• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mảnh Đất Hình Chữ S

Trong mấy năm Nguyễn Chí Thiện và tôi ở gần nhau, trong Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích, chúng tôi ở hai thị trấn ở quanh Washington DC. Tất nhiên chúng tôi có trao đổi với nhau về chuyện văn nghệ nhưng đây là lần thứ nhất chúng tôi nói chuyện tay đôi  cả hai, ba tiếng đồng hồ về những chuyện đời tư, chuyện thơ văn, chuyện sáng tác. Tôi hỏi, Thiện trả lời. Tôi viết lại những lời Thiện nói.

Công Tử Hà Ðông:  Bài thơ “Ôi Mảnh Ðất..” anh làm năm 1967. Ðây là nguyên thơ:

Ôi mảnh đất nửa trên hình chữ S
Ước lìa ngươi, ta muốn được lìa ngươi
Ta chót yêu ngươi từ thưở lên mười
Ngươi lừa phản nên đời ta mắc kẹt.
Tình yêu đã trở thành thù ghét
Nếu rời ngươi, dù cụt mất một chân
Chặt nốt một tay, ta cũng không cần!
Mà coi đó là điều may mắn nhất
Vì sống gần ngươi là ta mất tất
Vì sống gần ngươi, ta thành súc vật.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, Hà Nội năm 1980

Ðất nước ta có tội tình gì mà ta thù ghét đất nước ta? Ðất nước ta đâu có hãm hại ta, đâu có lừa phản ta? Ðất nước ta bị bọn cộng sản tàn phá, tôi nghĩ ta phải thương xót đất nước ta hơn mới phải chứ? Sao ta lại chuyển lòng thù ghét cộng sản của ta vào đất nước? Tôi nghĩ chúng ta có tội khi để đất nước rơi vào tay bọn cộng sản, ta càng có tội hơn khi ta không cứu được đất nước ra khỏi tai họa cộng sản.

Nguyễn Chí Thiện: Ðất nước ta chẳng bao giờ có tội, nhưng khi bị bọn cộng sản chiếm, đất nước ta trở thành cũi chó, chuồng trâu. Những năm 1967 tôi sống trong địa ngục ấùy, tăm tối, tuyệt vọng, tôi thấy tôi chỉ có thể sống xứng đáng là sống khi tôi thoát ra khỏi đất nước. Tôi căm giận cộng sản nên tôi hờn giận tất cả, tôi làm thơ: “Giận thân rồi lại giận đời. Giận thời chuyên chính, giận người hèn ngu. Giận trời, giận đất âm u. Giận sông, giận núi quân thù dọc ngang.”

Nhiều người cũng nghĩ như tôi. Phải chạy trốn quê hương vì cuộc sống ở quê hương làm ta khổ sở quá. Ðể cho cộng sản chiếm quê hương, tất cả chúng ta đều có tội. Có thể khi làm bài thơ ấy tôi dùng từ không được chính xác.

CTHÐ: Năm 1986 anh làm bài:

Mặt trời về phương Tây
Xà-lim chiều thứ bẩy
Ôi phương tây giờ này
Thực mà như mộng ấy!
Kiếp này không được thấy
Kiếp sau đành chờ vậy!

10 năm trước khi anh đến Hoa Kỳ, anh cho là kiếp này anh không được thấy phương Tây, anh đành chờ kiếp sau. Ðến hôm nay anh đã sống năm, sáu năm ở phương Tây, anh thấy phương Tây thế nào, anh cho biết đôi chút về cuộc sống của anh ở phương Tây, phương Tây có đáng để anh mơ ước đến sống không, anh có thấy thương nhớ quê hương không? Anh có thấy tíếc đã bỏ nước ra đi không? Những gì trong cuộc sống của anh ở phương Tây làm anh hài lòng, có gì làm anh thất vọng, bất mãn?

NCT: Từ ngày mới lớn những hình ảnh của phương Tây, sông Seine, vườn Luxembourg, thành phố Cựu Kim Sơn..đã hấp dẫn tôi. Tôi muốn được thấy tận mắt những cảnh ấy. Năm 1995 tôi rời quê hương sang phương Tây, sau sáu năm tôi thấy phương Tây không thích hợp với những người có tuổi, nhiều bệnh, như tôi. Khi đã thấy phương Tây tôi không còn thích nó nữa. Phương Tây chỉ tốt khi ta du học, du lịch, phuơng Tây không phải là nơi để tôi sống vĩnh viễn. Ở các nước phương Tây khoa học, kỹ thuật phát triển, nhân dân có đời sống vật chất cao, được hưởng nhiều quyền tự do nhưng cùng lúc tội ác cũng gia tăng, bạo loạn không ngừng, an ninh của người dân không được bảo đảm, người phương Tây có thể bị chết đột ngột ở nơi làm việc, trong trường học, trong cả nhà thờ, đời sống tinh thần sa súùt, số người chán đời càng ngày càng nhiều; thống kê cho thấy năm 2000 có 12.000 người tự tử ở Pháp. Sống ở phương Tây tôi không phải lo về cơm áo, như những người cùng tuổi, tôi phải sống cô đơn. Tôi không tiếc đã bỏ nước ra đi vì tôi ra đi với ý định tôi sẽ làm ở nước ngoài một số công việc tôi nghĩ có ích cho nhân dân, cho tổ quốc, những viêc tôi không thể làm khi tôi sống trong nướcù. Có xa mới thấy nhớ. Sáu năm rồi, tôi rất nhớ Hà Nội, Hải Phòng, tôi nhớ Sàigòn dù tôi chỉ sống ở Sài Gòn ít ngày. Tôi rất mong có ngày tôi được trở về quê hương.

CTHÐ: Từ ngày sang Hoa Kỳ anh có làm bài thơ nào không? Nếu có anh có thể cho bạn đọc thưởng thức một vài bài thơ mới làm ở hải ngoại của anh không? Nếu không có bài thơ nào mới anh có thể cho biết tại sao lại không?

NCT: Tôi ngừng làm thơ từ năm 1988 khi tôi ở trại tù B 14, thường gọi là Sà-lim Bộ, ở Hà Ðông. Từ năm đó tôi dành thì giờ và trí óc vào việc học cho thuộc lòng thật kỹ những bài thơ tôi đã làm, sửa chữa, hoàn chỉnh những bài thơ đó. Cho đến năm 1988 tôi đã làm khoảng 700 bài thơ.  Thơ Tù quanh quẩn ở mấy đề tài cùm kẹp, đói khổ, khoai sắn, bệnh hoạn chết chóc, tôi đã làm thơ về tất cả những đề tài đó. Với tôi, đề tài tù đày đã cạn kiệt. Ðời sống ở xứ người chưa thâm nhập trong tôi đủ để tôi có cảm xúc làm thơ. Từ ngày sang Hoa Kỳ tôi chỉ làm hai bài thơ; bài thứ nhất tôi làm ở San Jose năm 1995, mấy tháng sau ngày tôi đặt chân lên đất Hoa Kỳ, khi tôi gặp ở đó bà con gái cụ Vũ Thế Hùng, một tù nhân chính trị đồng tù với tôi. Cụ Hùng có mang vào tù mấy tấm ảnh gia đình, trong số có ảnh cô con của cụ. Trong tù buồn không có việc gì làm, mỗi lần cụ Hùng nhớ gia đình lấy ảnh ra xem, mấy anh tù trẻ xúm lại xin xem ké. Khi đến San José tôi gặp người tôi đã nhìn thấy trong ảnh mười mấy năm xưa ở Nhà Hỏa Lò, năm 1995 bà con gái cụ Hùng khoảng năm mươi tuổi. Nhớ lại khi ở trong tù nhìn thấy ảnh bà chụp năm bà mười sáu, mười bẩy tuổi, tôi làm bài thơ:

BÓNG HỒNG DƯƠNG THẾ

Có người con gái mắt bồ câu
Lưu lạc, ly hương từ thưở xuân thì
Ðất Mỹ
Trời Âu
Xa lắm!
Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường mang ảnh con mình ra ngắm
Ðêm tù
Âm khí âm u
Mấy chàng trai mắt trũng, chân phù
Thờ thẫn cầm nàng trong tay
Cầm cả mùa xuân hạnh phúc
Bóng hồng dương thế xa bay…

Ðây là bài thơ thứ hai tôi làm ở Hoa Kỳ, năm 1995:

HỒNG VÂN

Bao lâu rồi, có thấy gì đâu
Anh thôi đợi, nhưng cà-phê nguội đắng
Anh ngồi lặng, nhìn ra phố vắng
Làm bận lòng em, anh biết lỗi từ lâu
Buổi gặp em như một phép nhiệm mầu
Lòng anh, cảnh trời Ðông bảng lảng
Em hiện ra, thành mượt mà hè sáng
Tưng bừng huyết phượng nở ngàn bông
Nhưng thời gian không hơi ấm tình nồng
Hoa phượng đỏ thâm bầm tiết đọng
Trời Ðông về, ảm đạm, mênh mông
Lãng đãng bay xa, xa mãi, vết mây hồng

CTHÐ: Theo anh, những người chống Cộng như anh có thể làm được những việc gì để tiếp tục sứ mạng của mình ở nước ngoài? Anh có nghĩ rằng những người chống Cộng khi bỏ quê hương đi ra sống ở nước ngoài là tự chấm dứt sự nghiệp chính trị, văn học của mình không?

NCT: Vấn đề dư luận người thế giới đối với chế độ cộng sản ở nước ta rất quan trọng, ta có thể, và ta có bổn phận, làm cho người thế giới biết rõ hơn thảm trạng của nhân dân ta, thấy sự bạo ngược của bọn cộng sản cầm quyền ở nước ta. Tôi không nghĩ rằng những người làm văn học, chính trị khi ra nước ngoài là chấm dứt sự nghiệp của mình. Chúng ta có thể làm được nhiều việc phục vụ nhân dân ta ở nước ngoài lắm chứ. Ngoài việc tố cáo chế độ cộng sản bạo tàn, ta có thể ủng hộ những người đang chống cộng sản trong nước. Như Bùi Ngọc Tấn, khi viết “Chuyện Kể Năm 2000” và gửi tác phẩm 600 trang ấy ra nước ngoài, anh chấp nhận hy sinh, có thể lại bị tù tội. Ở nước ngoài chúng ta phải ủng hộ, phải cổ võ những người như Bùi Ngọc Tấn, những người phản tỉnh đang đòi Ðảng Cộng sản phải từ bỏ độc tài, sự giúp đỡ không những chỉ tinh thần mà cần cả tiền bạc. Không phải cứ sống trong nước mới có thể, và là có thể, chống cộng sản; muốn chống cộng ở trong nước ta phải có tài, ta phải có can đảm, phải chấp nhận hy sinh, không những chỉ nguy hiểm bản thân mà còn nguy hại cho cả vợ con. Sống ở nước ngoài ta không viết được về đời sống hiện tại ở quê hương, ta không nắm bắt được ngôn ngữ thời đại, ta không biết những khát vọng của nhân dân, ta không viết được những chuyện hôm nay, chuyện ngày mai của dân tộc, nhưng ta có thể viết về những ngày đã qua, như tôi đã viết về Hỏa Lò, và tôi sẽ viết về đời sống của nhân dân ta dưới ách cộng sản từ ngày tôi mới lớn đến năm 1995 tôi đi khỏi nước. Tôi nhắc lại: đừng quan niệm người làm văn học, chính trị khi đi khỏi nước là chấm dứt sự nghiệp của mình.

CTHÐ: Xin anh kể vài chuyện chung quanh vụ anh vào Tòa Ðại Sứ Anh ở Hà Nội gửi gấm bản thảo Hoa Ðịa Ngục. Tại sao anh chọn vào Tòa Ðại Sứ Anh mà không chọn vào Tòa Ðại Sứ Pháp?

NCT: Tôi đã kể chuyện này năm 1995 khi tôi mới sang Hoa Kỳ, nay anh hỏi, tôi kể lại. Tôi vẫn có ý định vào Tòa Ðại Sứ Pháp gửi tập thơ nhờ họ mang đi, nhưng Tòa Ðại Sứ Pháp có cái sân rộng bên trong, lại có nhiều người làm trong đó là người Việt. Phần lớn những người này làm việc cho công an. Tôi khó vượt qua được khoảng sân rộng để vào tòa nhà mà không bị  ngăn chặn. Tối ngày 13 tháng Bẩy năm ấy, năm 1979, Tòa Ðại Sứ Pháp mở liên hoan chiêu đãi nhân Ngày 14 Juillet, tôi định lợi dụng lúc quan khách ngoại giao đoàn đến dự liên hoan, khi họ xuống xe tôi trà trộn vào họ để chạy vào sứ quán, hy vọng có quan khách ngoại quốc bọn công an sẽ không dám làm dữ. Tối ấy tôi dắt tập thơ trong bụng, đến nơi thấy không thể vào được vì xe hơi không đậu ở ngoài đường mà đi thẳng vào trong sân. Tôi chuyển ý định sang Sứ Quán Anh. Tòa Ðại Sứ Anh có sân trước nhỏ hơn, chỉ năm bẩy bước từ cổng là vào đến nhà. Cổng có một tên công an đứng gác. Sáng ngày 16 tháng 7 tôi  đi uống cà-phê với anh cháu con bà chị tôi, nó biết tôi sắp liều mạng vào Tòa Ðại Sứ Anh. Khi chia tay tôi bảo nó đi làm đi, mặc cậu, tôi đi bộ đến Tòa Ðại Sứ Anh, khi đi tôi lấy dáng bộ tự nhiên, không trong ngang trông ngửa, không quay nhìn lại đằng sau, nên  cháu tôi vẫn dắt xe đạp lẽo đẽo đi theo tôi mà tôi không biết. Từ vỉa hè nhìn vào thấy sứ quán mở cửa, trong cửa có cái bình phong che. Tôi tưởng vào đó là tôi gặp ngay nhân viên người Anh của sứ quán, thấy tên công an gác cửa không nhìn ngó tôi chạy luôn vào. Nhưng vào sau bình phong tôi thấy một căn phòng rộng, có cái bàn lớn kê ở giữa phòng, có ba tên người Việt, hai đàn ông, một phụ nữ, ngồi ở bàn, tôi thấy cánh cửa phòng bọc da đỏ. Vì tấm bình phong che tôi không thấy ba người Việt này, nếu thấy họ tôi đã không chạy vào. Thấy tôi, một tên hỏi: “Ðồng chí có chuyện gì?” Tôi nói tôi là nhân viên Bộ Ngoại Giao, có việc sang gặp ông Ðại sứ. Y hỏi giấy đâu, làm gì có giấy, tôi nói tôi vẫn gặp ông Ðại sứ luôn, cứ cho tôi gặp ông ấy. Thấy bại lộ, tôi tạt sang một bên, thấy cái phòng nhỏ không có cửa, loại phòng tiếng Pháp là boudoir, trong có một phụ nữ Anh rất trẻ, chỉ ngoài hai mươi, đang đứng chải tóc. Tôi nói tiếng Anh với cô: “Xin cô cứu tôi..” Cô ngạc nhiên nhìn tôi, sợ hãi, tôi nói: “Tôi là người lương thiện, tôi không hại cô, xin cô giúp tôi..” Khi ấy một trong hai tên đàn ông chạy ra ngoài báo động, mụ đàn bà nhào đến ôm tôi, tôi lên gối vào bụng mụ, mụ ngã lăn ra, tôi nhẩy tới lấy hết sức lật cái bàn. Bàn đổ, những đồ vật trên bàn rơi xuống loảng xoảng.  Cánh cửa phòng bọc da đỏ mở ra, ba người Anh từ trong phòng bước ra. Tôi nói: “Tôi có tài liệu quan trọng gửi quí ông, xin cho tôi vào phòng..” Tôi lọt ngày vào căn phòng làm việc đó. Vào phòng, tôi rút vội tập thơ dắt trong bụng ra, để xuống chân tường sau cánh cửa, để khi cửa mở người nhìn vào sẽ không thấy tập thơ. Ba người Anh trở vào phòng, hai người trẻ tuổi, một ông trạc bốn mươi, họ đóng cửa lại Về sau tôi được biết ông trung niên ấy là vị đại biện lâm thời Tòa Ðại Sứ. Tôi nói với ba ông tôi là tù chính trị, tôi có tập thơ nhờ các ông mang về Luân Ðôn, xin đừng đưa nó cho bất cứ người Việt nào ở trong nước. Tôi lấy tập thơ đưa cho ông trung niên. Rồi tôi hỏi các ông có thể cho tôi tị nạn trong tòa đại sứ được không? Ông đại diện nói không được, bên ngoài công an đã vây kín tòa đại sứ. Tôi lại đề nghị cho tôi ngồi trong xe hơi từ trong tòa đại sứ chạy ra, đến chỗ nào đó tôi sẽ nhẩy xuống, ông đại diện cũng nói không thể được. Tôi lấy bịch thuốc vấn của tôi ra lấy một điếu hút. Lúc ấy tôi có cái bật lửa Zippo đã mất nắp, tôi phải bọc nylon cho xăng khỏi bay. Mấy ông nhìn ngây cái bật lửa quái dị của tôi. Tôi nói nhờ các ông mang tác phẩm của tôi về Anh, trao cho tổ chức người Việt chống Cộng ở bên ấy. Ông đại biện bảo tôi viết tên tuổi, địa chỉ, để lại. Khi tôi cám ơn và từ biệt, tôi bắt tay ba ông, ông đại biện bắt tay tôi bằng cả hai tay, tôi thấy mắt ông  có ánh thán phục. Vừa ra khỏi cổng tôi bị hai công an nắm cổ đi luôn, họ đưa tôi lên xe hơi, chở tôi vào thẳng Hỏa Lò. Dù tôi có ngồi xe hơi sứ quán chạy ra cũng không thoát được.

Vào Hỏa Lò tôi bị thẩm vấn ngay. Tôi khai tôi chạy vào sứ quán xin tị nạn, bọn công an trong sứ quán nghe được câu tôi nói lúc đầu với ba người Anh là tôi có tài liệu quan trọng muốn đưa, nên họ vặn hỏi tôi đưa tài liệu gì vào Sứ Quán Anh. Tôi nói tiếng Anh của tôi loại giả cầy, tôi nói tôi có chuyện quan trọng muốn nói chứ tôi có nói tài liệu gì đâu. Những ngày đầu bọn thẩm vấn rất ngọt với tôi, chúng nói “Anh có đưa tài liệu gì cứ nói, chúng ta sẽ lấy lại tài liệu đó cho tổ quốc không bị thịệt hại, chúng tôi hứa sẽ trả tự do cho anh ngay.” Tôi vẫn nói tôi không có đưa tài liệu gì cả.

Mấy tháng sau đó tôi chờ đợi tin tác phẩm của tôi được xuất bản ở hải ngoại, nếu được xuất bản, bọn công an sẽ biết, chúng sẽ hành tội tôi ngay. Ruột tôi như có lửa đốt mà hết tháng này sang tháng khác, không thấy có gì mới cả. Tôi vẫn bị gọi ra khai cung nhưng chỉ toàn là hỏi những chuyện vớ vẩn. Mãi đến 16 tháng sau, tháng 10, 1980, lần ấy ra làm việc tôi được đưa vào một phòng lớn, trong có ba bốn tên công an bự chờ sẵn, tôi hồi hộp biết là có chuyện mới. Lần này họ cho tôi thấy trang thư tiếng Pháp tôi viết trên đầu tập thơ. Lúc ấy tôi biết tác phẩm Hoa Ðịa Ngục của tôi đã được xuất bản, và đến lúc ấy tôi mới nhận tôi vào sứ quán Anh là để trao cho nhân viên sứ quán tập thơ ấy. Sự việc sau đó diễn ra như tôi đã kể.

Tôi sang Anh Quốc nhiều lần, lần nào tôi cũng đến thăm Trụ sở Pen International. ở Luân Ðôn. Gặp tôi, những ông bà Văn Bút Anh đều nói họ xấu hổ vì nhân viên sứ quán của họ năm 1979 đã không bảo vệ tôi, đã không cho tôi được tị nạn trong tòa đại sứ. Tôi có tìm, và nhờ tìm, ba vị nhân viên sứ quán Anh năm xưa, nhất là ông đại biện, để tôi được cám ơn các ông, nhưng Bộ Ngoại Giao Anh từ chối không tiết lộ danh tính, địa chỉ của ba ông.

CTHÐ: Phản ứng và thái độ của những người cộng sản ra sao khi họ biết anh là tác giả bài thơ “Ngày 19-5..”?

NCT: Tôi bị bắt ba lần, lần thứ nhất tù từ 1961 đến 1964, lần thứ hai từ 1966 đến 1977, lần thứ ba từ 1979 đến 1991. Tôi làm thơ, tôi không chép thơ tôi xuống giấy nhưng tôi có đọc thơ tôi cho nhiều người nghe, nhiều người thuộc thơ tôi phổ biến chúng cho những người khác, có người chép thơ tôi xuống giấy. Những thơ này đến tay công an và tôi bị bắt vì tội sáng tác thơ phản động. Trong lần bị bắt thứ hai – 1966-1977 – công an hỏi có phải tôi là tác giả bài “Ngày 19-5” không? Tôi chối. Họ cho tôi xem bài thơ, tôi giả vờ ngơ ngác, nói: “Thơ gì mà chửi bới thô tục quá..” Tháng 10 năm 1980, tập thơ của tôi  được xuất bản ở Hoa Kỳ, có quyển thơ ấy, công an vào Hỏa Lò, gọi tôi ra hỏi. Họ cho tôi xem bức thư chữ Pháp viết tay của tôi, tôi nhận đó là chữ tôi, nhận thư đó tôi viết và thơ trong tập là thơ tôi. Họ nghi không phải chỉ toàn là thơ tôi mà trong tập còn có thơ của người khác, họ khai thác tôi để bắt những người đó. Họ nói nếu là thơ của tôi, tôi phải thuộc, phải nhớ, tôi nói tôi nhớ hết. Họ yêu cầu tôi chép lại những bài thơ của tôi. Tôi nhận lời. Họ thu xếp một căn phòng nhỏ trong Hỏa Lò, ngày ngày một anh công an trên Bộ vào lãnh tôi ra đó ngồi chép thơ. Tôi có trà, thưốc lá, thuốc lào hút thoải mái. Tôi cố tình câu giờ, mỗi ngày chép vài bài, kéo dài những ngày được ra ngồi viết để uống trà, hút thuốc, ăn kẹo bánh bồi dưỡng. Anh công an vào lãnh tôi cùng ngồi với tôi, nhắc chừng tôi viết, đưa giấy bút, thu những trang tôi viết đem ra. Có lần thấy tôi ngồi lâu quá không viết, anh giục tôi, tôi nói tôi đang nhớ lại, anh mở cặp lấy ra tập thơ tôi, bản đánh máy, mở xem, nhắc tôi: “Bài “Ðảng dậy tôi..” anh chưa chép  lại..!” Tôi nói “Ðảng đầy tôi,” Ðảng dậy tôi thế nào được.” Vì tôi có trà, thuốc lá nên khi anh công an canh tôi có việc đi ra khỏi phòng, nhiều anh công an Hỏa Lò lợi dụng lẻn vào uống chạc chén nước trà, hút gỡ điếu thuốc, có những anh xem thơ tôi, nói:” ..Chơi hay quá..!” “Anh ghê thật..!”, có anh nói: “Anh là dũng sĩ.!” Tôi chép lại được chừng 100 bài thì họ ngưng không bắt tôi ra chép nữa. Khi tôi bị bắt lần thứ hai – 1967-1977—họ không có bằng chứng đích xác bài “Ngày 19-5” là của tôi, nhưng họ biết tôi làm nhiều thơ phản động, họ nói:

Lần trước, để anh ra khỏi tù là một sai lầm lớn của chúng tôi, lần này chúng tôi không phạm sai lầm đó nữa..”

Năm 1979, khi nghi tôi vào Tòa Ðại Sứ Anh gửi tập thơ, họ mỉa tôi:

Diêm Vương sẽ xuất bản tác phẩm của anh, giun nó sẽ đọc thơ anh..!”

Khi tôi phù thũng, họ cười hỉ hả:

Béo tốt quá nhỉ?”

Họ nói rõ:

“Ðảng không cần giết các anh, các anh sẽ chết trong tù..!” Nếu Ðông Âu không tan, Liên Xô không đổ, nếu chủ nghĩa cộng sản không thất bại, tôi chết trong tù thôi, làm sao tôi trở về đời được!

Hết cuộc “Hỏi Chuyện Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiên.”

Advertisements

8 Responses

  1. Đã đọc câu chuyện kể về nhà thơ NCT mang tập thơ vào toà đại sứ Anh ở Hà Nội nhưng lần nầy sự xúc động và kính phục sự can đãm cũa nhà thơ nhiều hơn hết Cảm ơn CTHD về một bài viết rất hay và hay trên cả tuyệt vời

  2. Kính thưa Bác HHT,

    Con nhận được tin nhắn của Bác khá trễ, vì con sơ ý không đọc giòng nhắn tin dưới bài ” Tư Mã Rọ Mõm “.
    Mong Bác liên lạc với con ” thuyvivmtv@hotmai.com“.

    Kính,
    thụyvi

  3. Trích :…”Ở nước ngoài chúng ta phải ủng hộ, phải cổ võ những người như Bùi Ngọc Tấn, những người phản tỉnh đang đòi Ðảng Cộng sản phải từ bỏ độc tài, sự giúp đỡ không những chỉ tinh thần mà cần cả tiền bạc. Không phải cứ sống trong nước mới có thể, và là có thể, chống cộng sản; muốn chống cộng ở trong nước ta phải có tài, ta phải có can đảm, phải chấp nhận hy sinh, không những chỉ nguy hiểm bản thân mà còn nguy hại cho cả vợ con.” …

    (ngưng trích).

    Tôi đọc mà thấy thuơng cảm cho những con người dám đứng lên, không nề phải chịu mọi đau khổ, trù dập, để vạch mặt tố cáo bọn ăn cướp, đảng csVN.

    Họ bị chế độ bọn côn đồ csVN đày đọa dưới đủ mọi hình thức, vợ con họ phải chịu đói khổ và bị đàn em của bọn côn đồ này ở cấp địa phương khủng bố họ từng ngày, từng giờ.

    Tôi xin quí vị, chúng ta ta phải hiểu là họ “CẦN TIỀN”, tức là cần phương tiện để sống. Ai trong chúng ta mà không “CẦN TIỀN” ? . Người Việt chúng ta vẫn lầm lẫn ý nghĩa của hai chữ “CẦN TIỀN” và “LÀM TIỀN”. Nếu họ có phải mở miệng ta thán về hoàn cảnh cơ cực của họ thì có nghĩa là sự chịu đựng của họ đã đến mức tột cùng. “Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay” kia mà (thơ Nguyễn Công Trứ) !

    Nếu không thể hỗ trợ họ được, xin cũng đừng hùa theo bọn cơ hội, bọn văn nô tay sai VC để phỉ báng họ là đồ “LÀM TIỀN”! Bọn ăn cướp đang đè đầu cỡi cổ, sống phe phỡn trên xương máu nhân dân VN mới chính là BỌN LÀM TIỀN, đáng để ta nguyền rủa và phỉ báng.

    Ắt là trên diễn đàn này cũng có những vị có khả năng tài chánh, nhưng không biết cách nào để giúp đỡ những người yêu nước đang bị bọn ăn cướp trù dập trong nước? Giúp làm sao mà không bị ai nghi ngờ, không bị phiền toái cho cả đôi bên mà lại vô cùng danh chánh ngôn thuận?

    Quí vị có thể liên lạc với văn phòng HỘI ÂN XÁ QUÔC TẾ theo link dưới đây. Quí vị có thể gởi tiền cho họ với lời dặn đi kèm : “TÔI GỞI SỒ TIỀN NÀY ĐỂ XIN QUÍ VỊ LƯU Ý GIÚP ĐỠ Ô….hoặc BÀ…ĐANG BỊ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM NGƯỢC ĐÃI”.

    http://www.amnestyusa.org/donate-to-amnesty

    Lưu ý : Dù nhân viên của họ không đọc được tiếng Việt, nhưng chỉ cần nghe tên (chẳng hạn như Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, Cù Huy Hà Vũ vv…) và chữ VIỆT NAM, là họ sẽ hiểu ngay ý chúng ta muốn họ phải làm gì rồi.

  4. Toi rat kinh phuc nha tho Nguyen Chi Thien, khong nhung vi hanh dong va ngay ca nhan cach cua ong.
    Sang den hai ngoai ong chiu khong biet bao nhieu phi bang, xuyen tac cua nhung ke doi lot chong cong nhung ong van dung vung.
    Chuc nha tho Nguyen Chi Thien duoc nhieu suc khoe va mai mai la tam guong cua ke si bat khuat truoc bao luc.

  5. Đợi mãi, cuối cùng rồi Bác CTHĐ cũng tỏ thái độ với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.

    Ngay từ lúc đầu, em tin tưởng hoàn toàn vào nhà thơ NCT, nhưng, thời đại đồ đểu , vàng thau lẫn lộn, trắng đen khó phân. Lại có những người quốc gia chia làm 2 phe, chửi cũng dữ mà bênh cũng nhiều, nên có lúc em cũng bán tín bán nghi, chẳng biết tin ai.

    Nay đọc được bài viết của CT thì mới biết rõ trắng đen. Cám ơn Bác CTHĐ thật nhiều.

    • Thế nào là”bày tỏ thái độ”,tối nghĩa quá ông ơi!.NThử dùng “máu” văn nghệ,văn gừng để so sánh giữa CT Hà Đông và “ngài” NCT, ta sẽ thấy ai thực ai giả.Kể từ lúc ra hải ngoại,”ngục sĩ”không sáng tác nổi một bài thơ ra hồn mà có thể là tác giả của tác phẩm vô giá ấy sao,chưa nói đến những vấn đề khác?Tôi đã nhầm và sáng mắt lên rồi.Khéo cho Bác CTHĐ tạo cơ hội cho Ông NCT rửa tai tiếng.

      • Xin lỗi đã dùng chữ ” tối nghĩa “.

        Nếu đã đọc bài viết của CT mà còn chưa hiểu ý của CT về nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì …..www.bótay.com

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: