• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Hà Đông bên hông Hà Nội

Quận Công Hoàng Cao Khải và ông con là Tổng Ðốc Hoàng Trọng Phu trong Dinh Tổng Ðốc Hà Ðông. Ảnh chụp khoảng năm 1935.

Khi viết bài thứ hai này về thành phố Hà Ðông, tôi nhớ đến chuyện Áo Lụa Hà Ðông:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông.

Thơ Nguyên Sa. Thi sĩ là một Công Tử Hà Ðông nhưng tôi thấy – hình như – ông không thích nhận ông là Công Tử Hà Ðông. Có thể ông ra đời ở thị xã Hà Ðông nhưng ông sống và học tiểu học ở Hà Nội. Nên ông không có tình ái gì nhiều với Hà Ðông. Năm 1946, thời Việt Minh, ông về sống ở Hà Ðông. Tôi có dịp được gần ông trong năm này: ông và tôi cùng ở trong Ðội Thiếu Niên Tiền Phong Hà Ðông. Thời gian không lâu, chỉ chừng ba, bốn tháng. Tôi được biết ông từ năm xưa ấy nhưng không được thân với ông. Năm 1946 ở Hà Ðông tên ông là Phúc. Năm 1956, 10 năm sau, gặp lại ông trên vỉa hè đường Lê Lợi, Sài Gòn, tôi thấy tên ông là Trần Bích Lan, và ông là Thi sĩ Nguyên Sa, tác giả bài thơ “Paris có gì lạ không Em?” và bài “Áo Lụa Hà Ðông.”

Năm 1955 ông Nguyên Sa du học ở Pháp về nước. Ông được gia đình cho sang Pháp khoảng năm 1948. Khác với hai ông bạn ông cùng từ Hà Nội sang Pháp đi học cùng năm với ông là ông Trịnh Viết Thành, ông Hoàng Anh Tuấn, ông du học sinh Trần Bích Lan trở về nước có bằng cấp đàng hoàng, hai ông kia, ông Trịnh Viết Thành, ông Hoàng Anh Tuấn, cũng du học ở Pháp năm, bẩy năm, nhưng không có bằng cấp gì cả, cái bằng lái xe ô tô, bằng Maitre Coupeur, tức bằng Thợ May Tây, hai ông cũng không có.

Khác với nhiều ông du học có bằng cấp ở Pháp về nước ăn diện lịch sự theo mốt Pa-ri-dziêng, ông Trần Bích Lan không mang đồng hồ Oméga vàng ở cổ tay, không dắt cặp bút Parker nắp vàng ở túi áo, không mặc sơ-mi dài tay có bouton manchette, không đi giày verni bóng loáng, ông trang phục giản dzị: áo sơ-mi vải trắng cộc tay bỏ ngoài quần kaki, đi săng-đan; những tháng đầu đi phố Sài Gòn ông còn đội cái mũ cối – cái mũ cối này ông mang ở Pháp về – theo tôi không phải ông lập dzị mà vì có thể ông nghĩ: “Tao ở Pháp về. Tao cần gì ăn diện theo kiểu Pháp.” Ông – Thi sĩ Nguyên Sa – không hút thuốc lá, không ngồi đấu hót cả buổi ở tiệm cà-phê, không uống bia, không cờ bịch, không lăng nhăng tình ái vẩn vương, không lãng mạn tếu kiểu văn nghệ văn gừng, tôi nghi ở nhà ông cũng không uống cà-phe. Ông là nhà mô phạm nhiều hơn là nhà văn nghệ sĩ.

Ðỗ Mười, người là Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông Tháng Tám 1945. Ảnh năm 2008 khi Ðỗ Mười già yếu.

Thi sĩ Nguyên Sa làm cho tỉnh Hà Ðông nổi tiếng khắp nước. Thị xã Hà Ðông không có gì đặc biệt, những thắng cảnh núi non Chùa Trầm, Chùa Hương ở xa thành phố, thị xã Hà Ðông không có di tích thành xưa như Bắc Ninh, Sơn Tây, không có nhà máy dệt Cotonkin như thị xã Nam Ðịnh. Vì ở quá gần Hà Nội, Hà Ðông bị Hà Nội đè bẹp, không chỉ bẹp mà là dẹp lép, thị xã Hà Ðông bên hông Hà Nội không sao phát triển được. Những năm tôi 10 tuổi, 1942, 1943, thị xã Hà Ðông không có gì cả. Ăn cao lâu, mua hánh Trung Thu, thuốc Tây, thực phẩm Tết, đến cả đi xem xi-nê, xem bói, người Hà Ðông đều ra Hà Nội. Người Hà Ðông muốn ăn bánh mì – thời xưa là Bánh Tây – phải đặt mua, sáng sáng có ông đi xe đạp, chở sau xe cái thùng tôn trong đựng bánh mì, từ Hà Nội vào Hà Ðông giao cho những nhà đặt mua bánh, nhật báo cũng thế. Hà Ðông chỉ có phở gánh viả hè, những gánh phở thường đặt nhờ những nhà có mái hiên. Ðến năm 1945 thị xã Hà Ðông mới có một tiệm phở trong nhà, do người Tầu làm chủ. Ðến năm 1945 tôi mới được ăn phở áp chảo. Cũng đến năm 1945 thị xã Hà Ðông mới có lò bánh mì, lò bánh cũng do người Tầu làm chủ.

Thị xã Hà Ðông không có gì đặc biệt, nhưng tỉnh Hà Ðông có Lụa Hà Ðông. Chỉ có tỉnh Hà Ðông có Lụa Hà Ðông, những tỉnh khác ở Bắc Kỳ không tỉnh nào có. Thi sĩ Nguyên Sa là người làm cho người Việt Nam cùng thời với ông, và những người Việt đến cõi đời này sau ông, biết đến cái gọi là Lụa Hà Ðông, biết cái Lụa Hà Ðông ấy được sản xuất ở tỉnh Hà Ðông.

Áo Lụa Hà Ðông không chỉ có ở Sài Gòn:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông.

Áo lụa Hà Ðông có ở cả Hoa Kỳ:

Nắng Ca-li anh đi mà chợt rét,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông.
Lụa Hà Ðông dệt bằng lông sư tử,
Em mặc vào thành Sư Tử Hà Ðông.

Là công tử Hà Ðông nhưng tôi mù tịt về chuyện Lụa Hà Ðông. Tôi không biết làng nào ở Hà Ðông dệt thứ Lụa nổi tiếng ấy. Có hai làng ở sát thị xã dân làng làm nghề dêt: làng La Khê và làng Vạn Phúc. Làng La Khê dệt The, chắc Lụa Hà Ðông do dân làng Vạn Phúc dệt. The và Lụa cùng do Tơ Tầm mà ra. Nhưng dân La Khê dệt The mà có dệt Lụa không, dân Vạn Phúc dệt Lụa mà có dệt The không? Tôi không biết nên không dám ba hoa gì về chuyện đó.

Tôi tức anh ách khi nhớ đến chuyện Lụa trong Thơ Nguyễn Bính, bài Thơ Chân Quê:

Hôm qua em đi tỉnh về,
Ðợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi.
Nào đâu cái yếm lụa sồi,
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Kỳ cục. Không, kỳ cục quá nhẹ, phải viết là “Khỉ nắm.” Ông đổi sang áo sơ-mi, quần Tây.. thì được, người ta vấn khăn nhung – tôi nghi chi tiết khăn nhung này không đúng, gái chân quê Bắc Kỳ, dù là gái nhà giầu, gái con nhà địa chủ, những năm 1935, 1940 xưa cũng không đội khăn nhung – người ta mặc quần lĩnh… thì ông dẫy nẩy lên, ông la lối om sòm. Nhưng tôi không trách ông ích kỷ, tôi hỏi ông về cái “yếm lụa sồi” ông phang trong Thơ ông.

Nào đâu cái yếm lụa sồi???????

Lụa” là “Lụa”,Sồi” là “Sồi.” Không cần phải là cụ già chín bó, em nhỏ lên ba cũng biết chuyện đó. “Lụa” với “Sồi” khác nhau như “ Phượng Hoàng” khác “Vịt Xiêm Lai,” như Hoa Khôi Trưng Vương khác Lính Cái  Bắc Kỳ Cộng Sản đít to như cái thúng. Không thể có cái “yếm lụa sồi.” Thi sĩ Nhớn gì mần Thơ kỳ dzậy?

Thi sĩ còn hỏi:

“Nào đâu cái áo tứ thân?”

Như vậy là người gái quê đã chít khăn nhung, áo cài khuya bấm, lại mặc áo dài tân thời kiểu ông Hoạ sĩ Cát Tường vẽ? Gái quê Bắc Kỳ những năm 1935 làm gì có người “văn minh thành thị”  quá đến như thế?

Từ ngày có bài thơ Chân Quê đến nay – 2011 – dễ đã hơn 60 năm, tôi không thấy ai lôi ra cái “yếm lụa sồi” vô lý, ngớ ngẩn, ngang phè ấy trong Thơ ông Nguyễn Bính. “Yếm lụa sồi” là cái gì?

Tôi thấy bài thơ Chân Quê có 4 câu Hay:

Hoa chanh nở ở vườn chanh.
Thầy U mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua Em đi tỉnh vể,
Hương đồng, gió nội bay đi ít nhiều.

4 câu Thơ trên đủ làm một bài Thơ Hay.

Lụa do những sợi tơ tầm mịn, nhuyễn nhất dệt thành, sồi, đũi, nái dệt bằng những sợi tơ tầm thô, cứng. Cùng do Tơ Tầm nhưng Lụa khác với Sồi, Ðũi, Nái. Váy Sồi, Váy Ðũi dầy cộp, cứng mo, vứt xuống ao ba ngày không chìm vì không thấm nước, Ðũi mềm, mỏng hơn Sồi, nhưng Ðũi cũng dầy cũng cứng ra rít. Nái làm cho da người bị ngưá, sờ vào quần Nái thấy ráp lòng bàn tay.

o O o

Tôi tìm đuợc ảnh ông Tổng Ðốc Hoàng Trọng Phu trên WEB. Trong ảnh, ông đứng sau thân phụ ông là Quận Công Hoàng Cao Khải. Chỗ hai ông đứng là trước Dinh Tổng Ðốc Hà Ðông. Hoàng Trọng Phu là ông Tổng Ðốc Hà Ðông nổi tiếng nhất. Ông cũng là nhân vật Hà Ðông được nhiều người biết nhất.

Ông Tổng Ðốc Hoàng Trọng Phu, ông Ðốc Học Nguyễn Văn Ngọc, ông Soạn giả Tuồng Cải Lương Nguyễn Ðình Nghị, và ông Ngoại tôi, ông Tri Phủ Nghiêm Duy Ninh, ông Thị Trưởng thứ nhất của Thị Xã Hà Ðông, đều là đệ tử của Cô Ba Phù Dung.

Hà Ðông trước năm 1945 có ông Phan Ðiện. Ông này còn được gọi là ông Ðồ Ðiện, ông là thân phụ của hai luật sư Phan Anh, Phan Mỹ. Nhà ông ở gần nhà tôi nên những năm xưa tôi gặp ông luôn. Ông phẫn chí nên ông khùng khùng. Ông đặt tên hai người con ông là Phan Anh, Phan Mỹ với ẩn ý chơi ngông: “Thằng Anh, thằng Mỹ phải gọi tao là Bố.” Nhưng ông vẫn né bọn Tây, ông không đặt tên con ông là Pháp. Ông đầu trọc, người hơi lùn, ông thường mặc bộ áo cánh nâu, đi guốc, tay cầm ba-toong, ông hay bắt nạt bọn trẻ con trong phố. Gặp bọn trẻ con trên vỉa hè, ông bắt chúng đứng thẳng, ông đưa cây ba-toong lên, ông hô “Oong” là cả bọn ngồi xổm xuống, ông hô “Ðơ” là cả bọn đứng lên. Ông cứ “oong, đơ” như thế cả năm, bẩy lần. Tôi sợ ông lắm. Mỗi lần bị ông bắt “Oong, đơ” trong phố, tôi làm răm rắp, khi ông tha cho đi hay ông bỏ đi tôi mới dám đi. Có nhiều tên bằng tuổi  tôi cóc sợ ông, ông bắt nó làm “Ooong, đơ” nó cười hì hì riễu ông, nó hô “Ooong đơ” như ông, nó chạy đi, ông chẳng làm gì được nó.

Về sau những lần tôi nhớ ông Ðồ Ðiện và trò “Oong, đơ” của ông, tôi nghĩ những ngày xưa ấy, khùng gì thì khùng, ngông gì thì ngông, đang xách ba-toong đi loạng quạng trong phố, thấy viên Cẩm Tây từ đằng xa, ông Ðồ Ðiện phải lánh mặt. Dù ngông, dù khùng, ông cũng biết để Cẩm Tây nó thấy ông dở điên, dở khùng làm trò trong phố, nó chặn ông lại, nó bợp tai, đá đít ông thì ông dại mặt. Năm xưa viên Cẩm Tầy Hà Ðông thường đi tuần trên xe đạp, theo sau nó có hai thầy Phú-lít Min Ðơ, Min Toa cũng đi xe đạp.

Trong quyển “Giai Thoại Làng Nho” của tác giả Lãng Nhân có ghi chuyện nhân vật Phan Ðiện Hà Ðông. Chuyện kể ông Phan Ðiện đến đứng xem tiểu đội lính mới tuyển tập bồng súng, đi đều bước. Ông bắt chước dơ chân, dơ tay, viên Ðội Tây hỏi ông là ai. Một người biết tiếng Pháp trả lời:

“C’est un fou.”

Nghe được, ông Ðồ nói

“Moa pa Phu. Phu lúy phe Tổng Ðốc.”

Chuyện không có thật. Thứ lính được dậy đi đứng ở con dường trước trại lính là thứ lính lệ, những chú lính này đội một thứ nón đặc biệt của lính lệ, chân đi đất, chuyên gác cửa công sở. Trong thị xã Hà Ðông không có nhiều công sở có lính gác. Tôi chỉ thấy lính lệ đi chân đất đứng gác cổng Dinh Tổng Ðốc Hà Ðông, nhà của Công sứ Pháp do lính Khố Xanh đi giày săng-đá gác. Không có viên Ðội Tây nào dậy thứ lính này. Người dậy là một viên Cai người Việt. Bọn con nít tuổi tôi cũng không hào hứng đến xem, vì cuộc dậy chẳng có gì để xem cả.

Hà Ðông có nhà thương, có nhà pha, tức nhà tù, có trại lính khá lớn. Trại lính Hà Ðông có chừng một đại đội lính gọi là Lính Khố Xanh – Garde Indigène. Tháng Ba 1945, Pháp bị Nhật hạ bệ, trại lính Hà Ðông và Ðai Ðội Lính Khố Xanh được trao cho một hạ sĩ quan Việt Nam chỉ huy. Nhân vật này tên là Quản Dưỡng – Adjudant, Thượng sĩ – một quân nhân do Pháp đào tạo có tác phong rất Tây. Quản Dưỡng người cao, quắc thước, nước da bánh mật, đeo kính trắng gọng vàng, mặc quân phục kaki, một bên sườn mang bao da súng lục, một bên sườn đeo thanh kiếm, đặc biệt Quản Dưỡng đi ngựa, ngưạ Tây, to, cao, hùng dũng. Vì Hà Ðông những năm tháng ấy chẳng có việc gì làm nên Quản Dưỡng thường cho lính đi diễn binh trong thị xã. Quản Dưỡng cưỡi ngựa đi đầu, theo sau là dàn kèn bu-dzích, rồi đại đội lính. Nghe tiếng kèn trống từ xa là bọn trẻ con chúng tôi chạy ra xem. Diễn binh có trống kèn, lính đều bước rầm rập, là cảnh đẹp mắt. Thị xã xưa thời tôi thơ ấu yên bình đến nỗi nghe tiếng xe lăn đường – xe hủ-lô – ình ịch chạy chúng tôi cũng ra xem. Chúng tôi chạy theo chiếc xe kéo quảng cáo đêm hát tuồng để tranh nhau nhặt những tờ gọi là programme.

Tháng Tám 1945 đến. Ngày 18 hay ngày 19 tháng ấy đê con sông Nhuệ chẩy qua thị xã bị vỡ. Ðê vỡ ở địa phận làng Ðông Lao gần tỉnh. Tôi ở trong số bọn trẻ đi xem nước lụt tràn qua cánh đồng ở cuối tỉnh, khu này là khu Ba La, Bông Ðỏ. Sông Nhuệ là sông đào, vậy mà năm ấy cũng nước lớn làm vỡ đê.

Ngày 20 Tháng Tám 1945, Việt Minh tỉnh Hà Ðông tổ chức biểu tình cướp chính quyền. Ông cậu tôi, hơn tôi 5 tuổi, và tôi đi theo đoàn biểu tình. Khi đoàn biểu tình đi đến trước nhà tôi ở cuối tỉnh thì dừng lại, rồi tôi thấy người ta nhốn nháo. Ông cậu tôi bảo tôi:

“Vào trại lính tước võ khí. Mình vào xem súng.”

Tội nghiệp thì thôi. Năm ấy tôi nhỏ dại không biết gì, nhưng ông cậu tôi thì phải biết chứ. Trại lính Khố Xanh thì còn có thứ súng ống gì để xem ngoài mấy khẩu mút-cơ-tông! Cậu cháu tôi tất tả chạy về trại lính. Ðoàn biểu tình nay khúc đuôi trở thành khúc đầu, rùng rùng kéo vào trại lính.

Tôi chạy đến cổng trại lính thì trên lô-cốt nổ súng. Tiếng súng mút-cơ-tông nổ lớn khủng khiếp. Tôi tối tăm mắt mũi nhưng còn biết nhào vào nấp dưới chân cây cột cổng trại. Một thiếu niên trạc tuổi tôi lết vào nằm lên lưng tôi. Chú bị đạn bắn trúng đùi, máu tươi từ đùi chú chẩy đầy lưng áo tôi.

Tôi nằm đó, tán hoán trong tiếng nổ rền trời đất. Mùi thuốc súng khét lẹt. Khi tiếng súng ngừng, tôi nhổm dậy cắm đầu chạy về nhà.

Ðặng Kim Giang, Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông sau Ðỗ Mười.

Sau đó tôi được nghe kể bọn Việt Minh, đúng ra là mấy anh thanh niên tỉnh bị bọn Việt Minh lợi dụng, đưa dân vào trại lính bắt Quản Dưỡng nộp súng, giao trại. Quản Dưỡng không chịu: “Các anh là cái gì mà tôi phải giao súng cho các anh?” Anh thanh niên rút súng lục ra bắn Quản Dưỡng. Súng anh tịt đạn. Quản Dưỡng rút súng lục của Y ra, nổ một phát. Anh thanh niên trúng đạn vào ngực, ngã ra chết. Quản Dưỡng đi vào lô-cốt, ra lệnh Bắn. Thế là lính theo lệnh Y, bắn vào dân.

Quản Dưỡng can tội ra lệnh cho lính bắn vào dân. Nếu Y chỉ cho lính bắn chỉ thiên vài chục phát, những anh dân ngu biểu tình hung hăng nhất cũng chạy văng Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra ngoài. Nhưng Quản Dưỡng ra lệnh cho lính bắn dân. Và lính đã bắn  dân.

Không ai biết, không bao giờ có thể biết trong  buổi chiều oan nghiệt đó có bao nhiêu người dân Hà Ðông bị bắn chết oan. Nhiều người bị thương chạy ngã xuống những con đường thấp bị  ngập nước lụt quanh trại lính, bị chết thảm dưới nước.  Trên khắp Bắc Kỳ, Trung Kỳ chỉ có dân tỉnh Hà Ðông bên hông Hà Nội bị chết vì cái trò Việt Minh cướp chính quyền Tháng Tám năm 1945.

Ðêm hôm đó Quản Dưỡng bỏ trại trốn đi. Nghe nói Quản Dưỡng bị Việt Minh bắt trong làng quê Y ở Sơn Tây. Y bị đem về giam ở Nhà Tù Hà Ðông, nhà tù ngay cạnh trại lính. Ngày Quản Dưỡng bị đưa ra toà xử, tôi ở trong đám thiếu nhi đứng bên đường trước toà án. Quản Dưỡng bị bịt mắt, bị còng tay, dẫn đi chân đất từ nhà tù đến toà án. Nghe nói Y bị xử tử hình.

Dòng thời gian dài một ánh bay… Những ngày như lá, tháng như mây.. Bốn mươi năm sau năm 1945, người công dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà tuổi đời Sáu Bó, khuôn mặt in hằn những vết roi đời, sống buồn trong một xóm hẹp ở Sài Gòn tang thương, tuyệt vọng, tình cờ đọc một tài liệu của bọn Bắc Cộng, thấy trong bản gọi là Tiểu Sử của Tổng Bí Thư Ðỗ Mười ghi:

Năm 1945 đồng chí Ðỗ Mười là Bí Thư Tỉnh Ủy Tỉnh Hà Ðông.”

Người đàn ông khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời ấy năm 1945 là chú thiếu niên Hà Ðông 14 tuổi. Chú ở trong đoàn người Hà Ðông vào trại lính toan cướp súng bị Quản Dưỡng ra lệnh cho lính bắn. Ðến những năm 1980 chú mới biết Tháng Tám năm 1945 tên VC Ðỗ Mười là Bí Thư Tỉnh Hà Ðông. Ðến những năm 1980 chú mới biết Ðỗ Mười là tên Việt Minh ra cái lệnh ngu ngốc cho bọn đàn em đưa dân biểu tình vào trại lính đòi Quản Dưỡng nộp súng, làm dân Hà Ðông bị bắn chết thảm không biết là bao nhiêu người.

Quản Dưỡng đúng khi Y không chịp nạp súng, Y là quân nhân có nhiệm vụ giữ an ninh trong tỉnh. Y không thể giao súng cho bọn thanh niên trong tỉnh không có thẩm quyền gì cả, mấy thanh niên này tháng trước trông thấy Quản Dưỡng ở đâu là lui lủi đi chỗ khác.  Quản Dưỡng có tội ra lệnh cho lính bắn dân. Dân làng Vạn Phúc, làng dân có nghề dệt Lụa, là làng có nhiều người theo Việt Minh hung hăng con bọ xít, bị chết nhiều nhất trong cuộc dẫn xác vào trại lính đòi tước súng đại đội Lính của Quản Dưỡng. Nghe nói trong đêm nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp ở Hà Nội, Hồ Chí Minh ở Hà Nội vào làng Vạn Phúc ngủ một đêm, căn nhà  Hồ Chí Minh ngủ được coi là Nhà Lịch Sử.

Như vậy là trong ngày tổ chức biểu tình, anh Bí Thư VM Ðỗ Mười, núp kín trong một nhà dân nào đó trong thị xã, anh muốn chơi trội, anh làm một cú cướp chính quyền người Tây gọi là “oong cú rờ-tăng-tít-xăng,” anh ra lệnh cho bọn Vẹm Non đưa dân vào trại lính đòi Quản Dưỡng nộp súng. Không cần phải tưởng tượng, cũng không phải vì có ác cảm với bọn đảng viên Việt Minh nói chung, với Bí Thư Hoạn Lợn Ðỗ Mười nói riêng, tôi biết khi tiếng súng nổ, Bí Thư Ðỗ Mười sợ đến thót Bác Hồ lên cần cổ. Y không ngờ Quản Dưỡng lại có phản ứng dữ dội đến như thế. Và cũng chắc như bắp là Y sợ đái ra quần, sợ chết run, chết dzế, Y lập cập theo mấy tên đàn em lủi ra khỏi thị xã. Y trốn đến một làng nào đó thật xa. Y sợ ở lại trong thị xã, Quản Dưỡng nó biết, nó đến, nó cho lính lôi cổ ra trước Dinh Tổng Ðốc, nó cắt gân, nó bỏ nằm đó cho chết..

Bí Thư Thiến Heo Ðỗ Mười có tội đưa dân Hà Ðông vào chỗ chết. Nếu năm xưa đó Quaản Dưỡng chịu nộp súng, giao trại, bọn VM sẽ đề cao Ðỗ Mười, trong cái gọi là Lịch Sử Cướp Chính Quyền của Việt Minh đã ghi:

“Ðồng chí Ðỗ Mười, Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông, đã sáng suốt thực hiện những lời chỉ dẫn về chiến thuật cướp chính quyền của Lãnh Tụ Lênin vĩ đại vào thực tế tỉnh Hà Ðông, dùng sức mạnh của nhân dân bắt tên Chỉ huy Lực Lượng Lính Khố Xanh phải đầu hàng, nộp súng..”

Quyết định của Ðỗ Mười là một quyết đinh Ngu Xuẩn. Nhưng bọn Hồ Chí Minh dzẹp vụ này đi, cho chìm suồng. Tin dân Hà Ðông vào trại lính đòi nộp súng, bị bắn, bị bọn VM ỉm đi, không đăng báo, tất nhiên không loan trên đài phát thanh. Có thể nói tất cả nhân dân Bắc Kỳ năm xưa không biết vụ đổ máu khủng khiếp Tháng Tám 1945 ở trại lính tỉnh Hà Ðông, trừ dân Hà Ðông.

Năm 2000, ở Kỳ Hoa, tôi thấy trong một tài liệu ghi anh Tướng Ðặng Kim Giang từng có thời làm Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông. Ðặng Kim Giang những năm 1965 bị bọn Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ bắt bỏ tù ở Nhà Hỏa Lò Hà Nội. Ðặng Kim Giang chết trong tủi nhục. Phải chăng sau vụ làm chết dân, Ðỗ Mười bị mất chức Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông, Ðặng Kim Giang về thay Ðỗ Mười?

Những năm 1980, Ðỗ Mười, Bí Thư Hoạn Lợn Tỉnh Ủy Hà Ðông năm 1945 là Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Hôm nay, Ngày 15 Tháng Tám, 2011, tôi ghi tội tên Ðỗ Mười giết dân Hà Ðông trong Tháng Tám năm 1945.

Advertisements

One Response

  1. Trích: …

    “Hôm nay, Ngày 15 Tháng Tám, 2011, tôi ghi tội tên Ðỗ Mười giết dân Hà Ðông trong Tháng Tám năm 1945.”…

    (ngưng trích).

    Đó chỉ là “chuyện nhỏ”, lúc hắn làm “cách mạng” vào năm 1945. Đỗ Mười ngày ấy chỉ là tay hoạn lợn. Vì thấy hắn không sợ máu nên họ hồ đã lưu ý và cất nhắc, cho hắn “lên chức” đồ tể.

    Có điều, chức đồ tể họ hồ ban cho y, không phải là để giết heo, mổ bò, mà là để giết người, tức là giết đồng loại của mình, và những người hắn giết đa phần là người VN, tức là đồng bào của hắn!

    Thành tích giết chóc của y quả thật đã không phụ lòng chúa đảng họ hồ!

    Những năm kế tiếp còn lại của cuộc đời, tên đồ tể này còn giết dân nhiều hơn thế nữa. Từ những cuộc “cải cách ruộng đất”, phóng tay đấu tố địa chủ, đến lùa thanh niên di “nướng sống”, hết ở chiến trường miền Nam đến chiến trường Kampuchia rồi ra chiến trường biên giới phía Bắc, bàn tay tên Đỗ Mười này đã nhúng vào máu của bao nhiêu triệu đồng bào VN của hắn?

    Nếu so kỷ lục của những tay đồ tể ở những lò sát sinh chuyên nghiệp với y, chưa chắc đã có tay nào giết heo bò nhiều bằng số người VN đã bị tên này giết. Nói thiệt !!!

    Càng giết nhiều người thì hắn càng được lên chức. Càng nhúng vào nhiều máu của đồng bào mình, y càng được bọn thảo khấu ban thuởng nhiều huân chương “anh hùng cách mạng” chừng nấy.

    Chưa hết, khi nghe TC chiếm đoạt Hoàng Sa, y còn tuyên bố : ” Chẳng thà để các đồng chí TQ quản lý còn hơn là cho tụi ngụy “. Đó là thời điểm năm 1974, lúc đồng bọn hắn đang ráo riết đánh chiếm miền Nam, cũng là lúc đồng minh Mỹ đã tháo chạy và quân lực VNCH đã phải giật gấu vá vai để tiếp tục chiến đấu. Thuở ấy, ai cũng nghĩ là bè đảng hắn đang bận bịu mang quân vào “giải phóng miền Nam” nên mới nói như thế. Không dè, hắn chủ trương dâng cả tiền đồ cha ông ta cho giặc tàu, chứ đâu phải chỉ có vài hòn đảo lẻ tẻ ngoài Biển Đông?

    Bằng chứng? Đầu thập niên 90 (không rõ là ngày tháng nào, vì bọn ăn cướp đời nào nói công khai những dự tính của chúng), tên hoạn lợn- đồ tể này đã cầm đầu đảng cướp của y qua thần phục thiên triều TC ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Chúng đã thỏa thuận bán nước thế nào mà đến nỗi tên ngoại trưởng của chúng lúc ấy (Nguyễn Cơ Thạch) phải hô hoán lên rằng : “Chúng ta đang bước vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, vô cùng nguy hiểm!”.

    Hai miền Nam Bắc thời chiến tranh có hai nhân vật “cao cấp” với cái tên viết tắt là ĐM : Đỗ Mậu và Đỗ Mười. Một tên nguyên là lính khố xanh, quen trò lừa bạn, phản thầy; một tên nguyên là thợ hoạn, chuyên nghề giết dân, bán nước.

    Đừng trách tại sao cứ mỗi lần tôi nghe nhắc đến một trong hai cái tên ấy là tôi chỉ muốn rủa thầm hai chữ … đ.m !!!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: