thêm:

Ðàn bà chết vì nhan sắc của mình.”

Ðời nào cũng vậy.  Chỉ có trong thời loạn người ta dễ chết hơn trong thời bình. Cuộc sống yêu đương của Lục Châu—Thạch Sùng đang đầm ấm thì đất bằng nổi sóng, tai họa ập đến. Hồ Nam có lãnh chúa kiêm tiểu vương Triệu Vương Luân, và anh Tướng tên Tôn Tú. Tôn Tướng Quân mê nhan sắc Lục Châu, từng ngỏ lời yêu cầu Thạch Sùng “tặng” Lục Châu cho Y. Nhưng đâu có được! Xin lỗi. Nhờ anh tí. Tướng thì Tướng chứ. Anh bắt nạt ai cũng được, anh đoạt vợ ai cũng được, anh bắt nạt, anh định cướp người yêu của Tỉ phú Thạch Sùng thì đâu có được. Mà anh Tướng này cũng kỳ cục. Anh thích đàn bà đẹp thì người ta cũng thích đàn bà đẹp. Của người ta anh đòi người ta dâng hiến cho anh là ký gì? Anh đòi không được anh cay cú anh làm hại người ta. Tôn Tú  kết hợp với Triệu Vương Luân làm hại Thạch Sùng.

Ðây là trường hợp “quân quyền” cấu kết với “vương quyền” – tên gọi khác là “quân phiệt” cấu kết với “lãnh chúa” — cùng đánh phá anh “tài phú,” tức anh thường dân giầu tiền. Ðánh để lấy của. Bị đánh kiểu này anh thường dân tài phú nhiều tiền nhưng ít thế lực chính trị chỉ có nước từ chết đến chết. Ngoài việc “chai hia” kho bạc vàng, châu bảo của Thạch Sùng, anh Tướng Tôn Tú còn hí hửng anh sẽ chiếm được nàng Lục Châu không phải thơm như mà là thơm hơn múi mít.

Thạch Sùng bị vu tội mưu phản, tức tội muốn cướp ngôi vua, muốn lên làm vua. Khi quân của Tôn Tú kéo đến Vườn Kim Cốc, Thạch Sùng và Lục Châu đang ở trên lầu cao. Thạch Sùng nói với nàng:

— Ta vì em mà chết.

Lục Châu nói:

— Em chết trước chàng.

Nàng nhẩy từ trên lầu xuống đất chết.

Năm trăm năm sau Ðỗ Mục đến Vuờn Kim Cốc, tưởng nhớ Lục Châu, làm  thơ:

Phồn hoa sự tán trục hương trần
Lưu thủy vô tình, thảo tự xuân.
Nhật mộ đông phong oán đề điểu
Lạc hoa do tự trụy lâu nhân.

Thơ CTHÐ phóng tác:

Phồn hoa, hương sắc cũng tiêu tan
Nước chẩy vô tình, cỏ vẫn xuân.
Chiều tà ai oán chim kêu gió
Hoa rơi như kẻ rớt lầu Tần!

Ðây là nguyên lai bài tứ tuyệt Lục Châu thứ hai của Ðỗ Mục: Ðời Ðông Chu, Vua Sở đem quân đánh nước Tức, giết vua Tức, diệt nước Tức, diệt đây có nghĩa là sát nhập nước Tức vào nước Sở; Vua Sở bắt vợ Vua Tức là Tức Mặc về làm vợ. Tức Mặc rất đẹp, được gọi là Ðào Hoa phu nhân. Vua Sở yêu thương Tức Mặc, phong làm hoàng hậu, con của Tức Mặc – đẻ với Vua Sở — về sau làm vua nước Sở. Tuy sống trong cung vua nước Sở, được Vua Sở yêu thương, có với Vua Sở hai con, Tức Mặc suốt đời không nói với Vua Sở một tiếng ; nàng im lặng từ lúc nước mất, chồng  chết đến khi nàng qua đời.

Ðỗ Mục làm thơ:

Tế yêu cung lý lộ đào tân
Mạch mạch vô ngôn kỷ độ xuân.
Tất cánh Tức vong, duyên đế sự
Khả lân Kim Cốc trụy lâu nhân.

Thơ CTHÐ phóng tác:

Lưng ong cung cấm vẫn giai nhân
Ðăm đăm không nói mấy mùa xuân.
Tức đã tiêu rồi, duyên đã hết
Thương người Kim Cốc rớt Lầu Tần!

Thơ vịnh Tức Mặc nhưng lại ca tụng Lục Châu dám chết vì chồng, khen Lục Châu dám chết vì chồng là chê Tức Mặc không dám chết theo chồng. Ðỗ Mục tha thiết thật nhiều với Lục Châu. Ý bài thơ đại khái:

Vào cung nước Sở, nơi nhà vua yêu thích những người đàn bà eo thon, nàng vẫn là người đẹp nhất, nàng lặng lẽ không nói trong mấy chục năm; nước Tức đã mất rồi, duyên cũ đã hết – (Sao nàng không chết theo Vua Tức?) Thương cho nàng Lục Châu nhẩy lầu chết vì người yêu mình.

Cùng thời với Ðỗ Mục – đời Ðường Túc Tông, cháu của Ðường Minh hoàng – Ngưu Tăng Nhụ, từng làm Thứ Sử Dương Châu rồi Tể Tướng, viết một tập truyện ngắn nhan đề là U Quái Lục: những chuyện xẩy ra trong cõi u u minh minh, trong cảnh giới huyền hoặc nửa là cõi đời này nửa không phải là cõi đời này, một loại tiểu thuyết giả tưởng. U Quái Lục có truyện Chu Tần Hành Kỷ viết về cuộc minh ngộ – cuộc gặp trong cõi u minh – của Ngưu Tăng Nhụ với những giai nhân đời trước: Vương Chiêu Quân, Dương Quý Phi và Lục Châu. Trong truyện Lục Châu làm bài thơ:

Thử địa nguyên phi tích nhật nhân
Ðịch thanh không oán Triệu Vương Luân.
Hồng tàn, lục tụy hoa chi hạ
Kim Cốc thiên niên cánh bất xuân.

Ðất này không phải là đất của người tình xưa, hoặc đất này không còn người tình xưa nữa. Tiếng địch còn oán hận mãi Triệu Vương Luân. Mầu hồng, mầu đỏ tàn tạ trong những cành hoa. Ngàn năm Vườn Kim Cốc không có xuân.

Thơ CTHÐ phóng tác:

Ðất này chẳng phải đất tình nhân.
Tiếng tiêu oán mãi Triệu Vương Luân.
Hoa tàn, lá úa trên cành lạ,
Kim Cốc ngàn năm không có xuân.

Và đây là bài Thơ Ðường Thất Ngôn Tứ Tuyệt thứ tư nói đến Lục Châu của Thôi Giao:

Tặng Tỳ

Công tử, vương tôn trục hậu trần
Lục Châu thùy lệ trích la cân.
Hầu môn nhất nhập thâm như hải
Tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân!

Thơ dịch của Bích Hải:

Tặng Nàng Tỳ Nữ

Công tử, vương tôn theo dấu bụi
Lục Châu rơi lệ ướt khăn hường.
Vào cửa vương hầu sâu tựa bể
Chàng Tiêu từ đó khách qua đường.

o O o

Quê người sầu ngắm mây luu lạc
Bến cũ buồn nghe sóng bẽ bàng…

Bến Cũ ở quê người chỉ là bến mượn..! Ơi..các ông chủ thuyền lưu lạc tha hương… Bao giờ các ông trở về Bến Cũ Sài Gòn cho chúng tôi được theo về? Tôi bùi ngùi nhớ lại một buổi tối những năm 1991, 1992 ở Thành Hồ, tôi thấy trên màn ảnh TiVi hình ảnh những sĩ quan Mũ Ðỏ Angola, trở về thủ đô của họ. Tôi nghĩ ước gì có ngày tôi được nhìn thấy những ông Mũ Ðỏ, Mũ Nâu, Mũ Xanh, Mũ Ðen của quân đội tôi ngồi trên xe Jeep chạy trên những đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi…

Ước gì quân ta trở về..! Ðó là ước mơ của ba mươi triệu công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa những năm tháng xa xưa, những năm tháng tối đen từ 1975 đến 1985, 1986… Những năm ấy tôi sống với nhân dân, tôi đau khổ với nhân dân, tôi là nhân dân, tôi biết nhân dân ta mong quân ta trở về, ba mươi năm đã qua, bây giờ tôi không biết…

“Ở đời mười việc thì có đến tám, chín việc không được như ý!” Vô Nhai Tử, Chưởng môn Vô Vi Phái, đã thốt ra câu ấy khi ông nhìn thấy truyền nhân chưởng môn của ông là Hư Trúc Tử xấu trai quá. Than ôi… Vẫn biết ở đời mười chuyện thì có đến tám, chín chuyện ta không được như ý nhưng có lẽ nào suốt đời ta ta cứ:

Quê người sầu ngắm mây lưu lạc
Bến cũ buồn nghe sóng bẽ bàng..!

Trái tim còn thắm nhưng mái đầu đã bạc… Ngày tháng thoi đưa.. Ngày vui qua mau mà ngày buồn cũng mau qua không kém.. Ơi… những ông chủ thuyền Bến Cũ tuổi đời năm ny  chưa qua Sáu Bó, các ông còn nhiều thời gian để có thể trở về Bến Cũ Sài Gòn. Trở về với Cờ Vàng, trở về trong Sài Gòn không còn thằng cộng sản nào. Ngày nào các ông về Bến Cũ, nếu cõi đời này không còn tôi, xin một ông nào đó nhớ tôi thầm nói với tôi một câu.

Một câu thôi,  câu:

Công Tử Hà Ðông ơi… Chúng ta đã trở về..!

Advertisements

9 Responses

  1. Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Australia năm 1996 (?) , Ngài đến viếng chùa Quang Minh ( Braybrook, Victoria) và nói chuyện cho người VN nghe trong suốt ngày hôm đó. Tuy không được Premier Jeff Kennett tiếp ( vì thằng này giống Hitler, bản chất cà chớn, độc tài, chơi với bọn chủ cà, tư bản) nhưng có John Brumby, lãnh tụ đối lập, sau này cũng là Premier ( Thủ Hiến ) của Victoria tháp tùng. Ngài nói chuyện bằng tiếng Anh, giọng ấm áp, vui vẻ, thỉnh thoảng pha trò nên mấy ngàn thính giả, dân Việt và mọi sắc tộc khác kể cả dân chính gốc Úc , vỗ tay khen ngợi từng hồi. Sau đó Ngài đi các thành phố khác ở Úc như Sydney, Adelaide, Brisbane…để nói chuyện. Ngài nói về những chuyện đời sống, chuyện đời thường, có ngụ ý giáo dục, khuyên răn con người sống đàng hoàng, đạo đức, cho đúng với ý nghĩa của nhân sinh. Tôi là một trong những thính giả hôm đó, tôi không nghe Ngài nói lời nào kích bác Trung cộng, hay đả kích ai tiếp tay, nhượng bộ Trung cộng hay không giúp Tây Tạng độc lập, không trợ giúp Ngài tranh đấu cho sự độc lập của xứ sở Ngài. Đức Đạt Lai Lạt Ma đúng là một vị Phật sống !
    Gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma là một trong những lần tôi được gặp những vị khách quý viếng thăm Melbourne ( như CTHĐ Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Chí Thiện, Doãn Quốc Sỹ, Ó Đen Lý Tống…). Nghĩ lại, liều mình ra đi ” tìm đường cứu …mình và gia đình, vợ con… cũng được đền bù xứng đáng, xin cám ơn Trời Phật ! Cám ơn nước Úc ( not including J Kennett & John Little Howard & his puppet Pauline Hanson !)

  2. The Buddhist art of nonjudgmental judging is subtle http://www.guardian.co.ukBarbara O’Brien: The Dalai Lama refused to judge the food on MasterChef, but it is a mistake to assume that Buddhists view all judging as bad..

  3. Obama invites the Dalai Lama to White House, China protests – http://www.phayul.com http://www.phayul.com

  4. Sky News: China slams Dalai Lama- Obama meeting http://www.skynews.com.auSky News is Australia’s leader in 24-hour news.

  5. Kính bác CTHD,

    Nhân theo dõi tình nhình thời sự ở Việt nam chợt nhớ đến Bác ,vào trang mạng Hoàng Hải Thủy, tôi đọc được bài mới của Bác mà muốn rơi lệ. Bác CTHĐ kể chuyện dông dài, bắt đầu từ chuyện thấy hình ảnh của Đức Đại-Lai-Lat-Ma trêm màn ảnh xi-nê ở Sài gòn năm 1960. Ngài đã lãnh đạo phong trào đòi độc lập cho Tây Tạng khỏi sự xâm chiếm của Tàu Cộng không mệt mỏi từ những năm còn trẻ như CTHĐ lúc khoảng 27 tuổi, được nhiều sự ủng hộ của thế giới nhất là Mỹ quốc. Qua đến bây giờ tuy Ngài vẫn tiếp tục tranh đấu cho nền độc lập của quê hương,sự ủng hộ đó của chính quyền Hoa Kỳ đã thay đổi do sự lớn mạnh của nền kinh tế Tàu Cộng. Rồi chuyện gặp gỡ các bạn bè cũ tại một bữa tiệc ở Virginia trong đó có nhạc sỹ Huỳnh Anh. Huỳnh Anh cũng là một trong những nhạc sỹ tôi ưa thích, tác giả các bản nhạc với cung cách lừng khừng ” Biết Nói Gì đây” , bản có điệu jazz bất hủ hình như đầu tiên trong làng nhạc Việt ” Thuở Ấy Có Em” mà các ca sỹ hiện nay vẫn ưa chuộng hát, và nhất là bản ” Mưa Rừng” đã được quay thành phim chiếu ở Sài gòn trước năm ’75 có tài tử Thẩm Thúy Hằng đóng. Rồi nhân chuyện một người bạn ở đài VOA hỏi về bài thơ của nàng kỹ nữ tên Lục Châu, người tình của Thạch Sùng, Bác CTHĐ đã giảng một loạt các tích truyện tình Tàu ngày xưa để người đọc có dịp chiêm ngưỡng văn chương và các nhà thơ, nhà nghệ sỹ Tàu. Cuối cùng, sau khi đã liên kết những chuyện thiên hạ Bác đã hạ thủ một cách phũ phàng khi liên cảm đến ngày mất nước không xa của dân tộc Việt Nam vào bọn Cộng sản Tàu gian manh cùng với sự tiếp tay bán nước của bọn Việt cộng hèn hạ, đồng thời nhắn nhủ những người trẻ hơn Bác,

    Xin trích CTHĐ:

    Trái tim còn thắm nhưng mái đầu đã bạc… Ngày tháng thoi đưa.. Ngày vui qua mau mà ngày buồn cũng mau qua không kém.. Ơi… những ông chủ thuyền Bến Cũ tuổi đời năm ny chưa qua Sáu Bó, các ông còn nhiều thời gian để có thể trở về Bến Cũ Sài Gòn. Trở về với Cờ Vàng, trở về trong Sài Gòn không còn thằng cộng sản nào. Ngày nào các ông về Bến Cũ, nếu cõi đời này không còn tôi, xin một ông nào đó nhớ tôi thầm nói với tôi một câu.

    Một câu thôi, câu:

    – Công Tử Hà Ðông ơi… Chúng ta đã trở về..!

    Ngưng trích….

    Đọc Bác CTHĐ viết mà buồn đến não ruột !

  6. The first statement of US policy toward Tibet appeared in July 1942 in a memorandum to the British Government:”For its part,the government of the United States has borne in mind the fact that the Chinese government has long claimed suzerainty over Tibet and the Chinese constitution lists Tibet among areas constituting the territory of the Republic of China.This Government has at no times raised a question regarding either of these claims”…A 1994 State Department report to Congress clearly reiterated the long-standing of US strategic position on Tibet:”Historically,the US has acknowledged Chinese sovereignty over Tibet.Since at least 1966,US policy has explicitly recognised the Tibetan Autonomous Region as part of the People’s Republic of China.” The US,Tibet and the cold war /Melvyn C. Goldstein/April 2008.

  7. “Bến Cũ ở quê người chỉ là bến mượn..! Ơi..các ông chủ thuyền lưu lạc tha hương… Bao giờ các ông trở về Bến Cũ Sài Gòn cho chúng tôi được theo về? Tôi bùi ngùi nhớ lại một buổi tối những năm 1991, 1992 ở Thành Hồ, tôi thấy trên màn ảnh TiVi hình ảnh những sĩ quan Mũ Ðỏ Angola, trở về thủ đô của họ. Tôi nghĩ ước gì có ngày tôi được nhìn thấy những ông Mũ Ðỏ, Mũ Nâu, Mũ Xanh, Mũ Ðen của quân đội tôi ngồi trên xe Jeep chạy trên những đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi…

    Ước gì quân ta trở về..! Ðó là ước mơ của ba mươi triệu công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa những năm tháng xa xưa, những năm tháng tối đen từ 1975 đến 1985, 1986… Những năm ấy tôi sống với nhân dân, tôi đau khổ với nhân dân, tôi là nhân dân, tôi biết nhân dân ta mong quân ta trở về, ba mươi năm đã qua, bây giờ tôi không biết…”

    Đoạn văn này làm đứa trẻ không biết đến chiến tranh Vietnam như cháu phải khóc. Cháu nhớ đến ước mơ cháy lòng của bà ngoại cháu đón quân ta về, nhưng bà chờ không nổi….
    Trong các forts, các camps bây giờ cháu nhìn thấy các quân nhân đồng minh đến học, cháu nghĩ đến các quân nhân VNCH đã từng ở đây, đã từng nói cười, học hành, được tôn trọng và đối xử ngang hàng… Hãnh diện!
    Với gia đình cháu, Saigon chỉ thực sự là Saigon khi có người Saigon chánh tông vui sống. Bây giờ miền đất đó dùng cái tên Saigon như cái áo khoác cố che đi một đống hỗn tạp sống vô vị. Địa danh vẫn còn đó nhưng hồn Saigon đã đi cùng với chúng ta đến “bến mượn”, đến “miền viên mãn”, hay ở trong lòng những đứa trẻ đã chỉ có bo bo cầm hơi năm xưa…
    Cám ơn tác giả rất nhiều,
    Nguyen

  8. Trích:<>

    Kính bác HHT,
    Đọc những dòng trên,cảm khái cách gì?(xin phép được chôm vài câu bác ưa dùng).Cháu xin hứa cháu sẽ nói câu trên khi cháu trở về vào lúc đó,và cháu chắc chắn ngày đó sẽ không xa,ngay trong kiếp sống này của cháu(cháu năm nay 58 tuổi).Chắc như đinh đóng cột,chắc không thể nào chắc hơn.
    Và…cháu cũng tin rằng lúc đó Bác vẫn còn ngồi đây,Bác mới gần 8 bó,dư sức nhìn thấy ngày đó,chỉ mong bác còn đủ sức khoẻ leo lên máy bay ngồi gần 1 ngày trời để về Saigon thân yêu treo cờ vàng,và bác sẽ không cần nhờ ai nói thầm với bác câu trên,mà bác sẽ tự nói:”Sài gòn ơi!Chúng tôi đã trở về!”
    Nhìn vào tình hình hiện nay,cháu tin chắc là diều đó sẽ xảy ra trong 1 tương lai rất gần…

  9. “Trong một tuyên cáo được phát sau cuộc gặp, Bạch Cung nói TT Obama nhắc lại lập trường của Hoa Kỳ coi Tây Tạng là một phần của Trung Quốc.”; có gì lạ đâu mà bác HHT phải thắc mắc và buồn lòng. Sau bao năm đi khắp thế giới tranh đấu mà vẫn chẳng làm được gì. Ngày nay, ngay cả Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đành phải chấp nhận Tây Tạng là thuộc Tầu và ông chỉ xin cho Tây Tạng được “tự trị” mà bọn Đại Hán vẫn không nhượng bộ. Lịch sử đã chứng minh vùng đất nào mất vào tay bọn Hán thì chúng nó sẽ ngoặm luôn, không bao giờ nhả ra nữa. Vậy mà bọn Việt cộng ngày nay còn cho chúng thuê toàn bộ những khu rừng chiến lưoc với giá rẻ mạt ở miền Bắc (Nông Đức Mạnh tuyên bố: chúng ta chưa cần đến nên cho nước ngoài thuê, thì có sao đâu!!!). Rước chúng vào khai thác nhôm ở Tây Nguyên, và gần đây nhất là vào tận Cà Mau để xây dựng nhà máy điện. VN chúng ta cũng sẽ thành một tỉnh của Tầu một ngày không xa. Đau lòng lắm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: