• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thuyền Trưởng Hai Tàu (2011)

Thiên Nam Ngữ Lục (Thơ Nôm)

Rừng Phong Ngày 22 Tháng 8, 2011, mời quí vị đọc một chuyện xưa.

Chuyện xưa mở đầu bằng bài báo của ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do, bài đăng báo năm 1996, nay mới đăng trên Internet.

Chuyện xẩy ra Tháng 10, 1995, cách hôm nay 16 năm.

Mèn ơi.! Thời gian qua nhanh quá là nhanh. Vẫn biết Thời Gian qua mau nhưng không ngờ Thời Gian lại qua mau đến thế. Tôi sống ở Bắc Kỳ 20 năm, tôi sống ở Sài Gòn Thủ Ðô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa 20 năm, tôi sống trong Sài Gòn Cờ Máu từ 1975 đến 1995 là 20 năm, cho đến hôm nay tôi sống ở Kỳ Hoa Ðất Trích đã 17 năm! Còn 3 năm nữa là đủ 20 năm thứ tư trong đời tôi. Tôi còn 3 năm nữa chăng? Cảm khái cách gì!

Mời quí vị đọc bài viết – Tháng 1 năm 1996 – của ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do. Nguyên văn:

* Ðừng Vì Hứng Bút Mà Coi Thường Ðộc Giả Và Hỗn Láo Với Tiền Nhân

Hồi tháng 10/95 ông Hoàng Hải Thủy gửi đăng trên một số báo chí Việt Ngữ  ở hải ngoại bài “Thuyền Trưởng Bỏ Tàu …” Ðây là một bài phiếm luận dài gồm hai phần để các tạp chí đăng làm hai kỳ. Phần thứ hai của bài viết đó, có thêm tiểu đề là “Ðầu Thai Lầm Thế Kỷ…”, đã gây công phẫn khá sôi nổi trong giới độc giả, nhất là giới nữ độc giả,  đặc biệt là các độc giả có liên hệ tới trường Trưng Vương, một trong những trường nữ trung học danh tiếng và kỳ cựu nhất của Việt Nam.

Những độc giả chưa đọc bài viết “Ðầu Thai Lầm Thế Kỷ …” hoặc chỉ đọc lướt qua sẽ thắc mắc một cách hợp lý là tại sao một bài phiếm luận  lại có thể gây nên sự công phẫn sôi nổi nơi độc giả. Câu trả lời là: ông Hoàng Hải Thủy – một cây bút viết phóng sự và phóng tác truyện ngoại quốc có đôi chút  tiếng tăm  trước 1975 –  đã viết bài đó một cách bừa bãi, nhảm nhí, thô tục, khinh thường độc giả, và bôi bẩn một số danh nhân, anh hùng của lịch sử.

Ðã có ít nhất 5 bài viết mà các tác giả tỏ sự công phẫn về bài của ông Hoàng Hải Thủy, đó là các bài của Ngô Tằng Giao, Lê Thị Anh, Ðinh Thị Thiên Kim, Người Cali, Linh Linh Ngọc. Các bài trên được đăng trên nhiều báo như Diễn Ðàn Tự Do (Hoa Thịnh Ðốn), Phụ Nữ Việt (Los Angeles), Ðẹp (Houston),  Dân Chủ Mới (Boston) v.v..

Nói chung nội dung các bài báo này phàn nàn về  sự bịa đặt sự kiện lịch sử và bôi bẩn hai vị nữ anh thư của dân tộc bằng những lời nham nhở, hạ cấp.

 Sau đây chúng tôi sẽ phân tích  bài “Ðầu Thai Lầm Thế Kỷ …” của ông Hoàng Hải Thủy – căn cứ vào bản đăng trên tạp chí Phụ Nữ Việt số 52, tháng 10/95 – để chứng tỏ rằng dù đối với một bài tạp ghi không đòi nhận định nghiêm túc, văn phong nghiêm chỉnh như bài của ông Hoàng Hải Thuỷ, sự phẫn nộ của độc giả vẫn là có lý, chính đáng và cần thiết. Và chúng ta cần có những lời cảnh cáo đối với ông Hoàng Hải Thủy. Ðó là lý do chúng tôi viết bài này.

* * *

Ông Hoàng Hải Thủy khoe rằng nguyên do gợi hứng cho ông viết bài “Thuyền Trưởng Bỏ Tàu … ” là  tập hồi ký “Phượng Vẫn Nở Bên Trời Hà Nội” của người viết Nguyễn Thị Ngọc Dung, trong đó có câu “thuyền trưởng bỏ tàu theo nữ hải tặc” mà ông ca ngợi là “đưa vào ngôn ngữ Việt ta một thành ngữ cực kỳ hình tượng để gọi việc anh chồng bỏ vợ con đi theo vợ bé”,  và  chính “thành ngữ” (?) đó đã “… gợi ý cho tôi, làm tôi cảm khái đi mấy đường tạp ghi này.”

Trong bài  tạp ghi đó ông Hoàng Hải Thủy gọi người đàn ông có vợ là thuyền trưởng, người vợ là con tàu, đôi khi là nữ thuyền phó.  Khi người đàn ông  bỏ vợ con theo một người đàn bà khác thì ông gọi người đó là “nữ hải tặc”. Ông nhận định về vấn đề đa thê ở thời nay và thời xưa, rồi lan man sang một số nhân vật trong truyện tích, trong lịch sử. Từ  đó người ta thấy ông đã phơi bày nhận định lệch lạc, văn phong nham nhở, và ngôn ngữ hỗn láo với tiền nhân.

Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt xét những “phơi bày” đó của ông.

Ông Hoàng Hải Thủy bắt đầu bằng ý niệm cho rằng ” … ngày xưa ông cha ta có quyền lấy ít nhất là hai vợ…” nhưng bây giờ  cái quyền đó đã mất, bởi vì  theo ông:

Kể từ giữa thế kỷ hai mươi đầy cay đắng trở đi tất cả những vị nữ lưu chân chính đa tình Âu, Á, Mỹ, Phi, Úc đều tuyệt đối, thẳng tay, không chấp nhận hai tiếng ‘đa thê’ thân thương…”

Dường như ông quên rằng hiện nay, giữa thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi, các nước theo Hồi Giáo ở Trung Ðông và Phi châu vẫn còn chế độ đa thê, và người phụ nữ ở những nơi đó vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi. Ông Sadam Hussein tổng thống Irac là một thí dụ. Ông ta có trên hai chục người con và năm sáu bà vợ! Mới  đây nhất, tuần lễ đầu của tháng Giêng 1996, hãng thông tấn AP loan tin Quốc vương Căm Bốt, Norodom Shihanouk, đã phong cho người vợ thứ của ông là bà Mininia Shihanouk, 58 tuổi, tước “phu nhân tối cao” để dự bị cho bà này nối ngôi. Bản tin còn cho biết Quốc vương Shihanouk có 14 người con và 5,6 bà vợ! (coi báo Việt Nam Mới ở Seatle, số 260, ngày 05/01/1996). Và năm 1992, tại thành phố Waco, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, người ta còn nhớ chuyện làm sôi nổi cả nước của giáo phái Davidian Branch do ông Koresh David, chưa đầy bốn chục tuổi, lãnh đạo. Hàng chục bà Mỹ, hội viên của Davidian Branch, đã tình nguyện sống chung, làm vợ không hôn thú của ông David. Sau mấy tháng  bị FBI bao vây, bắt đầu hàng, giáo phái này  đã nổi lửa đốt trang trại,  ngót hai trăm người đã tự tử tập thể.  Ai bảo ông Hoàng Hải Thủy là chế độ đa thê đã cáo chung trên mặt trái đất này?

Trong tập thể những kẻ thèm muốn đa thê  có …  ông Hoàng Hải Thủy. Ông xuýt xoa, tiếc nuối:

“Làm sao được, mấy anh ơi. Ai can U. Nếu mần được thì tất cả chúng tôi đã, cũng mần rồi.”

Rồi ông than thân trách phận là:

“… chưa bao giờ đặt chân lên bất cứ một chiếc tàu xinh xinh hiện đại của bất cứ một em nữ hải tặc thơm như múi mít nào – cho buồm lộng gió biển đông và cao tiếng hò khoan:

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị gia đình ruồng bỏ, vợ con khinh
Biển vô tận xá gì phương hướng nữa
Hải tặc thuyền theo gió hãy lênh đênh.”

Ở đây người ta thấy ông Hoàng Hải Thủy đã đạo thơ của Vũ Hoàng Chương một cách thiếu lương thiện! Không dẫn chứng thơ của người khác mà không ghi xuất xứ, ông còn sửa lời thơ, đổi  “thuyền ơi thuyền” của Vũ Hoàng Chương thành “hải tặc thuyền” ở câu 4, khiến đoạn thơ mang tính cảm khái của nhà thơ họ Vũ trở thành một đoạn thơ ý nghĩa … chẳng ra làm sao cả! Ở đây qủa thật ông Hoàng Hải Thủy đã ngang nhiên làm … thi tặc, cướp cạn thơ của người khác!

 Ðể bênh vực việc thuở xưa đàn ông có thể lấy nhiều vợ là một “truyền thống” (?) tốt, ông viết:

“Dzậy thì thưa quý dzị chúng ta nên đi đến kết luận ngắn gọn là trong  những truyền thống của ông cha ta có truyền thống cho phép Thuyền Trưởng Lái Nhiều Tàu là tốt đẹp, đáng để ta gìn giữ. Và nếu đám con cháu hèn ngu không giữ được truyền thống cao đẹp ấy đám con cháu ấy đúng là hèn ngu, mà hèn ngu thì ráng chịu.”

Qua đoạn văn trên không những ông Hoàng Hải Thủy tỏ ra tiếc nuối cái thời vàng son của những người đàn ông được lấy nhiều vợ mà còn coi thường hết mọi người thời nay, chê họ  là hèn ngu vì đã không biết giữ cái “truyền thống” mà ông thèm khát đó! Không may cho ông là ông hiện đang sống với đám người ấy, và vì vậy ông đã dại dột, nặng lời xỉ vả chính bản thân mà không biết! Nhờ  điểm ông pha trò, tự xỉ vả kém duyên dáng này mà người đọc bớt bực mình, nhưng khi ông  lên tiếng trực tiếp thắc mắc với giới nữ độc giả, đặc biệt  là các người có liên hệ tới trường nữ trung học Trưng Vương thì nhiều người không còn đủ bình thản để  bỏ qua cho ông sự coi thường người đọc. Ðây ông viết:

“Chuyện làm tôi théc méc là tôi không biết vì sao những vị Nữ Thuyền Phó Mít con cháu Hai Bà Trưng nói chung, và các cụ, các bà, các cô Nữ Sinh Trưng Vương nói riêng các nàng này cũng là những Nữ Thuyền Phó, có nàng còn là Nữ Hải Tặc lận – lại rất quyết liệt trong việc cấm Thuyền Trưởng Chạy Hai Tàu …

Tôi théc méc là bởi vì chính ông cha, chú bác các nàng — mới vài chục niên trước đây thôi- là những Thuyền Trưởng Hai Tàu có Ba-Tăng, có giấy phép Triều Ðình cấp.”

Dường như thấy chọc giận các nữ độc giả như  trên chưa đủ ông  còn nham nhở viết tiếp:

“Lẽ ra là con cháu Hai Bà Trưng các nàng phải tôn trọng cuộc đời tình ái của Hai Bà mới phải. Hai ngàn năm trước thuyền trưởng Thi Sách là Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Ðốc Ðiều Hành Công Ty Hàng Hải Trưng Shipping Company,  một mình thuyền trưởng Thi Sách chạy hai tàu viễn dương Trưng First và Trưng Second ngon lành êm ru bà rù….”

Không biết hai tiếng “nham nhở” đã đủ để diễn tả cái ngôn ngữ  giống như  của một thứ  Xuân Tóc Ðỏ  ở nơi chợ búa chưa? Xin nêu một vài thắc mắc với ông Hoàng Hải Thủy: Sách nào, thày nào dạy ông  là Thi Sách lấy cả hai chị em bà Trưng?  Nếu không trưng được sử liệu khả tín  thì ông  là tên lếu láo, hỗn xược với 2 vị nữ  anh hùng.

Việc các bà ghen tuông, không muốn chồng có hai ba vợ là điều rất hợp tâm lý phụ nữ, và chuyện đa thê là điều pháp luật cấm chỉ ở nhiều nước. Tại sao lại coi việc phụ nữ Việt chống đa thê  là con cháu Hai Bà Trưng không tôn trọng cuộc đời tình ái và sự nghiệp của hai bà?

Nếu độc giả nào còn chưa thấy sự hỗn xược không thể bỏ qua của ông Hoàng Hải Thủy đối với Trưng Nữ Vương thì xin đọc thêm một  đoạn nữa:

“Nếu thuyền trưởng Thi Sách không chạy  hai tàu họ Trưng cùng một lúc và được cả hai Nữ Thuyền Phó hài lòng thì khi Thái Thú Tô Ðịnh tham tàn cho Thuyền Trưởng đi tàu suốt, hai bà đã không căm phẫn. Nếu Hai Bà đã không căm phẫn thì Hai Bà đã không nổi dậy đánh đuổi bọn quan quân nhà Hán. Nếu Hai Bà không đánh đuổi bọn quân nhà Hán, không dựng cờ độc lập  ‘Lĩnh Nam riêng một triều đình…’ thì biết đâu bây giờ  chúng ta đã chẳng xí xố xì xồ mí nhau …”

Theo cách nhận định về cuộc khởi nghiã Trưng Vương thì rõ là ông Hoàng Hải Thủy chưa từng cắp sách đến trường để được dậy dỗ về lịch sử của hai bà! Và lối suy diễn “nếu thế này thì thế nọ …” của ông ở đây là một thứ ngụy luận rất ấu trĩ!

Theo ý ông, nếu Thi Sách không làm “hài lòng” cả hai bà (hai chữ hài lòng ở đây mang một ngụ ý rất  xấu) thì khi Tô Ðịnh giết Thi Sách hai bà đã không công phẫn.  Nhiều sách sử của Việt Nam đã ghi rõ là vợ chồng Thi Sách cùng với bà Man Thiện (mẹ của hai bà Trưng) âm mưu làm cách mạng đuổi quân Hán. Việc Tô Ðịnh giết Thi Sách chỉ là cái cớ cuối cùng để cho cuộc cách mạng đó sớm bùng nổ.

Giả dụ Thi Sách không bị giết, bà Trưng Trắc không công phẫn vì thù chồng thì cuộc cách mạng vẫn sẽ xẩy ra, có thể là trễ hơn, được sửa soạn kỹ hơn, và trong hàng ngũ lãnh đạo sẽ có tên Thi Sách.

Ông còn suy luận là nếu hai bà Trưng không đánh đuổi quân nhà Hán thì có lẽ ngày nay  dân Việt đã bị đồng hóa thành Tàu hết, để chỉ còn nói xí xố xì xô. Ðây là suy luận ấu  trĩ và sai lầm hiển nhiên nhất. Bởi vì lịch sử đã chứng minh trái ngược hẳn lại!  Cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương chỉ mang nền tự chủ lại cho dân tộc được 3 năm, sau đó nước ta lại bị người Tàu cai trị ngót một ngàn năm, thế mà ngày nay  người Việt có xí xố xì xồ đâu?

 Từ chuyện hai bà Trưng, ông Hoàng Hải Thủy tiếp sang chuyện bôi bẩn và hỗn láo với hai danh nhân, anh hùng khác là Nguyễn Trãi và Lê Lợi. Ông viết:

“Lịch sử còn ghi một vụ thuyền trưởng đa đoan nữa… Ðó là vụ thuyền trưởng Nguyễn Trãi thân bại, danh liệt vì con tàu Thị Lộ…

 Thị Lộ là nhân vật có thực, Nguyễn Trãi khi thành công cũng hưởng thụ phú quý như bất cứ anh thường dân tiểu  nhân nào trên cõi đời này, tiểu nhân khi phú quý thì ‘dâm’ liền một khi…

“Chính sử dường như không ghi rõ vụ anh con ông Lê Lợi, lên làm vua nhờ bố, dâm dục, tham dâm đến đứng tim chết  …

“Tôi chắc là dân gian đã bịa ra chuyện Rắn Báo Oán để kể cho nhau nghe chuyện Ðại Công Thần Nguyễn Trãi  bị bọn anh em Lê Lợi giết cả nhà. “

Về chuyện Nguyễn Trãi bị các triều thần nhà Lê như Lê Khả, Lê Khắc Phục, Nguyễn Xí ám hại  (không hiểu theo sách nào  ông Hoàng Hải Thuỷ lại dẫn chứng là Lê Sát và Lê Sỉ ), dường như ông Hoàng Hải Thủy có biết lờ mờ, chút chút về đoạn sử này, ông biết nói tới chính sử và ngoại sử, nhưng khi viết những lời chê bai rất thiếu lễ độ đối với  Nguyễn Trãi,  thì người ta lại thấy có điều mâu thuẫn trong tư tưởng của ông.

Thời xưa người ta coi chuyện đàn ông năm thê, bảy thiếp là bình thường, chẳng xấu mà cũng chẳng tốt, nhưng thời nay thì ông Hoàng Hải Thủy ca tụng chuyện đó là “truyền thống cao đẹp” (?), là “vững vàng, hài hòa, có ích lợi cho sự sinh tồn của Con Lạc, Cháu Hồng”, v.v..  Sau khi ca tụng “truyền thống” đa thê của quá khứ, và xỉ vả những kẻ không biết bảo tồn nó ở hiện tại, ông lại quay về quá khứ bêu xấu Nguyễn Trãi là tầm thường như tiểu nhân, là  “dâm liền một khi” chỉ vì  Nguyễn Trãi nhận thêm một nàng hầu là Thị Lộ!

Bây giờ chúng tôi xin đề cập qua về “văn phong” của ông Hoàng Hải Thủy. Người đọc không thể không bực mình khi ông dùng những từ ngữ  lẽ ra chỉ nên dùng trong giới du đãng, hoặc trong đám đầu đường xó chợ để nói  đến những anh hùng lịch sử.

Nói về việc Thi Sách, chồng của vị nữ vương duy nhất trong lịch sử nước ta, bị Tô Ðịnh sát hại thì ông nham nhở là “…cho thuyền trưởng đi tàu suốt”. Hai bà Trưng thì ông gọi nhảm là Trưng First và Trưng Second. Ðối với vị đại anh hùng của dân tộc là Lê Lợi, người đã đánh đuổi ngoại xâm và xây dựng nền tự chủ lâu dài nhất cho dân tộc,  công nghiệp có thể coi là lừng lẫy hơn của Trưng Trắc, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Ngô Quyền, và ngay cả của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Huệ  mà ông Hoàng Hải Thủy  lại dùng những lời xách mé như  “vụ anh con ông Lê Lợi”,  hay “bọn anh em Lê Lợi”.

Những lời nham nhở, thô tục, dính dáng đến tình dục  được ông nhồi nhét đầy rẫy trong bài viết, từ đầu tới cuối, xin miễn nhắc lại ở đây để khỏi làm phiền bạn đọc.

** *

Chúng tôi thiết nghĩ nếu ông Hoàng Hải Thủy trở về với sở trường là phóng tác truyện hay ngoại quốc, như Kiều Giang, Tìm Em Nơi Thiên Ðường, hoặc chỉ dùng lối văn nham nhở để viết các phóng sự đại loại như Nổ Như Tạc Ðạn, Yêu Nhau Bằng Mồm thì ông sẽ  vẫn giữ được cảm tình và sự mến mộ của độc giả. Nếu ông cứ tiếp tục dùng lối văn này để viết về  văn học, hoặc bàn nhảm về các danh nhân, anh hùng của lịch sử thì chúng tôi e rằng ông sẽ chỉ gây công phẫn và nhận sự khinh bỉ nơi người đọc lớn tuổi, gây độc hại và dẫn dắt  lầm lạc các độc giả  trẻ, những người muốn tìm hiểu về văn học và lịch sử nước nhà. Trên phương diện tiêu cực, độc giả sẽ xa lánh ông, và trên phương diện tích cực họ có thể lên tiếng gay gắt chỉ trích, phản bác ông.

Sau cùng chúng tôi xin dành đôi lời gửi đến các báo đã đăng bài “Ðầu Thai Lầm Thế Kỷ …”,  như Phụ Nữ Việt ở Los Angeles, Bán Nguyệt San Tự Do ở Houston, Diễn Ðàn Tự Do ở Washington DC v.v… chúng tôi tin rằng quý vị đã không xét  kỹ nội dung bài viết, thấy tên tác giả Hoàng Hải Thủy là yên chí cho đăng lên mặt báo. Thiết tưởng các vị chủ trương tờ báo thừa hiểu rằng hào quang của một người viết trong quá khứ không đủ để bảo đảm mọi bài viết mới của người đó đều có phẩm chất tốt. Hy vọng sự đăng những bài viết đại loại như “Thuyền Trưởng Hai Tàu …” sẽ không xẩy ra trong tương lai trên báo của quý vị. Mong quý vị lưu ý và thận trọng hơn.

 (Tháng 1/1996)

Ðến đây là hết bài viết của ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do

Tôi – CTHР– trích đoạn dưới đây trong bài “Oan ơi Ông Ðiạ” tôi viết cách hôm nay khoảng 3 năm:

Khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1995, bánh xe lãng tử – đúng ra là “bánh xe tị nạn” – muộn màng, khấp khểnh đưa tôi sang Kỳ Hoa Ðất Trích chưa đầy một niên, tôi viết bài “Thuyền Trưởng Hai Tầu.” Không phải tự nhiên tôi viết bài này. Số là năm ấy bà Nguyễn Thị Ngọc Dung xuất bản tác phẩm “Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương.” Trong Hồi ký này bà NT Ngọc Dung bôi tro, trát trấu lên mặt ông chồng cũ của bà hơi nặng tay, ông này phạm cái tội làm “Thuyền Trưởng mà bỏ tầu theo Nữ Hải tặc“, và là “Thuyền Trưởng Hai Tầu“, tức có vợ bé, lại tức có hai vợ trong cùng một lúc. Tôi nẩy ra ý viết bài bênh vực ông Thuyền Trưởng Hai Tầu bị sát sà-bông quá cỡ thợ mộc trong Hồi Ký “Sài Gòn Nắng Nhớ Mưa Thương.” Tôi viết ông Nguyễn Trãi hai bà, ông Nguyễn Du ba bà, ông Thi Sách lấy cả hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, có sao đâu! Bài phiếm khiêm tốn đăng trên hai tờ báo: Tuần báo Diễn Ðàn Tự Do của ông Ngô Vương Toại, ở Virginia, và Nguyệt san Phụ Nữ Mới ở Cali. Ông Ngô Tằng Giao, năm đó — hình như là Hội Trưởng Liên Hội Cưụ Học Sinh Chu Văn An — Trưng Vương, tung ra một bài chỉ trích tôi hai tội:

  1. Xuyên tạc lịch sử: dám viết “Ông Thi Sách lấy cả bà Trưng Trắc và bà Trưng Nhị làm vợ trong khi chính sử không ghi chuyện đó.”
  2. Vô lễ, xúc phạm nhân vật lịch sử khi viết “Tô Ðịnh cho ông Thi Sách đi tầu suốt.”

Bị chỉ trích, tôi biết lỗi ngay, tôi viết bản nhận tội và xin lỗi. Tôi chạy tội bằng cách tả oán – kể khổ – rằng vì tôi không được viết trong 20 năm, nay được viết tự do, tôi phóng bút vung tí mẹt, tôi viết loạn cào cào châu chấu. Tôi nhận tội “đem nhân vật lịch sử ra riễu cợt” nhưng tôi bỏ qua không viết gì về “tội xuyên tạc lịch sử“. Quí vị muốn biết ông Thi Sách có lấy cả hai Bà Trưng hay không, xin đọc Ðại Việt Sử Ký Diễn Ca, và Truyện Thơ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục, quyển TNNL vừa tái bản, được đưa sang Mỹ từ Việt Nam, hiện đang có bán ở Nhà Sách Tự Lực, Cali.

Nhận tội và xin lỗi liền một khi – bản Nhận Tội – Xin Lỗi đăng báo – tôi vẫn bị các bà, đa số là các bà Cưụ Nữ Sinh Trưng Vương, rũa cho một trận te tua, rũa tàn canh gió lốc, tả tơi hoa lá, các bà chửi nát đám cỏ gà, chửi tắt bếp, các bà chửi tôi tối tăm mặt mũi, chửi như tạt nước vào mặt tôi, chửi tôi vuốt mặt không kịp, chửi tôi không biết đường nào mà chạy. Có bà viết: “..đào mả cha, mả ông nó lên chứ! Sao nó dám viết như thế?” Bị các bà chửi tàn tệ, tôi nín khe. Năm ấy tôi không đưa ra bằng chứng ông Thi Sách lấy cả hai Bà Trưng trong sách Ðại Nam Quốc SửThiên Nam Ngữ Lục.

Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Ông cha tôi dậy tôi thế. Hai nữa tôi cũng thấy là tôi có lỗi phóng bút viết riễu cợt quá đáng. Tôi bị chửi ròng rã đến ba tháng trên nhiều báo Việt ở Cali. Nhưng rồi, bão tố cũng qua, các bà chửi tôi, tôi không cãi nên chửi mãi các bà hả giận, các bà ngừng chửi. Bà Hồng Thủy, nhân vật tôi nghe nói là có uy tín trong Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương, năm ấy, thương hại tôi, viết một bài nhắn nhủ, đại ý: “Ông ta đã biết lỗi, đã xin lỗi, chúng ta không nên chửi rủa nữa. Cũng nên rủ lòng thương kẻ bỏ nước chạy lấy người không kịp, kẹt lại ở quê nhà, bị cộng sản giam tù nhiều năm. Già rồi. Tội nghiệp.”

Muộn, nhưng muộn vẫn hơn không, hôm nay, 13 năm sau ngày tôi bị các bà Cựu Nữ sinh Trưng Vương rũa phù mỏ, tôi nát như cái mền Sakymen, tôi được bà Hồng Thủy bao che, đỡ đòn, tôi cám ơn bà Hồng Thủy.

Thế dzồi, không nhớ đúng là năm 1998, hay năm 1999, 2000…, các bà Cựu Nữ Sinh Trưng Vương họp Ðại Hội Thường Niên ở Washington D. C, tức Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn Hoa Anh Ðào Nhật Bổn, một bà bạn của vợ chồng tôi là bà Ð.T từ Cali sang dự họp, nói muốn gặp chúng tôi nhưng bà không có thì giờ đến Rừng Phong. Ðược biết trưa hôm ấy một số các bà ăn trưa ở Nhà Hàng Việt Royal, Thương Xá Eden, tôi hẹn vào giờ trưa đó tôi ngồi  ở Tiệm Phở Xe Lửa, ngay cạnh Nhà Việt Royal, chờ bà Ð.T. Bà sang, có năm, sáu bà Cựu Nữ Sinh Trưng Vương từ Việt Royal sang Phở Xe Lửa cùng với bà Ð.T. Các bà sang Phở Xe Lửa để gặp người thợ viết truyện năm xưa, năm các bà mười sáu, mười bẩy tuổi, người viết những tiểu thuyết phóng tác Kiều Giang, Ðỉnh Gió Hú, Chiếc Hôn Tử Biệt, Tình Mộng các bà từng đọc ngày xưa.

Các bà ngồi quanh tôi, ríu rít hỏi chuyện tôi, tôi là vai chính trong buổi gặp ấy. Mèn ơi.. Trong suốt cuộc đời viết truyện phơi-ơ-tông nhạt nhẽo, phẳng lì của tôi, đây là lần thứ nhất, và lần duy nhất, tôi thấy tôi vinh hạnh đến như thế. Các bà độc giả của tôi ở Phở Xe Lửa hôm ấy cho tôi niềm tin sắt đá: “Nữ độc giả của tôi thơm hơn múi mít. Nữ độc giả của tôi Ðẹp, Chung Thủy, Thông Minh, Hiền Hậu.” Tôi ấm lòng biết chừng bao khi một bà nói với bà ngồi cạnh tôi:

– Ê mày. Xê ra. Cho tao ngồi với Thần Tượng của tao, tao chụp cái ảnh.

Chỉ một lời thôi, bao nhiêu cay đắng trong lòng tôi tan biến như sương mù buổi sáng gặp nắng mùa xuân. Lời nói của con cháu Bà Trưng hiền, ngọt như nước bình dương liễu của Quan Thế Âm Bồ Tát làm cho, chỉ trong một nửa sát-na, cường toan trong lòng tôi trở thành cam lộ.

Ở đoạn cuối bài “Oan ơi Ông Ðịa” tôi có lời kính nhắn:

“Ở Phở Xe Lưả trưa hôm ấy, quí bà có chụp tôi năm, bẩy cái ảnh. Xin quí bà có ảnh tôi làm phúc gửi cho tôi một ảnh, để tôi có bằng chứng trưng ra khi có người théc méc: “Nói phét. Làm gì có chuyện các bà Trưng Vương iu ái anh đến thế. Dzoóc!”

Nhưng chắc vì tôi không để địa chỉ tôi trong bài nên đã mấy năm qua tôi không thấy có hình, có ảnh gì gửi cho tôi cả. Không có lẽ trong số ba, bốn bà buổi trưa ấy chụp ảnh tôi – anh Thợ Viết già lão, khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời – không có bà nào đọc lời kêu xin ai oán, não nùng của anh ta?

Nay tôi ghi địa chỉ:

Công Tử Hà Ðông
PO.Box
5061.
Falls Church
. VA 22044,

Tôi cám ơn.

o O o

Tôi viết:

Quí vị muốn biết ông Thi Sách có lấy cả hai Bà Trưng hay không, xin đọc Ðại Việt Sử Ký Diễn Ca và  Truyện Thơ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục.

Chắc có nhiều vị muốn đọc nhưng không thể có ngay hai tác phẩm trên để đọc, tôi trích những câu viết về chuyện Hai Bà Trưng trong Thiên Nam Ngữ Lục như sau:

Thiên Nam Ngữ Lục.

Từ câu 1497 đến câu 1502:

Phiên hầu lần lữa để qua,
Tô Ðịnh lòng ngờ Thi Sách phản mưu.
Người ta nói khéo bảo nhau:
Rằng ngươi Sách lấy hai hầu họ Trưng.
Nữ tài có sắc khác hằng,
Của nên vô giá, xem bằng tthần tiên.

Từ câu 1535 đến câu 1546:

Ðịnh rằng: “Ngươi đưá gian tà,
Nghe chước đàn bà, làm sự bất trung.
Tôi ngươi ở chẳng hết lòng,
Hai gái má hồng, dùng lấy kết duyên.
Toan nhau làm sự nghịch thiên,
Biết tin tao đến Chu Diên thăm tình.”
Sách rằng: “Tao ngỡ hiền lành,
Lấy ân vỗ chúng, để danh đãi hiền.
Chẳng ngờ ra dạ muông chim,
Phen lê lỗ lược đi tìm hai Kiều.
Ðôi Trưng tao vốn của yêu,
Ðầu mi mi muốn đổi, ta liều bắt tru.”

o O o

Thiên Nam Ngữ Lục, Truyện Thơ Nôm không có tên tác giả, được viết vào cuối đời Vua Lê, Chuá Trịnh ở Bắc Hà. Tác giả TNNL dâng tác phẩm  lên một ông Chuá Trịnh; ông Chuá này cho sách vào kho. Sách nằm trong kho nhiều năm, qua nhiều cơn binh lửa nhưng không bị hủy diệt, đến đời các vua Nguyễn, mới được Vua cho đem ra khắc in. TNNL Thơ Lục Bát, 8136 câu, Truyện Thơ Nôm dài nhất của Việt Nam. Thi phẩm có những lời không được nhuyễn, không hợp vần, nhiều đoạn chuyện trùng nhau, nhiều chuyện ma quỷ. Khoảng năm 1850 Vua Tự Ðức giao cho các ông Lê Ngô Cát, Phạm Ðình Toái san định TNNL, bỏ bớt nhiều đoạn, làm thành tác phẩm Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca.

Thiên Nam Ngữ Lục được – tôi không nhớ nhà xuất bản nào của Quốc Gia VNCH, Nhà Nước hay Tư Nhân – xuất bản ở Sài Gòn năm 1960. Trong nhiều năm tôi chỉ vài lần đọc được loáng thoáng vài đoạn Thiên Nam Ngữ Lục. Mãi đến năm 2000 tôi mới  được đọc toàn bộ Thiên Nam Ngữ Lục.

Hôm nay, một ngày 200 năm sau ngày Tác Giả Thiên Nam Ngữ Lục viết xong tác phẩm Thiên Nam Ngữ Lục, tôi – người Thợ Viết Truyện già, hết thời, hết duyên, hết lộc, sống những ngày cuối đời cô đơn ở xứ người – kính vinh danh ông tác giả Truyện Thơ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục. Ông là Người Viết yêu việc Viết nhất mà tôi được thấy. Truyện Thơ Nôm của ông 8136 câu Lục Bát. Tôi không thể biết ông sáng tác TNNL trong bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm. Tôi không thể tưởng tượng ông cảm gì, ông nghĩ gì trong thời gian dài ông sáng tác TNNL. Xin ông biết cho tôi kính phục ông, tôi biết ơn ông, tôi vinh danh ông.

Tháng Giêng, Tháng Hai năm 1996 khi bài viết của ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do đăng lên báo, người bạn tôi ở Houston hỏi tôi:

“Anh muốn đọc không? Tôi gửi sang cho anh?”

Tôi nói: “Cám ơn. Ðừng gửi.” Mười sáu mùa thu lá bay, hôm nay, tháng này, bài đến Rừng Phong trên Internet. Tôi đọc.

Tôi nhớ lời khuyên:

“Ðừng kể tội người, để mày không bị người kể tội.”

Lời cảnh cáo:

“Mày kể tội người ta, người ta không sao cả. Khi người ta kể tội mày, mày khóc.”

Như mọi người, tôi thích được khen, nhưng khi bị người chửi, tôi không cay cú, tôi không mặt mũi xanh sám, tôi không vội viết chửi người chửi tôi.  Tôi nghĩ tôi phải biết “chịu đòn,” – như các ông bốc-sơ, tiếng Tây là encaisser – khi bị chửi, tôi tĩnh trí xem người chửi tôi chuyện gì, tại sao người chửi tôi. Tôi thấy với tôi và việc Viết của tôi, thỉnh thoảng tôi đọc một bài người ta chửi tôi là cần cho tôi. Ðọc để thấy:

Người ta có thể chửi mình như thế nào, và chửi mình đến như thế nào.”

Và để nhớ:

“Mày chửi người ta, người ta không sao cả, người ta chửi mày, mày vỡ mặt.”

Advertisements

3 Responses

  1. Tôi tin chuyện CTHD gặp các vị cựu nữ sinh TV là sự thật bởi vì nhân cách cũa ông Tôi đề nghị chả cần phải “chạy nhật trình” một trong mấy tấm hình trên trang mạng này Chuyện cũ không vui và nạn nhân trong cuộc đã xin lổi thì cũng nên bỏ qua đi Theo truyền thông, cựu nữ sinh TV và thầy cô nổi tiếng có tấm lòng nhân hậu to hơn cả hồ Lãng Bạc đấy mà Mong CTD đăng nhiều bái viết mới hay hơn

  2. Nếu chỉ bắt lỗi có tính cách xây dựng thì tôi thiển nghĩ ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do không cần phải xài xể HHT một bài dài như thế.

    — Biết lỗi, nhận lỗi, rồi công khai xin lỗi như ông HHT đã làm, thiết tưởng là đã QUÁ ĐỦ.

    — Bắt lỗi người, đã được xin lỗi mà còn sỉ vả thậm tệ người đã nhận lỗi, nhất là họ đã có công khai xin lỗi đã từ lâu, rất tiếc là ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do đã làm một việc QUÁ THỪA.

    Nhân thể, tôi có hai nhận xét sau:

    — Ở đời, muốn bắt lỗi một đối tượng nào, dù người đó chỉ có một lỗi nhỏ hoặc một sơ suất nhỏ, và để CHẮC CHẮN SẼ ĐƯỢC HỌ XIN LỖI, người ta thuờng nhắm vào những người cô thế và cứ gõ mạnh vào nồi cơm của họ là họ sẽ phải xin lỗi. Chắc ăn như bắp ! Những đối tượng này thuờng là các nhà tu, các nhà văn nghèo viết phơi- ơ-tông, các chính trị gia mới tập tễnh nghề trị nước (ngoại trừ những chính trị gia sọt rác của các chế độ cộng sản) vv… Những người này sống bằng sự chiếu cố tinh thần trực tiếp từ quần chúng, nếu họ làm mất lòng quần chúng thì còn phải tiếp tục kiếm sống ra sao? Cho nên, hễ lỗi lớn lỗi nhỏ gì mà thấy quần chúng phàn nàn thì họ phải lè lẹ tìm cách nói sao cho êm, ngay cả xin lỗi. Lời nói không mất tiền mua mà lị ! Do đó, không những là bài “Thuyền Trưỏng Hai Tầu”, ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do cứ tìm đi, thế nào cũng có những bài có những sơ xuất để ông bắt lỗi và xài xể ông HHT, tôi tin chắc là ông HHT sẽ… tiếp tục xin lỗi, miễn là ông bắt bẻ cho có lý thôi!

    Nghĩ cũng nực cười. Rõ ràng là những bài của HHT chỉ để tạo một nụ cười cho chúng tôi chứ không hề có ác ý. Viết lách cũng như nói năng vậy, hễ nhiều thì ai cũng phải vấp phạm hoặc sơ sót, có là thánh cũng không thoát khỏi định luật ấy.

    Hãy nhìn làng báo VN hiện nay, trong cũng như ngoài nước, nếu không là “lề phải” thì cũng nhốn nháo đủ loại viết bậy, bàn láo, nói càn. Chính trị VN do những tên chính trị gia sọt rác đóng những vai hề diễu dở, chẳng làm ai cười nổi. Thế nhưng, chẳng ai dám hé miệng bắt bẻ chúng vì chúng thuộc phe mạnh, phe có tiền, có những thế lực chìm nổi binh vực. Nếu họ chỉ thuần là những chính trị gia lương thiện hoặc nhà văn kiếm cơm như ông HHT thì chắc chắn họ đã bị xài xể dài dài, như ông Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do đã xài xể ông HHT vậy.

    — Tôi để ý các “nhà văn” hoặc “nhà thơ” sau này thuờng viết tên thật của mình ngay sau bút hiệu, làm cho cái tên bỗng dài ngoằng một cách thừa thãi. Nếu nó nằm trong một bài tường thuật do tác giả đề cập về một văn-thi sĩ nào đó thì đó là điều dễ hiểu vì tác giả không muốn ta lầm lẫn chẳng hạn như: Xuân Vũ- Bùi Minh Triết, Nhất Linh- Nguyễn Tường Tam, Chóe- Nguyễn Hải Chí vv… Chính những văn- thi sĩ này chỉ ký tên bằng bút hiệu khi viết lách, chả ai ghi tên thật bên cạnh bút hiệu mình bao giờ.

    Văn phong và tâm hồn của họ trong nghệ phẩm là những chữ ký hùng hồn nhất, ai cũng nhận ra họ, dù họ có thay đổi bút hiệu, có ký bằng bút hiệu hoặc tên thật hay không.

    Thiển nghĩ, những “văn- thi sĩ” viết kèm tên thật bên cạnh bút hiệu mình, phải chăng vì họ hám danh, muốn người đời phải biết đến họ? Hoặc họ muốn lấp liếm mặc cảm vô danh của mình? Đôi khi viết lách chẳng ra gì, người đời chả mấy ai ngó đến “tác phẩm” của họ, lỡ họ chết thì còn ai biết họ là văn sĩ này, thi sĩ kia, bút hiệu nọ? Xài xể ông HHT bằng một bài thật dài, ông Thiện Nhân- Nguyễn Khánh Do đã chứng minh “bản lãnh” hùng biện của mình, dù không mấy thuyết phục tôi lắm. Nhưng tôi vẫn thắc mắc: ông viết tên thật bên cạnh bút hiệu mình để làm chi cà?

    Chỉ là thiển nghĩ cá nhân, quí bác nào có giải thích hợp lý hơn, xin vui lòng chỉ giáo. Xin cám ơn trước.

  3. NAT, bai hat nay duoc chi DTCH, cuu nu sinh TV o Houston gui tang to

    Hồ Lãng Bạc
    Tác giả: Xuân Tùng

    Thuyền bơi gieo lướt trên hồ đầy nước trong
    Bọt tung theo sóng kêu dạt dào
    Buồm căng nặng gió mang thuyền đi lướt nhanh
    Én nhào trên nước long lanh

    Bờ xa bát ngát ven trời mây sóng đưa
    Thành cây xa tắp trong mây mờ
    Hồ Tây – đây chốn tranh hùng Trưng Nữ Vương
    Khiến người như thấy bâng khuâng

    Nào sóng vỗ, thuyền đi lên – có điều gì nhớ thương?
    Triền sóng tới, dồn tiếp tiếng ánh tà dương trắng vàng
    Nào én đến, vèo bay đi ngắm mình trong ánh dương
    Tràn sóng tới, thuyền lả lướt, lướt mình trên nước xanh

    Thề quyết chiến, liều xông lên thét hùng oai nữ vương
    Ào gió thét, ầm sóng vỗ – thế cũng không chút sờn
    Hồ vẫn đấy, người xưa đâu? Sóng hùng ghi nữ anh
    Buồm quyến gió, thuyền rẽ sóng dưới trời mây nước thanh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: