• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Người Việt Có Đuôi

Những ngày đầu Tháng Chín 2011, ở Kỳ Hoa có chuyện về một số người Việt có đuôi. Mời quí vị đọc bài của ông Lão Móc:

Sau khi một số nhà trí thức trong nước can đảm xuống đường biểu tình biểu lộ lòng yêu nước trước việc Trung Cộng chiếm đất, lấn biển của tổ quốc, người ta hy vọng các nhà trí thức hải ngoại sẽ nói lên tiếng nói của Lẽ Phải và Sự Thật để tranh đấu cho một đất nước Việt Nam độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng tự do, dân chủ và nhân quyền thì, đùng một cái, người ta thấy cái gọi là THƯ NGỎ CỦA 36 TRÍ THỨC HẢI NGOẠI với những lời xin xỏ Ðảng và Nhà Nước CSVN hèn hết biết.

Thực ra mọi người không nên ngạc nhiên vì “Ông Trí thức Việt hải ngoại ” vận động làm cái chuyện ruồi bu này là ông “Trí thức đầu ruồi” LÊ XUÂN KHOA.

Bài viết này cho thấy vì sao ông Lê Xuân Khoa đứng ra làm cái chuyện “ruồi bu c. ngựa” Thư Ngỏ. Chỉ tội nghiệp cho Nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nếu quả tình ông Nhả văn tự nguyện đứng vào cái danh sách “TAM THẬP LỤC HẢI NGOẠI VĨ NHÂN” này.

Xin độc giả hiểu dùm hai chữ “vĩ nhân” có nghĩa là “ bọn theo đuôi!”

Cách đây 7 năm, ngày Chủ Nhật 17-10-2004, tại phòng sinh hoạt của Nhật báo Người Việt, ông Lê Xuân Khoa ra mắt tác phẩm “ Việt Nam 1945-1995 – Tập I ” mà ông là tác giả.

Tác giả “Việt Nam 1945-1995, Tập I”,  đã tóm tắt cách nhìn của ông đối về vấn đề Việt Nam. Theo ông, “ước muốn của mọi người trên thế giới này đều như nhau, đó là mong ước được thấy sự lớn mạnh, giàu có của đất nước mình. Muốn nhìn về tương lai sáng sủa đó, chúng ta phải làm một công việc hết sức bình thường là nhìn lại quá khứ, phải trả lại cho lịch sử sự thật của nó, cho dù trước đây hai bên có bóp méo sự thật, thay đổi lịch sử cho phù hợp với đường lối tuyên truyền thì khi kết thúc cuộc chiến tất cả phải trả lại sự thật cho lịch sử.”

Giáo sư Khoa đưa ra hình ảnh hòa giải sau cuộc chiến tranh Nam-Bắc của Hoa Kỳ mà hành động di dời tất cả những ngôi mộ của các chiến sĩ Nam-Bắc trong trận nội chiến về chôn chung trong nghĩa trang Arlington với lời thơ:

Dưới nấm mộ này là hồn Nam, dưới nấm mộ kia là hồn Bắc.
Tất cả được chôn chung bằng thân thể nhuộm đầy máu đỏ…”

và ông cũng so sánh hình ảnh này với hai câu thơ của Tô Thùy Yên được ông chọn in ở trang đầu:

“Quen, lạ, bạn thù chung giấc ngủ
Chung lời thương tiếc khắc trên bia.”

Giáo sư Khoa cũng đề cập tới hai trường hợp hàn gắn sau chiến tranh của Mỹ-Nhật và Mỹ-Ðức, cả hai quốc gia Ðức-Nhật đều mau chóng phục hồi vết thương chiến tranh, ít ra là trên phương diện kinh tế.

Quay về Việt Nam, giáo sư Khoa đặt một câu hỏi cho cử tọa và chính ông :

 “Vậy đến bao giờ thì Việt Nam mới thật sự hàn gắn? Hàn gắn với Hoa Kỳ ? Hàn gắn với khối người tỵ nạn đã bỏ nước ra đi ?” (Tuần báo Việt Mercury số 300, ngày 22-10-2004)

Qua phần tóm tắt về tác phẩm “Việt Nam 1945-1995” của ông Lê Xuân Khoa, ai cũng thấy rõ là ông Lê Xuân Khoa muốn kêu gọi người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại hãy xóa bỏ hận thù để hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền Việt Cộng để xây dựng đất nước giàu mạnh. Thực ra không phải tới bây giờ ông Lê Xuân Khoa mới lên tiếng công khai kêu gọi xóa bỏ hận thù, hoà hợp hòa giải. Vào ngày 15 tháng 3 năm 2004, Bán nguyệt san Ngày Nay số 522 ấn hành ở Houston, Texas, có bài viết của ông Lê Xuân Khoa với cái tên dài lòng thòng như sau:

“Vấn đề trước mặt: Sau gần 30 năm cuộc chiến huynh đệ tương tàn chấm dứt, Ðể Tiến Tới Quan Hệ Bình Thường Giữa Người Việt Hải Ngoại Và Việt Nam.”

Theo Nhà văn Hoàng Hải Thủy thì “hình như không có sự lương thiện trong cái tên bài “…Ðể tiến tới quan hệ bình thường giữa người Việt hải ngoại với Việt Nam”. Không thể có “sự quan hệ giữa một số người với một quốc gia…” Người quan hệ với người, quốc gia quan hệ với quốc gia, như Tư bản Hoa Kỳ quan hệ với Cộng sản Việt Nam, người Việt hải ngoại chỉ có thể quan hệ bình thường hay không bình thường với bọn đảng viên Cộng sản Việt Nam. Và Nhà văn Hoàng Hải Thủy đề nghị tên của bài xướng thuyết của ông Lê Xuân Khoa phải là:

 “Ðể Tiến Tới Quan Hệ Bình Thường Giữa Người Việt Hải Ngọại Và Người Việt Cộng Sản Việt Nam.”

Trong bài viết trên báo Ngày Nay Số 522, ông Lê Xuân Khoa viết rõ ý kiến của ông là “người Việt hải ngoại phải quên căm thù bọn Việt Cộng để cùng bọn Việt Cộng xây dựng quê hương.” Trong bài viết đăng trong 3 số báo, báo Ngày Nay đã trích đăng riêng đoạn ông Lê Xuân Khoa viết bằng hàng chữ in đậm như sau:

“…Gần ba mươi năm sau cuộc nội chiến, thái độ tự hào của kẻ chiến thắng cũng như niềm thù hận của kẻ chiến bại đều không còn lý do nuôi dưỡng.”

***

Khi đưa ra hình ảnh hòa giải sau cuộc chiến tranh Nam, Bắc của Hoa Kỳ với việc di dời tất cả những ngôi mộ của các chiến sĩ về chôn chung trong nghĩa trang Arlington, không biết ông Giáo sư Lê Xuân Khoa có đọc quyển “Việt Nam sau 10 năm” của ký giả Tim Page, để biết là ở sau trang 100 là hình người trên mộ bia của chiến sĩ Quốc Gia VNCH ở Nghĩa trang Quân đội Thủ Ðức bị đâm thủng cả hai con mắt với lời chú thích “Mộ chí của quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tại Nghĩa trang Quân đội bị lăng mạ”. Kế đó là bức ảnh  một người mù cả hai mắt đang ngửa tay xin tiền với lời chú giải “người lính của chế độ cũ, mù lòa, không được cấp dưỡng, đang ăn xin nơi cổng Nhà thờ Ban Mê Thuột sau buổi lễ Chủ Nhật.” Nơi trang 113 là hình ảnh một người đàn ông lưng trần mặc quần đùi đen rách đít, lòi mông, chân bị băng bó, đang nằm ngủ trước bậc thềm gạch của một căn phố, không mền chiếu, với lời chú thích phía dưới :

Vừa được thả từ trại cải tạo, vô gia cư, người cựu quân nhân Quốc Gia VNCH nằm trên đường Ðồng Khởi (trước là đường Tự Do) tại thành phố Hồ Chí Minh.”

Và, cho đến hôm nay, “Nghĩa trang Quân đội QLVNCH” chỉ còn trong trí nhớ của những người dân miền Nam và những người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản. Người lính Việt Nam Cộng Hòa chết chôn dưới mồ, nhà cầm quyền Việt Cộng còn lôi xác lên giết thêm lần nữa để thỏa mối hận lòng chưa phỉ, nói chi đến việc họ xóa bỏ hận thù với những người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản là những người mà đã có thời những người cầm quyền CS Hà Nội gọi là bọn đĩ điếm, trộm cướp, bọn phản bội tổ quốc.

Việc chỉnh trang “Nghĩa trang Quân đội QLVNCH” được một số người Việt hải ngoại đề cập đến khi họ tiếp xúc với Thứ trưởng VC Nguyễn Ðình Bin khi ông này qua Mỹ công bố “Quỹ Yểm Trợ Người Việt Nước Ngoài” và ban lệnh cho bọn tay sai ra sức đánh phá cộng đồng người Việt. Ðề nghị với đầy thiện chí hòa hợp, hòa giải để xóa bỏ hận thù này đã bị bọn VC lờ đi một cách phũ phàng. Những người lãnh đạo đảng CSVN chỉ kêu gọi xóa bỏ hận thù, hoà hợp hòa giải trên đầu môi, chót lưỡi để cứu nguy chế độ, chứ chưa bao giờ họ tỏ ra thực tâm hòa giải hòa hợp với người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản.

Hà cớ gì một người Việt Sài Gòn bỏ nước ra đi Tháng 4 năm 1975, một người Việt được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị như ông giáo sư Lê Xuân Khoa lại lớn tiếng kêu gọi người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản hãy xóa bỏ hận thù để “cùng với bọn VC xây dựng đất nước?”

Một người như “luật sư” Trần Văn Tạo trong phái đoàn của Thứ trưởng Ngoại giao VC Nguyễn Ðình Bin phát biểu “người Việt hải ngoại thù dai” ai nghe cũng thấy chướng tai, hà cớ gì một người “chức trọng, quyền cao” trong hai chế độ Ðệ nhất, Ðệ nhị Cộng Hòa Miền Nam, sang Hoa Kỳ nhiều năm hưởng “fund” dành cho người tỵ nạn qua “Trung Tâm Tác Vụ Ðông Dương” (SEARAC) như ông giáo sư Lê Xuân Khoa lại đi kêu gọi người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải với VC để cùng nhau xây dựng đất nước còn hơn cả bọn VC chúng nó kêu gọi ?!

Về chuyện ông Lê Xuân Khoa dẫn chứng việc các nước Ðức, Nhật sau chiến tranh với Mỹ “đã nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh và đã mau chóng hồi phục ít ra là trên phương diện kinh tế” có lẽ ông Lê Xuân Khoa nên “dâng” sáng kiến này lên nhà cầm quyền VC ở trong nước, may ra họ sẽ nghe theo lời của ông giáo sư để đất nước được khấm khá hơn!

***

Cách đây 19 năm, năm 1991, có một ông giáo sư kiêm nhà văn là ông Bùi Nhật Tiến, người từng đoạt giải thưởng Văn Chương Tàn Quốc Việt Nam Cộng Hòa, đã cùng một số nhà văn ở hải ngoại in lại các bài viết của một số nhà văn “phản kháng” ở trong nước. Sau khi phát hành cái gọi là “văn phẩm phản kháng” này ở hải ngoại, ông Nhà văn Nhật Tiến đã mang sách “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” về Việt Nam. Trong sách có đoạn viết:

“Chúng tôi vẫn thao thức với vận mệnh đất nước. Dù ở trên phần đất nào, trong hay ngoài quê hương, dù định kiến chính trị khác nhau như thế nào, qua lời các anh chị, chúng tôi vẫn thấy chúng ta vẫn còn nhiều điểm tương đồng.”

Tờ Quân Ðội Nhân Dân ngày 18 tháng 5 năm 1991, đã viết rằng những người thực hiện cuốn “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” viết như vậy “thật là lố bịch.” Báo này viết rõ:

Những kẻ đã từng làm bồi bút phục vụ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam trước đây, khi nhân dân phá bỏ chế độ thực dân năm 75, thì chạy trốn ra ngoài sống lưu vong, tiếp tục phản bội lại lợi ích dân tộc. Họ đã tự nguyện nhận tiền, nhận vàng, đô la của các thế lực quốc tế, tự nguyện làm công cụ thực hiện mọi mưu đồ chính trị đen tối cho chúng, nay lại tự nhận mình là bạn đồng hành đi tìm tự do, dân chủ với những người cầm bút trong nước, những người đã vào sinh ra tử với sự sống còn của dân tộc trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.”

Thật là đau đớn! Thật là bất ngờ! Những người đầy “nhiệt tình hòa hợp, hòa giải” như Nhà văn Nhật Tiến và những-người-cùng-đi-một-đường với ông ta, thì người Cộng sản chỉ coi họ là: “bọn hôi mùi thực dân đế quốc, nay dù có trở cờ cũng không xứng đáng đi đồng hành với những người trong nước để tìm tự do dân chủ!”

Chuyện kỳ cục là dù bị CS “hôi mùi thực dân, đế quốc” khi xin được đồng hành với những người cầm bút ở trong nước đi tìm tự do, dân chủ, nhưng đến năm 2004, ông Nhà văn Nhật Tiến lại phát biểu y chang như giọng điệu của (cựu) Thủ Tướng VC Phan Văn Khải. Trong quyển “Nếu Ði Hết Biển” do cán bộ VC Trần Văn Thủy thực hiện, ông giáo sư, nhà văn Nhật Tiến chê người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản là “những cái đầu đông đá”. Ông giáo sư, nhà văn có “cái đầu chảy re” Nhật Tiến (nói theo cách nói của Nhà văn Hoàng Hải Thủy) nói là VN bây giờ chưa cần tới tự do, dân chủ mà nên “ổn định và phát triển” thì tự nhiên dân chủ, tự do sẽ đến (sic!) – y chang như (cựu) Thủ Tướng VC Phan văn Khải đã nói.

Xin kể lại chuyện này để tặng ông Giáo sư Lê Xuân Khoa, người đã tự cho mình là “ngoài tài năng, tác giả còn có cái tâm rất tha thiết với Việt Nam, tất cả công trình của ông là đi tìm những bài học cho  thế hệ bây giờ và mai sau, để tránh những đau thương của quá khứ và xây dựng thành công một nước Việt Nam phú cường và văn minh” *

Năm 1993, trong Ðại hội Việt kiều tại thành phố Sài Gòn, có một ông giáo sư là ông giáo sư Phó Bá Long. Ông giáo sư này đã làm thơ Con Cóc:

“Mười tám năm rồi các bạn ơi
Lòng tôi chua xót dạ bồi hồi…”

Ông Giáo sư “bạc đầu, đen óc” này đã làm một việc hết sức đốn mạt là “kính xin Võ Văn Kiệt lúc đó là Thủ Tướng VC ban một cái lệnh đại xá cho tất cả những người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.”  May quá! Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt chưa  ban lệnh đại xá thì, ông Giáo sư Phó Bá Long đã ba chân, bốn cẳng chạy tuốt qua Kampuchea và  trở về Mỹ. Từ ngày đó ông Phó Bá Long im hơi, lặng tiếng.

***

Người viết không có ý so sánh việc kêu gọi người Việt hải ngoại xóa bỏ hận thù, hoà hợp hòa giải với VC để xây dựng đất nước của ông Giáo sư Lê Xuân Khoa với những việc làm đốn mạt của hai ông Giáo sư “bạc đầu, đen óc” Bùi Nhật Tiến, Phó Bá Long.

Một ông thì bị VC viết ra giấy trắng, mực đen chê là “bọn hôi mùi thực dân, đế quốc” vậy mà vẫn ôm lấy đít của bạo quyền VC mà hít lấy, hít để, tuyên bố nhu cầu của đại đa số nhân dân trong nước bây giờ là ổn định và phát triển chứ không phải dân chủ hay nhân quyền gì hết. Một ông thì làm chuyện thày lay là đi kính xin VC nó ban cho người Việt Quốc Gia VNCH một “lệnh đại xá.”

Người viết cũng không muốn nhắc lại chuyện trong buổi ra mắt sách của ông Giáo sư Lê Xuân Khoa được tổ chức vào ngày 23-10-2004 tại Hí viện Le Petit Trianon tại San Jose, Ban tổ chức đã không chấp nhận chuyện chào cờ, dù trước đó, theo lời ký giả Cao Sơn thì:

“Cách nay vài hôm người của ban tổ chức nhờ tôi tìm địa điểm, tôi bằng lòng giúp. Ban tổ chức đã giao ước là có phần chào cờ Hoa Kỳ, cờ Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm tử sĩ trong phần nghi thức khai mạc. Ban tổ chức đã nhờ tôi cung cấp hai lá cờ nói trên và hai dĩa thu hai bản quốc ca Hoa Kỳ và VNCH. Vậy tại sao họ lại hủy bỏ việc chào cờ vào phút chót?”

Theo tường thuật của báo Sàigòn USA thì, sau đó, ngoại trừ đại diện của báo Việt Mercury, tất cả ký giả báo Việt ngữ cùng một số đồng hương đã tỏ thái độ với cuộc ra mắt sách mà  bỏ ra về.

Cũng theo báo Sàigòn USA  tường thụât thì: “ông Lê Viết Cảnh, tự nhận mình là trưởng ban tổ chức đã nói qua máy phóng thanh giải thích việc không chào cờ như sau:

“Ban tổ chức chúng tôi cám ơn quý vị đã đến tham dự lễ ra mắt tác phẩm Việt Nam 1945-1995 hôm nay. Tôi nghĩ tất cả mọi người hiện diện tại đây hôm nay đều là những người trí thức, quý vị là khách, chúng tôi là chủ, việc tổ chức lễ ra mắt sách của bác Khoa có thể xem như là việc nội bộ của gia đình chúng tôi. Do đó quý vị không có quyền gì đòi hỏi chúng tôi phải làm việc này, việc nọ, chào cờ hay không chào cờ.”

Khi có người nêu ý kiến:

“Xin giải thích tại sao hủy bỏ lễ chào cờ như chương trình đã công bố?”

Ôâng Trưởng ban Lê Viết Cảnh, người của tổ chức Pacific Links Foundation, đã trả lời xấc xược:

“Ở đây không phải là cái chợ mà muốn hỏi gì thì hỏi, muốn đòi gì thì đòi.”

Ông Giáo sư Lê Xuân Khoa không thể trả lời là: “… vấn đề hủy bỏ nghi thức chào cờ hôm nay hoàn toàn tùy thuộc ban tổ chức, thật tình tôi không được rõ”, bởi vì chính ông Giáo sư Lê Xuân Khoa ký tên thay mặt ban tổ chức trên thiệp mời đăng trên các báo.

Việc hủy bỏ chào cờ vàng ba sọc đỏ, hát quốc ca khiến người ta nhớ đến chuyện bà Ngô Thị Hiền của tổ chức Ủy Ban Tự do Tôn giáo yêu cầu đồng bào dẹp cờ vàng ba sọc đỏ mà chỉ cầm cờ Mỹ khi đến biểu tình phản đối việc Thượng nghị sĩ John Kerry dìm chết Dự luật Nhân quyền ở Quốc Hội Hoa Kỳ.

Chuyện này cũng khiến người ta nhớ đến việc nhóm Thông Luận cắt nghĩa việc tạm dẹp lá cờ vàng ba sọc đỏ để hòa hợp hòa giải với ai đó khi nhóm này tổ chức ra mắt sách tại San José.

Có người biết chuyện cho chúng tôi biết là nhóm Pacific Links Foundation có liên hệ với nhóm VNHelp của bà kỹ sư Ðỗ Anh Thư (người cùng với Vũ Ðức Vượng được VC vinh danh là “Việt kiều yêu nước” năm 2006); do đó, không có gì ngạc nhiên khi buổi ra mắt sách của ông Giáo sư Lê Xuân Khoa nghi thức chào cờ, hát quốc ca VNCH và phút mặc niệm bị hủy bỏ, mặc dù trước đó người của ban tổ chức hứa là nghi thức đó sẽ có với ký giả Cao Sơn khi nhờ ông Cao Sơn tìm dùm địa điểm.

***

Bác sĩ Trần văn Tích, trong bài viết có tựa đề “Di họa Cộng Sản” đưa ra những tài liệu, dẫn chứng về việc hai nước Tây Ðức và Ðông Ðức đã tái thống nhất từ ngày 3- 10-1990 đến nay mà vẫn chưa có sự hòa hợp hòa giải được giữa người dân hai miền Ðông Ðức và Tây Ðức. Sau khi đã đưa ra những dẫn chứng, trong cuối bài, bác sĩ Trần Văn Tích đã viết như sau:

“Cựu Thủ Tướng Tây Ðức Helmut Schmidt đã tìm cách hãm bớt niềm lạc quan vào những năm thuộc thập niên 90 khi nhiều người Ðức hoan hỉ, phấn khởi nghĩ đến một tương lai màu hồng đang chờ đợi quốc gia hợp nhất của dân tộc Nhật nhĩ man.

Ông thận trọng tuyên bố rằng tiến trình hòa hợp thống nhất phải trải qua nhiều thế hệ và ít nhất cũng đòi hỏi một thời gian dài bằng thời gian chia cắt hai nước Ðức.

Ðã đổ ra hơn một ngàn tỷ Âu kim, đã chờ đợi gần bằng thời gian luân lạc của cô Kiều, và mặc dầu đang nắm toàn quyền hành chánh chính trị, chế độ dân chủ vẫn chưa hòa hợp hòa giải được người dân hai miền nước Ðức chỉ vì đại họa cộng sản còn lưu lại quá nhiều dư chứng tai hại.

Như vậy làm thế nào hòa hợp hòa giải được giữa tự do và độc tài, giữa quốc gia và cộng sản, giữa thiện và ác một khi quyền lực cai trị còn trong tay Cộng đảng như ở Việt Nam?

Những kẻ mơ tưởng hay hô hào hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ là những kẻ vừa đần độn vừa hèn nhát.”

Xin mượn lời kết luận bài “Di họa cộng sản” của bác sĩ Trần Văn Tích để kết luận bài viết này.

***

Một anh trí thức bạc đầu, đen óc như Lê Xuân Khoa là đã nhục cho những trí thức ở hải ngoại. Nay thêm 35 người nữa thì đúng là… “ba mươi sáu đứa theo đuôi” VC!

LÃO MÓC

Và đây là bài viết của ông   Nguyễn Lương Tuyền:

Một số trí thức Việt Nam sống ở Hải ngoại vừa cho phổ biến một bức thư ngỏ gửi cho những người CS đang cầm quyền tại Việt Nam để nói về HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC. Thư được 36 người ký tên. Trong số những người này, có một số cựu tù nhân của CSVN, hiện đang sống tại hải ngoại nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế và nhất là nhờ sự tranh đấu của người Việt tỵ nạn tại các nước tự do.

 Trong phần mở đầu bức thư, các nhà trí thức Hải ngoại hoàn toàn ủng hộ:

— Bản tuyên cáo ngày 25 tháng 6 năm 2011 của 95 trí thức trong nước tố cáo TC tiếp tục gây hấn , xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN.

— Kiến nghị ngày 10 tháng 7 năm 2011 của 20 nhân sĩ trí thức kêu gọi nhà cầm quyền CSVN phải đổi mới chánh trị , tôn trọng các quyền tự do để có thể thành công trong việc bảo vệ đất nước.

 Các trí thức hải ngoại ký tên trong thư ngỏ gửi các nhà lãnh đạo CSVN thừa biết rằng các nhà cầm quyền của Ðảng CSVN đâu có mảy may nào chú ý tới bản tuyên cáo cũng như kiến nghị của các trí thức trong nước. Thực ra,không cần phải là trí thức hải ngoại, bất kỳ người Việt tỵ nạn CS bình thương nào cũng biết số phận của các kiến nghị, tuyên cáo đó là : bị các đỉnh cao trí tuệ loài người vất vào cái sọt rác.

Trong cuộc chiến xâm lăng của chủ nghĩa CS, đám CSVN chỉ là một lũ tay sai, tuân lệnh CS quốc tế. CSVN đã hoàn toàn dựa vào Trung Cộng. Người CSVN cũng thừa hiểu âm mưu của người anh em phương Bắc. Các lãnh tụ CSVN như Lê Duẩn đã cố gắng thoát ra ngoài ảnh hưởng của TC. Cuốn “Sự thực về quan hệ Việt Trung” được CSVN cho ra đời năm 1979 , sau chiến tranh biên giới giữa hai nước, đã nói tới âm mưu thôn tính VN của Trung Cộng.

Ðó không phải là một khám phá mới của các ông trí thức tại hải ngoại

Thư ngỏ của các trí thức hải ngoại có nói tới sức mạnh dân tộc, nhưng quên không nói rõ là sức mạnh này đã bị CSVN làm thui chột bằng một chế độ độc tài toàn trị, chỉ có Ðảng mới có quyền quyết định. Thí dụ các chương trình văn nghệ, vui chơi, thể thao…để ru ngủ, cố tình làm người trẻ VN hết còn ý chí đấu tranh cho tổ quốc. Vả lại, CSVN duy trì một lực lượng Công An khổng lồ, sẵn sàng bóp chết các tiếng nói dân chủ. Các cuộc biểu tình chống TC đều bị đàn áp, ngăn cấm.

Sức mạnh dân tộc đang bị chính những người CSVN cản ngăn, làm vô hiệu.

Các tác gỉả của bức thư ngỏ, trong các khuyến cáo chánh phủ CSVN hiện đang nắm quyền trong nước phải :

—  sửa đổi hiến pháp để đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa 3 cơ chế hoàn toàn độc lập: quốc hội, cơ chế toà án và cơ chế chánh quyền (đối với CSVN, đó là những điều không tưởng, khác chi bảo họ dẹp bỏ chế độ.)

— tôn trọng quyền tự do của người dân như tự do biểu tình, tự do phát biểu ý kiến

— cải tổ hệ thống luật pháp, giáo dục, y tế, kinh tế…..

— chỉnh trang  Nghĩa trang Quân Ðội VNCH, không can thiệp vào việc dựng bia tưởng niệm thuyền nhân ở nước ngoài. Ðây là một quá trình nghiêm túc cho sự hòa giải và hoà hợp dân tộc (CSVN đâu có cần hòa hợp hòa giải , nhứt là đối với người tỵ nạn CS họ chỉ muốn tiền của những người này.)

Bức thư ngỏ chỉ nêu lại những đòi hỏi đối với bọn CSVN đã được người Việt khắp nơi nói lên từ nhiều năm qua, không có gì mới mẻ, đột phá ( biết rồi, khổ lắm , nói mãi  ! ). CSVN có bao giờ thèm nghe theo lẽ phải đâu. CSVN chỉ muốn giữ vững chế độ chuyên chính vô sản để  độc quyền cai trị, độc quyền ăn cắp. Mọi đòi hỏi thay đổi, dân chủ hóa đất nước chỉ là những tiếng gào trong sa mạc. Họ sẽ cho bức thư ngỏ này vào sọt rác.

Tóm lại bức thư ngỏ do một số trí thức tại hải ngoại ký tên gửi nhà cầm quyền CSVN chứng tỏ:

— sự ngây thơ, hoàn toàn không biết gì về bọn CSVN dù sau 36 năm CS toàn trị đất nước, dù trong những người ký tên, có một số người đã “được” CS cho nếm mùi cải tạo , tù đầy.

— vô tình các tác giả của bức thư đã mặc nhiên công nhận sự chính danh và tính chất chính đáng của Phỉ quyền CS trên quê hương .

— các tác giả tự nhiên đi xin “job hòa hợp , hòa giải với CS.”

— Theo GS Lưu Trung Khảo: “Ngôn từ khúm núm, đầy sự quỵ luỵ, không tỏ được tinh thần bất khuất , hiên ngang của giới sỹ phu Việt Nam. Thật đáng chê trách và tủi hổ.”

Trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam, chúng ta bị bắt buộc phải thua, nguyên nhân thua một phần vì CS giỏi tuyên truyền, CS đã đánh lừa được một số người nhẹ dạ, cả tin trong đó có một số trí thức. Chúng ta ngạc nhiên và chán nản khi thấy đến nay một số trí thức người Việt tại hải ngoại vẫn còn ngây thơ để rồi làm những hành động có lợi cho CSVN. Bức thư ngỏ của 36 trí thức Việt Nam tại Hải ngoại đích thực làm hại cho chính nghĩa của Người Việt Quốc Gia chống Cộng.

Trong Danh Sách 36 Vị Trí Thức  có những vị sau đây:

— Doãn Quốc Sỹ, Nhà Văn

— Ðoàn Thanh Liêm, Luật sư

—  Lê Xuân Khoa. Nguyên Phó Viện Trưởng Ðại Học Sài Gòn.

— Nguyễn Ngọc Linh, Nguyên Giáo sư Ðại Học Ðàlạt, Ðại Học Cửu Long

— Triều Giang, Ký giả

— Trương Hồng Sơn ( Trương Vũ ) Tiến sĩ Khoa Học, Nhà văn, Họa sĩ

–Vũ Quốc Thúc. Giáo sư Luật khoa.

Sao Y Bản Chính.

Công Tử Hà Ðông.

Trong bài viết thấy có nhiều “trí thức” và “trí thức”: Trí thức trong nước, trí thức ngoài nước. Chưa bao giờ tiếng “trí thức” bị hiếp dzâm quá đến như thế. Cũng chưa bao giờ dân tộc Việt Nam có một số người trí thức ngu xuẩn, hèn đốn đến như bây giờ.

Ông Lão Móc viết: Những người lãnh đạo đảng CSVN chỉ kêu gọi xóa bỏ hận thù, hoà hợp hòa giải trên đầu môi, chót lưỡi để cứu nguy chế độ, chứ chưa bao giờ họ tỏ ra thực tâm hòa giải hòa hợp với người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản.

Hà cớ gì một người Việt Sài Gòn bỏ nước ra đi Tháng 4 năm 1975, một người Việt được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị như ông giáo sư Lê Xuân Khoa lại lớn tiếng kêu gọi người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản hãy xóa bỏ hận thù để cùng với bọn VC xây dựng đất nước?

Hà cớ gì một người “chức trọng, quyền cao” trong hai chế độ Ðệ nhất, Ðệ nhị Cộng Hòa Miền Nam, sang Mỹ nhiều năm hưởng “fund” dành cho người tỵ nạn qua “Trung Tâm Tác Vụ Ðông Dương” (SEARAC) như ông giáo sư Lê Xuân Khoa lại đi kêu gọi người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải với VC

CTHÐ: “Chức trọng, quyền cao.” Ông Lê Xuân Khoa không có “quyền lực” gì đáng kể trong chính quyền trước năm 1975. Sở làm cuối cùng của ông là nhân viên Hội Việt Mỹ. Ông và gia đình ông được Sở Thông Tin Hoa Kỳ – USIS – đưa đi khỏi Sài Gòn trước ngày 30 Tháng Tư 1975.

Bọn Ðầu Xỏ Cộng Sản VN, ngay từ khi chúng chưa cướp được chính quyền, thời Lão Hồ Bất Nhân núp ở Hang Pắc Bó, đã chủ trương không hoà hợp với bất cứ ai; không chỉ không hoà hợp, chúng còn giết tất cả những tất cả những ông Việt Yêu Nước không phải là đảng viên Cộng sản. Danh sách những ông Vỉệt bị chúng giết thật dài:  các ông Khái Hưng, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Dương Văn Giáo, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch, Phạm Quỳnh, Ngô Ðình Khôi. Sau năm 1975, bọn Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ đòi hỏi những công dân Quốc Gia VNCH phải quì mọp đầu hàng chúng. Không thời nào bọn CSVN muốn “hoà hợp hòa giải” theo nghĩa những công dân Quốc Gia VNCH hiểu về ý nghĩa “hoà hợp hoà giải dân tộc.” Sau năm 2000, bọn CS – bọn đàn em nối gót Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ – đòi hỏi những người Việt ở nước ngoài phải đầu hàng chúng. Bọn CS không chịu hoà giải, một số người Việt sống ở nước ngoài cứ xun xoe xin xỏ được “hoà giải” với chúng! Kỳ cục. Hết nước nói.

Trong Nội Chiến Hoa Kỳ, sau khi thắng bại, Tướng Nam Mỹ đầu hàng, bắt tay Tướng Bắc Mỹ, lên ngựa ra về. Có được cảnh đó là vì quân đội hai bên đều theo chế độ Tư Bản-Dân Chủ. Sau Thế Chiến, hai nước bại trận Ðức, Nhật được hưởng chế độ dân chủ, có điều kiện hàn gắn những vết thương chiến tranh, mau chóng phục hồi kinh tế, trở thành hai cường quốc là nhờ được Hoa Kỳ giúp đỡ.

Em nhỏ lên ba cũng biết những chuyện đó. Mấy ông gọi là “trí thức Việt ở Mỹ” không biết sao?

Advertisements

15 Responses

  1. Chỉ cần tống cổ đám “trí thức , trí ngủ ” này về VN ở hết 1 lũ để xem chúng còn xin hòa hợp hòa giải không thì biết ngay.

    Có lẽ nhà văn Doãn Quốc Sĩ bị chúng lợi dụng tên tuổi thì đúng hơn. Không lẽ Ông DQS lại ấu trĩ đến như vậy.

  2. Tôi sửng sốt khi thấy có nhà văn Doãn Quốc Sĩ trong cái bảng phong thần này. Nếu quả đúng nhà văn có sự thay đổi như thế, cảm giác tiếp theo của tôi là đau lòng.
    Tôi còn nhớ như in những lời mỉa mai của bọn côn đồ đối với nhà văn “Đoàn Quốc” trong quyển sách thô bỉ “Những tên biệt kích cầm bút” của cớm cộng.

  3. đọc xong bài này, tôi thấy 36 nhà trí thức và những ai kêu gọi hòa hợp hòa giải rất là sáng suốt và đúng đắn, sáng suốt và đúng đắn chấp hành nghị quyết đầy tính ưu việt của đảng ta … đảng ta đang nắm tất cả mọi thứ quyền trong tay mà còn kêu gọi hòa hợp hòa giải, những người không nắm bất cứ chút xíu quyền hành gì thì đòi hỏi kí zì, những người lính cũ được phép ngồi ăn xin là được đối xử tốt lắm rồi, có nhân quyền zồi, mai này 36 nhà chí thức kia sẽ được đối xử tốt hơn, nếu họ đồng ý từ bỏ quốc tịch Mỹ về VN sống, họ sẽ được trải thảm đỏ đón tiếp như đón tiếp một khúc ruột ngàn dặm quay về với quê hương, hãy về đi, còn đợi gì nữa … làm gì có ngàn năm mà đợi

  4. @ Trần văn Hà: đồ vô lại …

    • @Bác Tây Độc ,

      E rằng Bác có hơi nặng lời với Bác TVH??? Bác TVH viết dzậy mà không phải ý dzậy đâu. Bác TVH chỉ muốn 36 nhà “trí thức” này thử quay về VN ở thì sẽ biết trắng đen ngay ý mà.

      ( Nếu em hiểu sai về Bác TVH thì em xin lỗi Bác Tây Độc trước )

  5. cám ơn T Pham.

  6. Bác Tây Độc bớt nóng. Tôi cũng cùng ý nghĩ với bạn T Pham. Ông bạn T V Hà có lẽ muốn viết theo cái kiểu văn của Công Tử HD nhưng chưa đạt lắm nên bị bác hiểu lầm đó thôi .Bác bỏ qua di cho vui vẻ. Và cũng mong ông Trần văn Hà đừng phiền.Đôi lời chân tình mong hai bác bỏ qua.

    • Tôi cũng đồng ý với bác Backy54. Thật ra thì bác tây độc “phát biểu” như thế là vẫn còn dè dặt đấy.

      Xin phép đề nghị huề cả làng nhé, các bác?

    • Đọc kỹ lại đoạn văn của ông Hà, tôi nghĩ có lẽ bác T. Phạm và Backy54 nói đúng. Hơn nữa, 2 người cùng nói thì phải chắc hơn 1 người, vả lại thấy ông Hà phản ứng cũng chừng mực, nên tôi phải suy nghĩ lại về mình.
      Thú thực câu nói “những người lính cũ được phép ngồi ăn xin là được đối xử tốt lắm rồi” làm tôi không còn bình tĩnh được nữa, nhưng như người xưa nói “no mất ngon, giận mất khôn” quả thật mình cần phải tu sửa nhiều.
      @ Trần văn Hà: thành thật xin lỗi ông vì đã quá lời. Âu dương Phong tui từ nay sẽ cẩn thận hơn.

  7. Xin phép bác TVH cho em viết lại như sau:
    “Đọc xong bài này tôi thấy 36 nhà trí thức và những ai kêu gọi hoà hợp hoà giải đã đạt được đỉnh cao trí tuệ của Đảng và có nhiều nhiệt tình. Nhiệt tình chấp hành nghị quyết 36 đầy tính ưu việt và mưu lược của đảng ta. Đảng ta đang nắm tất cả mọi thứ quyền trong tay mà còn kêu gọi hòa hợp hoà giải thì thật là ngây thơ … cụ. Những người không nắm bất cứ chút xíu quyền hành gì thì lại hay đòi hỏi, đề nghị này nọ, thật là trơ trẻ và ngu xuẩn. Những người lính cũ được làm hành khất HCM là nhờ có nhân quyền đấy nhá, nếu không thì lại rục xương trong trại cải tạo. Mai này 36 nhà trí thức kia nếu chịu từ bỏ quốc tịch Mỹ về VN sống, sẽ được đối xử tốt, được đón tiếp như một khúc ruột thừa ngàn dặm quay về với quê hương, còn đẫm mùi … đô la Mỹ. Hãy về đi, mau lên nhé, cơ hội ngàn năm một thưở, làm gì có ngàn năm mà đợi, mà chờ…”

  8. xin cám ơn các bác, nhất là bác Backy54, cám ơn nhận xét …muốn viết theo cái kiểu văn của Công Tử HD nhưng chưa đạt lắm… dù sao tôi cũng vui vì đã có thể gửi đến 36 nhà … chí thức những nhắc nhở về tinh thần hòa hợp hòa giải qua … những việc mà chắc vì …đang sống trong an nhàn (nhờ là công dân ngoại quốc) nên họ đã …lỡ quên mất, ví dụ như những … trại tù cải tạo đã được .. ưu ái dành cho những người lính cũ … để … hòa hợp hòa giải … chẳng qua vì … tài thì ít mà thịt muốn nhiều, muốn viết cho có vẻ … cao siêu chí thức cho các nhà chí thức đó nên vô tình tôi đã làm phiến lòng bác tây độc … xin tạ lỗi với bác tây độc.

  9. Chào Bác TVH đúng đắy bác ạ viết và đọc rất dễ bị hiểu lầm, Công Tử nhà ta cũng bị nhiều lắm rồi không kể xiết,thành ra ‘no star where’
    Bác ạ,thật là cảm ơn sự tiến bộ của loài người và mạng Internet cừ như ngày xưa sao ta có thể vào Tòa Soạn đọc bài vừa viết còn nóng hổi
    sau đó lại còn được ý kiến, ý ruồi khen chê loạn xạ

  10. Kính chào tất cả quý bác trong diễn-đàn Hoàng lão tiên-sinh.

    Lâu lắm rồi nhà cháu không được rảnh-rang gì cho lắm. Nhân vụ mùa cho Tết nhất đã xong, chỉ chờ cuối năm thu-hoạch nên cũng có tí thì-giờ để vào đây thắm hỏi quý bác.

    Tôi đọc thấy quý bác Backy54, bác Tây độc, ông bạn vàng TPham và Phương Lê vẫn hăng-hái và nhiệt-huyết như dạo nào. Tôi lấy làm mừng lắm.

    Nhân có chuyện này (thực chăm chăm) riêng tôi thấy vui vui. Nên copy làm trò hề nhạt hầu quý bác.

    Re: Về việc đảng Cộng-sản Việt-Nam………
    PHỤ BẢN

    Về cuộc mật đàm giữa Tổng Bí-thư Đỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn Kiệt và Chủ-tịch nhà nước Trung-quốc Giang Trạch Dân năm 1997.

    Lời giới thiệu của IFA

    Tháng bẩy năm 1977, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ được cử làm trưởng đoàn Pháp, của Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (Comité médical Franco-Chinois=CMFC) dẫn phái đoàn Pháp sang Trung-quốc làm việc trong hai tháng ở Bắc-kinh.

    Đang lúc ông ở Bắc-kinh, thì Tổng-bí thư đảng Cộng-sản VN. Đỗ Mười và Thủ-tướng CS. Võ Văn-Kiệt cũng sang đây, hội với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch-Dân. Nhờ quen thân với một vài ký giả ban Việt-Ngữ của đài tiếng nói Bắc-kinh, ông biết khá nhiều về cuộc mật nghị này. Trở về, ông viết thư cho một người bạn là ký giả Hồ Anh, chủ nhiệm bán nguyệt san Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, Hoa-kỳ. Tuy là thư riêng, nhưng đây là một tài liệu lịch sử bang giao Hoa-Việt, nó có thể giúp độc giả một cái nhìn rõ ràng hơn về bang giao giữa hai đảng Cộng-sản Trung-quốc, Việt-Nam, nên chúng tôi xin đăng nguyên văn, để một biến cố lịch sử này không bị chôn vùi. Cứ như nội dung bài này, thì năm 1997, đảng Cộng-sản VN còn kênh với đảng CS Trung-quốc, thế mà sau đó sang thời kỳ Lê Khả Phiêu, thì Trung-quốc dùng phép tắc nào mà biến VN thành một thuộc địa? Điều này xin để các vị cao minh giải đoán.

    Paris ngày 20 tháng 9 năm 1997.

    Kính thăm anh, và cháu Thủy-Tiên của chú.

    Tôi vừa đi Trung-quốc về anh ạ. Sau hai tháng ăn cơm Tầu, tôi lên ba ký. Cái bụng trông giống bụng Đổng Trác quá. Nhờ vậy sức khỏe tương đối dồi dào, ngày nào cũng nộp thuế cho cô bạn gái, vì vậy cổ cũng xí xái cho cái tội, bỏ cổ một thân một mình ở giữa cái xứ Paris ồn ào này, ngày ngày ngồi vọng phu. Đi xa về kể chuyện cho anh và cháu đọc, gọi là chút quà của xứ sở của Khổng-tử, và xứ sở của Khuất-Nguyên, của Văn Thiên-Tường.

    Bắt đầu từ tháng sáu, chúng tôi đã chuẩn bị. Sau cả tháng hội họp, phân chia nhiệm vụ, chúng tôi lên đường Hoa du. Đoàn của tôi gồm 9 đứa, thuộc Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (CFMC). Lần này chúng tôi làm nhiệm vụ trao, tức đem chuông đi đánh xứ người, mà chủ đề là giải phẫu chỉnh hình.

    Tất cả 9 đứa đều là giáo sư y khoa. Lớn nhất 64 tuổi, nhỏ nhất 45 tuổi, chia ra sáu đực, ba cái. Tám đứa đều là con cháu tộc Gaullois, còn tôi là con Rồng cháu Tiên. Kể về khả năng y khoa thì tôi đứng hạng bét. Nhưng sở dĩ tôi được làm trưởng đoàn, vì sống lâu lên lão làng. Cả 8 đứa đều mới được nghị định bổ nhiệm đâu năm, sáu năm. Riêng tôi, tôi đã ở trong CMFC đúng 20 năm. Vả lại, tôi được các bằng hữu Trung-quốc tín nhiệm, lại là thổ công trên đất Hoa-hạ, nên tôi nghiễm nhiên làm trưởng đoàn. Oai hơn tổng Cóc! Cả tám đứa đều có vợ hay chồng tháp tùng, bởi mấy khi được Hoa du. Có đứa còn mang cả con đi. Thành ra trên danh nghĩa có 9 đứa, mà phái đoàn lên tới 21 người. Được cái túi tiền của CMFC khá lớn, do các viện bào chế UPSA, UP John, Rhône Poulenc, Roche, MSD, Roussel… đài thọ, nên tôi chi cho phái đoàn thoải mái.

    Chúng tôi tới Bắc-kinh ngày 2 tháng 7 năm 1997 bằng phi cơ Air France. Khi phi cơ vừa chạm đất, tôi ra oai:

    – Tất cả tụi bây ngồi tại chỗ, nhường cho hành khách xuống trước.

    Chúng tôi thuộc loại VIP, được đón rước, tặng hoa, chào mừng nên không phải xếp hàng, mọi thủ tục quan thuế, đóng dấu trên thông hành đã có người lo.

    Sắp xếp, ấn định chương trình xong, nhiệm vụ của tôi coi như không còn gì đáng quan tâm. Anh biết không? Ở xứ Pháp mà một người đàn ông có chút máu văn nghệ như tôi đi ra ngoài cu ky một mình thì bị coi là ích kỷ, là bệnh hoạn, nên tôi đã hẹn danh ca Diệu-Nghi của đoàn văn công Hàng-châu gặp nhau ở Bắc-kinh. Nàng tới Bắc-kinh trước, khi tôi tới phi trường, thì nàng mặc bộ xiêm y khi đóng vai Dương Quý-phi, đón tôi, làm cả đoàn CMFC lé mắt phục tôi. Sau khi mọi việc chạy tốt, tôi xé lẻ, tiếu ngạo Bắc-kinh với Dương Quý-phi !

    Anh biết không, sang Bắc-kinh, ngoài nhân viên phái đoàn, tôi không có ai là bạn cả để bàn chuyện văn chương, ngoài Diệu-Nghi. Diệu-Nghi tuy đẹp, nhưng văn chương thì nàng ẹ quá (Không lẽ suốt ngày lên giường?). Buồn nẫu ruột ra được. May ơi là may, tôi gặp một anh bạn cũ, hiện làm việc trong ban Việt-Ngữ đài Bắc-kinh. Thế là hữu bằng tự viễn phương lai (1), tôi có bạn mà bạn có thể nói tiếng Hoa, tiếng Việt. Hơn nữa chúng tôi có nhiều hiểu biết về vấn đề VN. Anh bạn cũng có vợ là danh ca người Tô-châu. Thế là 4 chúng tôi cùng tiếu ngạo khắp kinh đô cổ kính này. Anh ta giới thiệu cho tôi mấy người bạn mới. Mấy anh ấy đều là Tầu lai, trước đây sống ở Chợ-lớn, Hà-nội cả. Nghĩa là Tầu thì bảo họ là Ố-nàm nhần. (2) Còn Việt thì bảo họ là Chệt.(3)

    Tôi sang được bẩy ngày, thì anh bạn ký giả báo cho biết rằng :

    “Quốc-vương Đỗ Mười và Tể-tướng Võ Văn-Kiệt sắp sang chầu Thiên-tử Giang Trạch Dân”.

    Anh ta nói :

    “Nghe đâu phái đoàn không đông lắm, và cũng không đi tham quan chỗ này chỗ kia. Cuộc chầu thánh Thiên-tử này coi ra có vẻ căng căng, không khéo lại có bài học nữa,(4) thì thanh niên Việt-Hoa tha hồ mà chết”.

    Thế rồi, anh bạn mất tích. Bốn ngày sau, anh gặp tôi, luôn mồm xin lỗi, vì phải theo dõi cuộc hội đàm. Anh than :

    “Tổ bà nó, bọn mình là người có học, có tư cách, thành ra không làm bí thư tỉnh, bí thư khu được. Diễn biến các cuộc họp mình biết hết. Thế mà lại phải trình bầy lại cho những thằng dốt hơn con bò. Nó nghe chán rồi nó phán: Điều này nên tiết lộ, điều này không. Sự thực thế này, nhưng phải viết quẹo như thế kia. Nghe chúng phán, tức muốn ứa gan. Cáu quá, tối về tao banh cái miệng Mao Chủ-tịch của vợ (5) rồi hét lên : Tôi là thằng hèn, không xứng đáng là con cháu ông Đổng, ông Giản (6). Bây giờ tao tìm mày để thổ lộ cho bõ tức”.

    Chú giải đoạn 1 của Văn-nghệ Tiền-phong:

    (1) Câu này lấy trong sách Luận-ngữ, ý nói : Có người bạn từ xa đến, chẳng đáng vui sao.

    (2) Ố nàm nhần. Tiếng Quảng-Đông, nghĩa là An-Nam nhân.

    (3) Chệt. Chỉ người Hoa.

    (4) Bài học. Hồi 1978, Đặng Tiểu-Bình đem quân đánh VN, rồi nói rằng dạy cho một bài học.

    (5) Miệng Mao Chủ-tịch. Tiếng lóng, mà dân chúng Trung-quốc dùng để chỉ cái ngàn vàng của phụ nữ.

    Đổng là Đổng Hồ, người nước Tấn. Giản là người nước Tề. Hai ông làm quan Thái-sử. Dù bị kề gươm vào cổ, bắt phải chép sai sự kiện lịch sử, vẫn chép đúng.

    Anh kể : Giang Trạch-Dân là người có học, thâm trầm, mưu cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời, mỗi ý đều nói rất văn hoa, lại ưa xen vào những câu trong kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu từ. Thế nhưng trong buổi họp ông ta gặp gã Đỗ Mười dốt đặc cán mai. Y lại hay lẫn (1). Một sự kiện đã nói rồi, bàn rồi, lát sau y quay trở lại. Đã thế, thông dịch viên của y thì nói giỏi, nhưng dốt văn chương cổ, không đủ kiến thức diễn giải hết ý của Giang. Tỷ như Giang nói móc Đỗ Mười trong bữa ăn rằng Mười xuất thân là tên hoạn lợn bằng câu :

    “Lợn Trung-quốc không to béo như lợn Việt-Nam, vì chúng ham nhảy cái quá. Còn lợn VN hầu hết là lợn thái giám, nên to lớn”.

    Thế nhưng anh thông dịch, dịch là :

    “Lợn Trung-quốc không to béo như lợn VN, vì bọn nuôi lợn ham tán gái, thiếu chăm sóc. Còn lợn VN thì do cán bộ chăm nuôi cẩn thận”.(2)

    Tôi hỏi :

    – Thế khi bắt tay nhau, thì Giang nói trước hay Đỗ nói trước ?

    – Không ai nói trước cả. Sau khi bắt tay, thì Giang ứng khẩu đọc hai câu thơ như sau :

    Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,
    Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu.

    Thông dịch, dịch như sau : Sau khi trải qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn. Hôm nay, gặp lại nhau, cười một cái, mới hiểu rõ ai là bạn, ai là thù. Theo mày, ý Giang muốn nói gì ?

    Tôi phát biểu ý kiến :

    – Tao thử giải nghĩa theo kiểu Tây xem có đúng không nghe. Độ là bến đò. Tận là hết. Kiếp là tiếng nhà Phật để chỉ tai vạ. Ba là sóng gió. Câu này hiểu theo nghĩa đen thì : Từ trước đến nay, Trung-quốc như răng, VN như môi. Hồi 1979, Đặng Tiểu-Bình xua quân đánh VN, rồi nói rằng dạy Hà-nội bài học ; thì không còn cái tình môi hở răng lạnh nữa, mà là răng cắn môi máu chảy ròng ròng. Anh em ta, những người Cộng-sản mí nhau trải qua một tai kiếp như đò vượt qua sông đầy sóng gió. Bây giờ các đồng chí sang đây, thì chúng ta lại cũng vẫn là anh em… Cộng-sản. Chúng ta phải xiết chặt tình huynh đệ, bằng không thằng cảnh sát quốc tế nó dùng đô la, nó nhét vào mồm chúng ta, rồi chúng ta lại đánh nhau thì chết.

    Không ngờ tôi giảng nghĩa kiểu cà chớn như vậy, mà mấy anh bạn lại cười khúc khích :

    – Cũng gần đúng ý Giang. Giang cũng muốn nói như vậy.

    – Còn câu thứ nhì, thì ý nghĩa giản dị thôi. Tương phùng là gặp nhau. Nhất tiếu là cười một tiếng. Mẫn là hiểu rõ. Ân là ơn. Cừu là thù. Toàn câu này ý nghĩa như sau : Hôm nay anh em gặp nhau đây, cười một tiếng, hiểu rõ đâu là ân, đâu là cừu.

    – Không hẳn như vậy, theo tao thì Giang muốn nói : Chúng ta gặp nhau đây hãy quên đi những gì là cừu thù, mà chỉ nên nhớ đến cái ân khi xưa Trung-quốc đã viện trợ cho VN suốt ba chục năm liền.

    Thế nhưng ba hôm sau, một trong ba anh bạn đó nói riêng với tôi rằng :

    “Cái câu thứ nhất, nó có ý nghĩa rất sâu xa, đại ý đe dọa Mười, Kiệt rằng : Bọn bay hãy coi gương thằng Lê Đức Anh. Nó bị méo miệng, một mắt nhắm không được. Bán thân bất toại”.

    Tôi kinh hãi hỏi :

    – Ẩu ! Trong hai câu thơ trên chữ nào chỉ vào việc ấy

    – Mày ăn phó mát Camember riết rồi quên mẹ nó cả chữ nghĩa. Tao hỏi mày, thế chữ Huynh tiếng Việt nghĩa là gì ?

    – Là… Anh ! Ừ nhỉ. Chết cha thằng Lê Đức-Anh. Câu trên hiểu theo nghĩa khác là : Sau khi chúng mày với tao đấm đá nhau, thì thằng Lê Đức-Anh còn nằm chình ình ra kia. Bây giờ gặp nhau đây, tao cười một tiếng, để chúng mày biết cái tội lấy oán trả ân.

    Tôi tò mò :

    – Thế bọn Giang đánh thuốc độc Lê Đức-Anh từ bao giờ ? Đánh bằng cách nào ?

    – Cách đây mấy năm, bộ ba Mười, Anh, Kiệt sang Quảng-Đông triều kiến. Trong dịp đó Anh được tặng một cái áo. Chính cái áo tẩm nước hoa có thuốc đó đã làm cho Anh bị xuất huyết não, thành bán thân bất toại.

    – Xạo ! Tao đếch tin.

    – Uổng cho mày là giáo sư y khoa, bị mấy con Đầm hớp hồn rồi thành lú lẫn.

    – Tao chưa hề xài Đầm ! Từ hồi 18 tuổi đến giờ tao toàn ăn cơm Việt hoặc cơm Xẩm. Mày thấy không? Sang đây tao đi với Diệu-Nghi, chứ có đầm đìa nào đâu ?

    – Im cái mồm đi! Cãi chầy. Tao hỏi mày hôm rồi ông thủ trưởng của tao than rằng, thỉnh thoảng trong đêm ông ấy bị lên cơn đau tim, mày cho ông í một hộp cao dán. Mày dặn rằng: Khi lên cơn thì dán vào ngực, rồi hôm sau đi tìm bác sĩ. Có đúng không ?

    – Đúng.

    – Thuốc đó là thuốc gì ?

    – Cordipatch.

    Tôi chợt hiểu : Thì ra Lê Đức Anh bị Trung-quốc dùng một thứ thuốc thấm qua da, rồi thình lình bị huyết áp cao, sinh tai biến mạch máu não mà thành bán thân bất toại. Biết thế, nhưng tôi giả bộ ngây người ra không hiểu, để anh bạn tôi phải nói ra. Quả nhiên anh mắc bẫy. Anh hỏi tôi :

    – Tao hỏi mày câu này : Mày có nhớ năm 1789, khi sai Thành Lâm sang phong vương cho vua Quang-Trung, vua Càn-Long gửi tặng cho vua Quang-Trung chiếc áo có thêu kim tuyến bẩy chữ :

    Xa tâm chiết trục đa điền thử

    Tất cả các quan Tây-sơn, Đại-thanh đều không ai hiểu ý nghĩa bẩy chữ này. Hiểu theo nghĩa đen là : Giữa cái xe, trục bị gẫy, đa số là do con chuột đồng. Ngô nghê thậm ! Nhưng năm 1792, vua Quang-Trung bị não xuất huyết, nằm bán thân bất toại mấy tháng rồi băng. Năm đó là Nhâm Tý, người ta mới hiểu rõ : Chữ Xa với chữ Tâm là chữ Huệ, tên vua Quang-Trung. Xa tâm là Huệ, chiết trục là gẫy trục, tức chết… Thử là con chuột, chỉ năm Tý, vua Quang-Trung sẽ băng. Trong áo đó tẩm thứ thuốc ngấm dần vào da. Mày hiểu chưa?

    – Hiểu.

    Tôi trở lại vấn đề:

    – Thế Mười, Kiệt có hiểu ý nghĩa hai câu thơ đó không ?

    – Ngay tại đương trường thì chúng không hiểu. Nhưng tối về, bọn trí thức đi theo cố vấn cho chúng. Chúng hiểu. Vả cái vụ vua Quang-Trung, Lê Đức-Anh, Đào Duy-Tùng, Lê Mai bị đầu độc, Mười, Kiệt đều biết cả. Nên ngu gì thì ngu, chúng cũng hiểu.

    Chú giải đoạn 2 của Văn-nghệ Tiền-phong :

    Tin này khá chính xác. Vũ Thư-Hiên trong Đêm giữa ban ngày cũng thuật : Trước đây Đỗ Mười bị bệnh tâm thần, phải vào nhà thương điên hai lần. Theo tin trong nước thì gần đây Mười bị chứng lẫn, đú.

    2. Hồi chưa theo Cộng-sản, Đỗ Mười làm nghề hoạn lợn (Thiến lợn). Thấy cái nghề này quá bẩn, Hồ Chí-Minh mới sai chép trong tiểu sử của Mười rằng y làm nghề thợ sơn.

    – Thế giữa Đỗ với Giang có bàn về việc chủ quyền hai quần đảo Hoàng-sa, Trường-sa không ? (1)

    – Có ! Đỗ than rằng trong khi các bên bàn luận chưa ngã ngũ ra sao, thì hải quân Trung-quốc cứ nhằm hải quân Việt-Nam mà tấn công. Như vậy thì sao có thể mẫn ân cừu được ?

    – Giang trả lời sao ?

    Giang cười xòa, rồi nói rằng :

    – Quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) do Trung-quốc chiếm từ chính quyền miền Nam VN, không liên quan gì tới đảng Cộng-sản Việt-Nam cả. Còn những cuộc đụng độ mới đây tại quần đảo Nam-sa (Trường-sa) thì đó là những biến cố nhỏ. Chúng ta gặp nhau đây, hãy bàn đại cuộc thì hơn.

    Đỗ Mười không chịu, y cãi :

    – Đụng chạm nhỏ gì mà tới 9 lần. Thiệt hại nhân mạng lên tới mấy trăm. Nhất là cuộc tấn công của hải quân Trung-quốc ngày 14-3-1988, khiến ba chiến hạm Việt bị chìm (2), mấy trăm nhân mạng bị chết.

    Giang bèn xuất ra một văn kiện, do Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng ký trước đây. Giang nói :

    – Ngày 4-9-1958, khi Trung-quốc ra bản tuyên cáo lãnh thổ 12 hải lý, với bản đồ đính kèm, thì ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn Đồng của VN, ký văn thư gửi cho Thủ-tướng Chu Ân Lai của Trung-quốc, công nhận bản tuyên bố lãnh hải. Từ ngày ấy cho đến nay, phía VN chưa bao giờ chống đối văn kiện này. Như vậy rõ ràng VN công nhận toàn bộ vùng biển Đông, trong đó có hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) thuộc Trung-quốc. Quần đảo Tây-sa, Trung-quốc đã đánh chiếm từ chính quyền Sài-gòn ngày 19-1-1974. Còn quần đảo Nam-sa (Trường-sa), sau ngày 30-4-1975, VN đem quân tới chiếm đóng. Như vậy là VN xâm lăng, lấn chiếm lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc phải nổ súng đuổi quân xâm lược là lẽ thường tình.

    Mười cãi :

    – Tại Trường-sa còn có quân đội của Phi-luật-tân, Đài-loan, Mã-lai. Tại sao thủy quân Trung-quốc không tấn công vào quân hai nước đó, mà chỉ tấn công vào thủy quân Việt-Nam? Giang cười rằng: Quần đảo này hiện đang trong vòng tranh chấp giữa Trung-quốc với Phi-luật-tân, Mã-lai, nên Trung-quốc không thể tấn công họ, như vậy là bá quyền. Còn quân của Đài-loan ư? Quân Đài-loan cũng là quân Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc không thể nổ súng, vì như vậy là huynh đệ tương tàn. Mươì cãi rằng : Nhưng tại Trường-sa từ trước đến giờ không hề có quân Trung-quốc đóng. Nay Trung-quốc dùng sức mạnh, chiếm mất mấy đảo của VN, như thế là phi lý.

    Giang bèn trả lời rằng :

    – Đảng Cộng-sản VN hiện nêu cao việc dùng tư tưởng của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, thì đồng chí hãy tuân thủ tư tưởng của Hồ Chủ-tịch, vì chính Hồ chủ-tịch ra lệnh cho đồng chí Phạm Văn Đồng ký văn thư công nhận các quần đảo Nam- hải là của Trung-quốc.

    Tôi hỏi :

    – Cuộc mà cả cuối cùng ra sao ?

    – Cả hai bên đều cù nhầy. Giang thì nhất định không chịu nhượng bộ, vì căn cứ vào văn thư do Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Không còn gì để bàn nữa.

    Tôi hỏi :

    – Thế họ có cãi nhau gì liên quan đến vấn đề Cao-man không ?

    – Hỏi thế mà cũng hỏi. Quốc-vương Đỗ triều kiến Thiên-tử Giang mục đích về vấn đề này mà thôi.

    – Họ bàn gì ?

    – Có bàn cái đếch gì đâu ? Giang chửi Đỗ sai con nuôi là thằng Hun-Sen bóp cổ thằng con lai ngoại hôn Ranariddh của Giang. Như vậy là không tôn trọng những gì cam kết trước đây (3).

    – Tại sao Ranariddh lại là con lai ngoại hôn ?

    – À xin lỗi, đây là câu nói lóng của bọn tao. Vì khi xưa bọn Lê Duẫn đem quân sang đánh thằng Pol Pot, thì anh chàng Ranariddh đang sống tại Pháp. Anh ta được Pháp giúp đỡ, lập mặt trận, la làng rằng bọn VC nó cướp nước tôi. Vậy có phải mẫu quốc Pháp đẻ ra anh ta không ? Sau khi về nước chấp chính, anh ta đếch có thực lực, anh ta phải ngước đầu nhìn về Thiên-quốc, xin ông bố Đặng Tiểu-Bình giúp đỡ. Thế thì anh ta là đứa con lai, nửa chệt nửa Tây. Khi Trung-quốc thấy cái thằng Pol Pot bị thế giới kinh tởm quá, thì cho nó bệnh(4), rồi đem tất cả lực lượng trao cho Ranariddh, để hợp pháp hóa đám thợ giết người này, hầu giữ chân ở Cao-man. Tưởng như vậy là không ai nói gì được. Nào ngờ thằng cảnh sát quốc tế nó sai Quốc-vương Đỗ Mười đá thằng Ranariddh. Đỗ bèn sai thằng Hun-Sen làm. Đúng ra việc làm của Hun-Sen phải kết tội, mà các cơ quan truyền thông của Mỹ gọi nó là anh hùng. Mẹ kiếp, anh hùng cái mả mẹ nó í. Vì vậy Giang thiên tử mới triệu hồi Quốc-vương, Tể-tướng Ố-nàm sang để tính tội (5).

    Tôi cố khai thác :

    – Thế Thiên-tử Giang tính tội Đỗ quốc vương ra sao ?

    – Người nổi giận, chỉ vào mặt Đỗ quốc vương mắng rằng :

    “Đế quốc Mỹ kéo thằng Cao-man, Miến-điện vào ASEAN với mục đích gì ? Các người nhập ASEAN có phải phải các người định dùng quần lang chiến hổ phải không ? Có phải các người dựa vào thằng đế quốc để chống Trung-quốc không ?”.

    – Thế bọn Đỗ Mười trả lời sao ?

    – Tên Võ Văn-Kiệt trả lời rằng : Khi nhà bị cháy, thì dù nước sông, nước biển, nước cống, nước rãnh gì cũng phải múc mà dập tắt lửa.

    – Cuối cùng hai bên thỏa thuận ra sao ?

    – Thỏa thuận cái con khỉ tườu. Bọn mặt dầy Mười, Kiệt khi đã bám đít được cái tên cảnh sát quốc tế rồi, thì nó có coi bọn Giang ra cái đếch gì. Mày ở Pháp, thì mày phải biết chứ ? Thằng Mỹ đã huấn luyện mấy trăm sĩ quan của Hà-nội về phối hợp liên quân Đồng-minh (6). Đồng-minh đây là ai ? Nếu không phải bọn ASEAN, bọn Nam-hàn, bọn Nhật-bản, bọn Đài-loan, Thái-lan, Phi-luật-tân ? Phối hợp để đánh ai ? Chống ai ? Nếu không phải là bọn bá quyền Giang ? Hơn hai mươi năm trước, bọn mày bị bọn Mỹ bỏ rơi, bọn Hà-nội được Nga-sô, Trung-quốc giúp, đánh cho thua bét tỹ ra, phải chạy đi khắp nơi. Bây giờ bọn mày là Liên-Âu, là Mỹ rồi, bọn Mười, Kiệt phải quỳ gối trước Liên-Âu, trước Mỹ hát bản nhạc có hai nốt (7). Nay mai, mày về VN, làm cố vấn Mỹ, tha hồ mà hét tụi nó.

    – Tao ở Tây, tao có đánh nhau với ai đâu mà thua với được. Tây đếch cố vấn cho ai hết. Vả Tây có cố vấn cho Mười Anh Nông Dân, cũng không bao giờ dùng đến tao ( . Lý do tao là nhà văn, là có nhiều bạn làm ký giả… hơi tí là đem lên báo.

    Trong dịp này mấy anh bạn cho tôi xem cuốn vidéo quay quang cảnh buổi họp. Khi tới chỗ Mười bắt tay Giang, thì anh ta bấm nút cho máy dừng lại rồi chỉ vào đôi câu đối treo trên tường :

    – Đôi câu đối này chính Giang đưa ra ý kiến, rồi bọn Hoa-kiều bị Lê Duẫn đuổi khỏi VN làm. Mày thử đọc xem, có gì lạ không ?

    Tôi đọc :

    Nam-thiên đại thiện, nhân nhân thức.
    Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.

    – Mày hiểu không ?

    – Có đếch gì mà không hiểu. Nam-thiên để chỉ VN, đại là lớn. Thiện là vua nhường ngôi cho người hiền. Nhân nhân thức là ai ai cũng biết. Toàn câu này, Giang có ý diễu Đỗ Mười có cai trị dân như bọn phong kiến. Nhưng nay Mười sắp sửa nhường ngôi cho người khác, chứ không có cái vụ bầu bán gì cả.

    – Giỏi. Còn câu sau ?

    – Bắc-quốc là Trung-quốc. Điền là ruộng. Thăng là lên. Xứ xứ tri, là khắp thế giới ai cũng biết. Toàn câu ngụ ý : Mấy năm nay, ruộng nương Trung-quốc tăng sản lượng cao, phải nhập cảng gạo VN rất ít. Nhưng cũng ngụ ý nói : Nước sông đưa lên ruộng, làm cho dân no đủ, đó là nhờ Giang Trạch Dân. Bởi giang là sông. Trạch là ruộng. Tóm lại hai câu này ngụ ý : Anh là tên phong kiến, đang chuẩn bị nhường chức tổng bí thư cho đàn em. Cả nước VN ai cũng biết. Còn bên Trung-quốc này, ta là Giang Trạch Dân, ta có kế hoạch làm cho nông sản dư thừa, cả thế giới đều biết.

    Anh bạn tôi gật đầu :

    – Tao cũng nghĩ như thế. Câu đối đó gói ghém nhiều ý thực. Nhưng ở Bắc-kinh này thiếu gì người hay chữ, mà phải nhờ tụi Hoa-kiều ? Bọn tao nghĩ nát óc ra mà không giải thích được. Vậy mày về Pháp, mày thử mò xem, có còn ý khác không ? Nếu mày giải được, thì thư cho bọn tao.

    Chú giải đoạn 3 của Văn-nghệ Tiền-phong :

    (1) Hai quần đảo mà Trung-quốc, Việt-Nam đang tranh chấp là Hoàng-sa và Trường-sa. Đảo Hoàng-sa người Hoa gọi là Tây-sa. Còn đảo Trường-sa họ gọi là Nam-sa.

    (2) Mẩu tin này tiết lộ: Hải-quân Trung-cộng đã tấn công hải quân Việt-cộng trước sau 9 lần, làm hư hại 6 chiến hạm, và 3 chiến hạm chìm, chết mấy trăm người.

    (3) Qua tiết lộ này, ta biết trong cuộc họp hồi Mười, Anh, Kiệt sang Trung-cộng mấy năm trước có cam kết rằng VC phải để cho Ranariddh, thân Trung-cộng làm đệ nhất thủ tướng Cao-miên.

    (4) Qua tiết lộ này, ta mới biết Trung-cộng đã đầu độc Pol Pot.

    (5) Mẩu tin này tiết lộ : Trung-cộng kết tội VC bây giờ làm con hờ của Mỹ. Muốn đá tung cái vòi con bạch tuộc Trung-cộng khỏi Đông-Nam-Á, Mỹ sai VC làm. VC bèn sai đứa con ngoan ngoãn Hun-Sen ra tay. Hèn gì, Mỹ cũng như các nước tự do chỉ phản đối Hun-Sen lấy lệ.

    (6) Độc giả ở Hoa-kỳ nào biết rõ ràng về tin này, xin cho chúng tôi biết chi tiết.

    (7) Bản nhạc hai nốt : Tiếng lóng của giới bình dân Trung-quốc để chỉ tiền Hoa-kỳ dollar. Hai nốt là đô và la.

    ( Mười Anh Nông Dân để chỉ Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh. Dân để chỉ Võ Văn Kiệt, vì Kiệt có bí danh là Sáu Dân.

    Anh Hoàng ơi !

    Từ hôm về Pháp đến giờ, tôi cứ suy nghĩ mãi về ý nghĩa hai câu trên. Nào chiết tự ? Nào chia chữ. Nào hợp chữ, mà cũng không tìm ra ý nghĩa. Sau, tôi thấy cái vế dưới để nói về Giang, thì tôi nghĩ cái vế trên phải có cái gì nói về Đỗ. Hai câu này do Hoa-kiều làm thì phải có ý nghĩa tiếng Việt ở trong. Mà tiếng Việt thì hay nói lái. Cuối cùng tôi đã tìm ra :

    Nam-thiên đại thiện nhân nhân thức,
    Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.

    Đại là lớn. Đại thiện là lớn thiện, nói lái của tiếng thiến lợn.

    Còn vế dưới điền thăng là thằng điên.

    Tóm lại đôi câu đối trên, Giang móc Đỗ Mười là thằng hoạn lợn, là thằng điên.

    Vậy hai câu trên bao hàm ba nghĩa khác nhau :

    Nghĩa thông thường :

    Tại Việt-Nam, Đỗ Mười sẽ nhường ngôi cho đàn em. Ai cũng biết.
    Bên Trung-quốc, ruộng nương xanh tốt, gạo dư thừa. Cả thế giới đều hay.

    Nghĩa thâm trầm :

    Tại Việt-Nam, Đỗ Mười là tên phong kiến, độc tài, đi chệch hướng của chủ nghĩa Cộng-sản, giữ ngôi bí thư như của riêng.

    Bên Trung-quốc, Giang là người làm cho dân chúng có đủ lúa, gạo.

    Nghĩa bí hiểm :

    Tại Việt-Nam Đỗ Mười chỉ là thằng hoạn lợn. Ai cũng biết.
    Bên Trung-quốc, người nào cũng biết y là một thằng điên.

    Thôi đi xa về kể chuyện cho anh đọc như vậy đủ rồi. Nghe nói hồi này anh hay sang Pháp chơi. Dính Đầm rồi hả ? Báo cho anh biết, cái hũ phó mát Camembert của mấy cô Đầm mà tí toáy vào rồi, thì không bao giờ có thể dứt ra được đâu.

    Viết đến đây, tôi cảm thấy ơn ớn lạnh. Chơi với anh gần ba mươi năm gì mà tôi không biết anh. Đe giết anh, anh không sợ. Nhưng không cho anh làm báo thì anh hóa điên. Khi làm báo, thì anh coi độc giả của anh như vua. Cho nên viết thư cho anh, tôi sợ anh đăng tên tôi lên, thì tôi sẽ mất job. Vậy tôi xin hăm trước: Anh mà đăng lên, thì đúng ngày mùng một tết tôi sẽ sang Arlington bẹo tai anh. Tôi nói được thì tôi làm được.

    Kính chúc anh khỏe. Cho tôi hôn cháu Thủy-Tiên của chú. Nhớ nó gớm.

    Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.

    Ghi chú của IFA :

    Quả nhiên ký giả Hồ Anh cho đăng bức thư này vào Văn-Nghệ Tiền-Phong số xuân Mậu Dần, sau khi đã sửa chữa đi đôi chút, dưới hình thức một người bạn ở Costa Mesa, California, viết thư cho ông. Nhưng đảng Cộng-sản VN cũng đoán ra người viết là ai, nên Yên-tử cư-sĩ mới bị liệt vào một trong 80 tên phản động nhất.

    • Chào mừng bác Van Toan. Lâu ngày dữ hén. Mỗi lần bác đi xa về đều có “quà” thật xứng đáng. Tuy nhiên, tôi vẫn ngờ ngợ là đã đọc bài này do ai đó post trên diễn đàn này, cách đây cũng đã khá lâu. Tuy nhiên, đọc lại vẫn thú vị như đọc bài mới, vì tôi dốt tiếng tây lẫn tiếng Hán. Cám ơn bác. Chúc bác luôn vui khỏe và mong bác tiếp tục góp mặt trên diễn đàn này. Kính mến.

    • Cám ơn bác VanToan cho đọc một bài thật giá trị. Những người có đầu óc, chữ nghĩa, văn hóa và từng trải mà lại có máu văn nghệ, tiếu ngạo như bs TĐSỹ thật là đáng quý. Một thế hệ cha anh từ từ ra đi, lo lắng cho ngày mai thế hệ sau có ai đủ tư cách, hiểu biết để nối gót chống lại csvn và cstq…Mong các bác trên dđ thật dồi dào sức khỏe, trường kỳ kháng chiến để còn có cơ hội dạy dỗ cho đàn em, đàn cháu dốt nát như cháu đây…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: