• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Tưởng Mắt Em Buồn

Tôi đọc nhiều thơ nhưng không thuộc, chỉ nhớ lõm bõm, tôi thường kể Thơ sai trong những bài tôi viết. Tôi bị các bạn phê bình:

“Cậu chuyên kể Thơ sai mà cậu lại cứ thích kể Thơ..”

Trước năm 1946 tôi đã được đọc nhiều Thơ, tôi đã thuộc một số bài Thơ,  tôi cảm và thuộc nhiều Thơ Xuân Diệu, Thơ Huy Cận, nhưng tôi không được đọc qua một bài thơ nào của Thi Sĩ Ðinh Hùng.

Những năm 1960 ở Bin-đinh Cửu Long, Ðường Hai Bà Trưng, Sài Gòn Ðẹp Lắm Sài Gòn ơi.. ông Văn sĩ Thanh Nam nói với tôi:

“Nỗi bực bội nhất của Ðinh Hùng là Ðinh Hùng không có Thơ trong Thi Nhân Việt Nam..”

Ðông Hồ, Bàng Bá Lân có Thơ trong Thi Nhân Việt Nam, vài người khác không xứng đáng được có Thơ trong TNVN như Mộng Tuyết, Vân Ðài, Phan Khắc Khoan, Hằng Phương cũng mỗi người được hai trang. Riêng Ðinh Hùng không có trang nào, không có bài Thơ nào trong Thi Nhân Việt Nam, tác giả Hoài Thanh.

Rất có thể nguyên nhân làm Ðinh Hùng không có Thơ trong TNVN vì ông làm Thơ sau năm 1942 là năm Hoài Thanh — Hoài Chân xuất bản Thi Nhân Việt Nam? Rất tiếc bốn mươi mùa sầu riêng trổ gai trước đây khi Thi Sĩ Ðinh Hùng còn sống, tôi còn được gập Thi Sĩ luôn, tôi đã không hỏi ông bài thơ thứ nhất đăng báo của ông là bài nào, đăng năm nào. Và ông nghĩ gì, ông nói sao về chuyện không có Thi sĩ Ðinh Hùng trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân?

Năm 1951 ở Sài Gòn, một anh bạn tôi — anh chẳng dzăng nghệ, dzăng gừng chi cả nhưng ông thân anh là nhà kinh doanh Sài Gòn-Hà Nội nên ông có mua năm vài tờ báo Hà Nội. Bạn tôi cho tôi xem một bài thơ đăng trong một tờ báo Hà Nội,  anh nói:

– Bài thơ này hay quá.

Chưa đầy Hai Bó Tuổi Ðời, mới Mười Tám, Mười Chín Que chi đó, lần thứ nhất tôi đọc Thơ Ðinh Hùng trong vườn nhà bạn tôi ở  đường Barbé — Sau 1956 đường Barbé trở thành đường Lê Quí Ðôn, vi-la bạn tôi ở trước cửa tòa nhà Sở Thông Tin Hoa Kỳ số 8 Lê Quí Ðôn — con đường nhiều hàng cây sao thân thẳng vút, lá xanh. Năm ấy cây xanh cho đến bi giờ cây lá Barbé-Lê Quí Ðôn vẫn cứ xanh — Thơ như vầy bạn tôi không kêu hay loạn cào cào sao được:

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên em.. – Ôi biển sắc, rừng hương
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự thiên đường.

Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly
Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước.
Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước
Cả con đường sao mọc lúc ta đi
Cả chiều sương mây phủ lối ta về
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ…

……………

Năm 1954 Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, anh rể của Thi Sĩ Ðinh Hùng — cùng Thi Sĩ Ðinh Hùng di cư vào Sài Gòn. Năm thứ nhất ở Sài Gòn hai ông mướn nhà ở khu sau rạp Xi-nê Thanh Vân đường Lê văn Duyệt, Hòa Hưng. Năm ấy nhà tôi cũng ở khu này. Tôi biết nhà hai ông nhưng tôi không được gập hai ông vì tôi đang ở Lính — Lính Ðệ Nhất Ðại Ðội Võ Trang Tuyên Truyền Tay Súng Thompson-Tay Ðàn Ghi-ta Phòng Năm Bộ Tổng Tham Mưu — và vì tuy tôi đã có vài bài thơ, vài truyện ngắn được đăng báo, tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn Năm 1952 của Nhật Báo Tiếng Dội, tôi vẫn còn là một thứ Văn Nghệ Mầm Non chưa có quyền được léng méng đến gần mép chiếu những Nhà Văn Nhà Thơ  Lớn.

Năm 1955 khi ông Ngô Ðình Diệm còn là Thủ Tướng và đang bị những nhóm Nguyễn văn Hinh, Bình Xuyên, Cao Ðài, Hòa Hảo chống đối, khi Bộ Trưởng Bộ Thông Tin là ông Phạm Xuân Thái, một tối Nguyễn Ngọc Tú, người về sau là Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather — Tú  đã chết khoảng năm 1979 ở Trại Cải Tạo Phú Khánh, rủ tôi đến Rạp Thống Nhất xem buổi trình diễn văn nghệ có tầm cỡ quốc gia lần thứ nhất được tổ chức ở Saigòn.

Ðêm văn nghệ trình diễn vở kịch “Dưới Bóng Thánh Giá” — tác giả vở kịch này là Hoàng Trọng Miên. Nghe nói vở kịch này được Hoàng Trọng Miên viết trong những năm 1968, 1949 ở khu Việt Minh, vở kịch đã được diễn ở vùng Kháng Chiến Khu Ba, Khu Tư. Vở Kịch có nột dung đả kích giới Giáo sĩ Thiên Chuá Giáo. Nhân viên Bộ Thông Tin không biết chuyện đó nên cho diễn “Dưới Bóng Thánh Giá.” Gần đến ngày trình diễn Bộ Thông Tin mới biết  và mới hủy buổi diễn.

Ðó là nguyên nhân làm cho Hoàng Trọng Miên thấy anh bị trù ếm, hãm hại và anh trở thành kẻ thù của gia đình họ Ngô. Năm 1965 Hoàng Trọng Miên viết tiểu thuyết “Bà Cố Vấn” — sau đổi sang tên “Ðệ Nhất Phu Nhân,” truyện mạ lỵ, bịa đặt, vu cáo bà Trần Lệ Xuân đủ thứ tội lỗi. “Bà Cố Vấn” được đăng trên nhật báo Quyết Tiền của chủ nhiệm Hồ Văn Dồng, được xuất bản thành sách — và năm 2000 được tái bản ở Cali, Hoa Kỳ.

Tôi không nhớ đếm ấy vở kịch tên gì, ai là tác giả, được diễn thay Kịch “Dướng Bóng Thánh Giá” của Hoàng Trọng Miên, tôi chỉ nhớ đêm đó là  ần thứ nhất và cũng là lần duy nhất kiêm lần cuối cùng tôi được xem màn Vũ “Trấn Thủ Lưu Ðồn” của Hoàng Thư, xem Vũ Ðức Duy, Võ Ðức Diên đóng kịch.

Tôi được thấy hai anh Thiếu Lang, Hoàng Năm diễn xuất từ năm 1953 vì hai anh là nhân viên Ðài Phát Thanh Quân Ðội từng nhiều lần đi công tác với Ðại Ðội Võ Trang Tuyên Truyền trong đó có tôi.

Nguyễn Ngọc Tú bằng tuổi tôi nhưng sắc sảo, từng trải hơn tôi nhiều. Ra cái điều ta đây cũng là dzăng nghệ sĩ chứ hổng phải là khán giả thường dân, anh vào hậu trường nhà hát. Tôi lớ ngớ vào theo anh. Ðang đứng láo ngáo tôi nghe Tú hỏi:

– Mày gập Ðinh Hùng lần nào chưa?

Không đợi tôi trả lời, anh nói:

– Ðinh Hùng nè..

Tôi gập Ðinh Hùng lần thứ nhất trong hậu trường rạp Thống Nhất. Tối hôm ấy láo nháo tôi không được nói gì nhiều với Thi Sĩ, tôi chỉ được Nhà Thơ cho cái bắt tay xã giao. Tôi cũng không có thì giờ quan sát diện mạo ông nhiều. Chỉ thấy ông dáng người nhỏ nhắn, tóc dài, mặc vét-tông, tay xách cái cặp da.

Hai ba mùa thu lá bay theo nhau qua. Năm 1956 tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn trên Văn Nghệ Tiền Phong, Chiếc Hôn Tử Biệt, Kiều Giang trên Ngôn Luận, tôi làm nhân viên Tòa Soạn Nhật Báo Sàigòn Mới. Không biết vào lúc nào tôi được các văn nghệ sĩ đàn anh công nhận là văn nghệ sĩ. Một chiều thứ Bảy năm 1958 tôi đến dự một buổi nói chuyện Dzăng Nghệ Dzăng Gừng tổ chức tại cái gọi là Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sĩ ở đường Tự Do — Ông Phạm Xuân Thái, Bộ Trưởng Thông Tin chính phủ của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm — được giao quyền làm chủ Câu Lạc Bộ này. Tan hàng, trời bắt đầu tối lại lướt thướt mưa. Vũ Khắc Khoan có một câu tả cảnh những buổi hoàng hôn lướt thướt mưa như thế này:

Mỗi lúc hoàng hôn xuống
Là giờ viễn khách đi… hít.

VêKaKa còn có một câu nữa về Thơ Ðinh Hùng:

– Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Ta đi về những phố không đèn

Ði về những phố không đèn làm cái gì? Ðinh Hùng là phải đi về những phố có đèn chứ.

Ðinh Hùng và tôi đứng trên hiên Câu Lạc Bộ nhìn ra con đường Tự Do loáng ướt nước mưa. Gió lạnh làm những hàng cây me rùng mình. Ðinh Hùng cười với tôi:

– Mình đi chơi đi?

Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Tôi chịu ngay. Thời ấy pháp luật Việt Nam Cộng Hòa trừng trị tội hút thuốc phiện rất nghiêm khắc. Việc Hít Tô Phê bị coi là một trọng tội. Ðệ tử Cô Ba bị tó quả tớm bên bàn đọi là phải ra tòa, có án, vào tù Chí Hòa đàng hoàng. Công chức, quân nhân nghiện hút bị bắt bị sa thải ngay lập tức. Tôi có chiếc xe Jeep quân đội phế thải nên có phương tiện đi với Ðinh Hùng, đúng ra là đưa Ðinh Hùng  vào tận Khu Cây Da Sà Phú Lâm, trên đường đi Ðức Hòa, Ðức Huệ. Cây Da Sà là khu định cư của người Nùng, người Tầu Bắc Việt di cư. Ở đầu khu có Cây Da, rễ cây sà xuống đất nên khu có tên là Khu Cây Da Sà. Vì ở ngoại vi Sài Gòn-Gia Ðịnh, riêng biệt giữa đồng nên Cây Da Sà được tương đối dung dưỡng và tự do với hai mục Tứ đổ tường: Yên và Ðổ: Cờ Bịch và Hít Tốp. Khứa Cờ Bịch và Hít Tốp thường lạnh lùng với hai món Tửu Sắc — Rượu, Ðàn Bà — nên hai món này không có mặt trong Khu Cây Da Sà.

Khoảng chín giờ tối từ giã Cây Da Sà với những bàn đèn á phiện, chúng tôi trở về Sài Gòn. Tôi theo Ðinh Hùng lên Phòng Trà Ca Nhạc Hòa Bình trước Chợ Bến Thành — Phòng Trà trên lầu, dưới là nhà gửi xe hai bánh giữ xe qua đêm, suốt tuần — Nhạc sĩ Ngọc Bích là Xếp Ban Nhạc chơi cho Phòng Trà Hòa Bình. Ban nhạc có Tường Bẩn đứng búng cây contrebasse, Nữ ca sỡi Ngân Hà, Trúc Mai. Ở đây có một cái bàn dành riêng cho văn nghệ sĩ ở bên cạnh bục nhạc. Gọi là Phòng Trà Ca Nhạc nhưng Hòa Bình có bán cả thức ăn. Ðinh Hùng ăn rất ít. Hút xong anh chỉ thích và cần uống. Anh nói:

“Trong người mình nó khô rang như đất bị nung, rượu vào như mưa mát lạnh..”

Có tiền anh uống Cognac, thường thường anh uống bia 33.

Những năm xưa ấy tôi chưa biết uống rượu nên không biết tửu lượng của Ðinh Hùng ra sao. Anh kể cho tôi nghe chuyện anh uống rượu thi với Lê Văn Trương ở Hồ Tây Hà Nội những năm trước 1946. Ai thua phải quì gối dâng rượu cho người thắng. Nhiều lần Lê Văn Trương phải quì dâng rượu cho anh. Anh tả những đêm trăng bên bờ Hồ Tây rượu say anh và mấy ông thi sĩ ở truồng nằm ngoài trời. Mấy ông gọi trò đó là trò Tắm Trăng. Mấy ông lý luận “người ta đua nhau tắm nắng, tại sao mình lại không tắm trăng?”

Trong số những người viết truyện nổi lên cùng thời với tôi hay sau tôi vài năm: Nguyễn Ðình Toàn, Duyên Anh, Lê Xuyên, Lã Phi Khanh, Nguyễn Thụy Long… chỉ có tôi là đệ tử của Cô Ba Phù Dung. Tôi có nhiều giờ nằm bên bàn đọi đối diện với hai anh Nguyễn Mạnh Côn, Ðinh Hùng và trò chuyện, tâm sự với hai anh. Trường hợp tôi đi chơi với anh Côn cũng tương tự như khi tôi đi với anh Hùng. Một chiều gập anh Côn ở Tòa Soạn Văn Nghệ Tiền Phong, anh và tôi cũng đến lấy tiền bài. Trên vỉa hè anh hỏi tôi:

– Mình đi chơi nhé?

“Ði chơi” đây là “ đi hút.”

Những năm trước 1945 Ðinh Hùng từng đóng vai thiếu nữ trong Kịch Thơ “Vân Muội” của Vũ Hoàng Chương. Kịch trình diễn trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội đàng hoàng. Anh đúng là mẫu người thi sĩ: ăn nói nhỏ nhẹ, dịu dàng, tươi cười, hòa nhã với mọi người, không sài tiếng Ðức, không ăn to, nói lớn cũng không văng tục, cáu giận. Chữ anh viết rất đẹp và rõ. Bản thảo tiểu thuyết của anh trang trọng như một bản văn để dành cho hậu thế. Những năm đầu sau 1954 anh viết hai tiểu thuyết dã sử đăng trên các báo Tự Do, Ngôn Luận: “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu” và “Người Ðao Phủ Thành Ðại La”.

Có lần anh nói:

– Các cậu đọc Kim Dung các cậu ca tụng Băng Hỏa Ðảo của Kim Dung, các cậu không biết tôi đã từng tả một hải đảo như thế trong truyện của tôi từ những năm 55, 56.

Cũng trong mấy năm đầu sau 54 anh làm thơ trào phúng với bút hiệu Thần Ðăng trên hai nhật báo Tự Do, Ngôn Luận. Từ 1958 anh dành hết thì giờ vào việc biên tập mục Thi Văn Tao Ðàn trên Ðài Phát Thanh Quốc Gia.

Nhà anh ở đường Trần văn Thạch bên chợ Tân Ðịnh. Sau thời gian ở khu Hòa Hưng sau rạp hát Thanh Vân, anh dọn về nhà này và ở đây cho đến ngày anh tạ thế. Tôi có đến nhà anh nằm phi và ăn cơm với anh mấy lần. Một lần tôi đến đón anh đi. Mời tôi hút vài cặp xong anh nói:

– Cậu nằm đây moa sửa soạn..

Anh lấy chai Eau de Cologne và gói bông gòn ra bên bàn đọi. Anh xé bông gòn, tẩm nước Cologne lau chùi mặt, cổ, hai cổ tay. Nhìn anh, tôi nghĩ thầm:

“Cần đi đâu Thi sĩ chùi dầu chứ không có tắm hay rửa mặt, rửa tay chi cả.. Cũng sạch thôi. Chuyên mặc sơ-mi dài tay, thắt ca-vát, áo veston, mặt, tai cổ, hai tay sạch trắng là được rồi”.

Một chuyện về đời tư Xuân Diệu làm tôi nhớ anh Ðinh Hùng. Chuyện rằng Xuân Diệu tham ăn và đớp rất khỏe. Trong những buổi sinh hoạt Dzăng Nghệ Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ban tổ chức thường chiêu đãi người dự bằng bánh bao, bánh mì cho tiện, khỏi phải dùng đũa bát. Số bánh bao được tính đúng với số khách dự: Mỗi người một bánh. Xuân Diệu ăn tục đớp hai miếng hết cái bánh của mình vồ luôn cái bánh thứ hai. Vì Xuân Diệu đớp hai nên trong số khách có một người không được ăn. Ai đó tức cảnh — bèn mần bài thơ:

Nào có ra gì cái bánh bao
Nhà thơ mà cũng háu ăn sao
Người ta một cái, ông hai cái
Thơ chửa ra cho bánh đã vào.

Những năm 1960 Ðinh Hùng kể với tôi:

– Ðêm Ba Mươi Tết.. Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu và tôi về quê của Thạch Lam thăm Thạch Lam. Nhà Thạch Lam nấu bánh chưng. Thạch Lam giữ chúng tôi ở lại chơi chờ vớt bánh ăn bánh rồi hãy về. Khi ăn bánh ông Chương và tôi mỗi người ăn không hết một góc. Xuân Diệu một mình ăn hết hai cái. Từ đó mỗi lần ăn uống với Thạch Lam, nhắc lại chuyện ấy, Thạch Lam nói: “Hãy cho tôi thấy anh ăn uống ra sao, tôi sẽ nói cho anh biết con người anh như thế nào”.

Anh kể cho tôi nghe một chuyện về Ðoàn Phú Tứ:

– Năm ấy bọn chúng tôi chơi ở nhà anh X.. Ðoàn Phú Tứ thỉnh thoảng cũng đến. Hắn không nghiện, hút tài tử thôi. Nhưng không chịu chi, chỉ chờ được mời. Hôm ấy anh ta nói với chủ bàn đọi:

– Thứ bẩy này tôi tôi mang lên cho cậu một hộp mười.

Hộp mười là cái hộp đựng thuốc phiện bằng đồng thời Pháp, thuốc bên trong nặng 10 đồng cân. Dân Hít Tô Phe mà nghe nói có người cho một Hộp Ðồng Mười Ðồng Cân, gọi tắt là Hộp Mười, là hai mắt sáng rực như đèn pha xe ô tô. Bọn tôi lấy làm lạ. Ðoàn Phú Tứ lấy đâu ra Hộp Mười mà đem cho sộp thế này? Ðúng hẹn thứ bẩy chúng tôi có mặt chờ xem. Ðoàn Phú Tứ đem hộp đồng đến thật. Nhưng cái hộp đồng này là cái hộp đồng người ta lấy hết thuốc ra rồi, chỉ còn cái vỏ đồng rỗng. Dân Hít dùng cái vỏ hộp đồng làm ngao đựng thuốc phiện khi hút.

Anh kể một chuyện về Hồ Dzếnh:

– Hồ Dzếnh theo âm Tầu là Hồ Dzính. Anh ta khoái Cộng Sản. Việt Minh cướp chính quyền, Hồ Dzính viết mấy bài ca tụng Hồ Chí Minh nhưng không thấy có hồi âm chi cả. Bọn Việt Minh nó phe lờ Hồ Dzính. Còn Ngọc Giao thì tán tỉnh một em tên là Ngọc nhưng cũng không được em đáp ứng. Bọn văn nghệ Hà Nội làm câu đối:

Hồ Dzính dính Hồ, Hồ chẳng dzính
Ngọc Giao giao Ngọc, Ngọc không giao.

Ðây là câu đối thứ hai tôi nghe được trong những buổi nằm đấu hót bên bàn đọi với Ðinh Hùng:

Xuân Diệu làm Ðoan, Xuân Riệu lậu
Trái tim nổi loạn, trái tim la.

Xuân Diệu làm công chức Duoanerie, Sở Thuế, ta gọi là Nha Thương Chánh, rồi Quan Thuế, thời Pháp là Nhà Ðoan. Người Bắc Kỳ thường gọi rượu là riệu. Vì không uốn lưỡi nên Diệu và Riệu phát âm y như nhau. Những năm 1940 có một ông nào đó viết vài bài kiểu tùy bút đăng báo ký tên là Trái Tim Nổi Loạn.

o O o

Ðinh Hùng mất năm 1967, năm anh 52 tuổi. Thuốc phiện và rượu tàn phá cơ thể anh làm anh không thể sống thọ hơn. Sinh thời anh có cuộc sống trầm lặng hơn anh Vũ Hoàng Chương, anh rể của anh. Trong khi anh Chương được đời tôn xưng là Thi Bá, làm Chủ Tịch Hội nọ, Hội kia, đi ngoại quốc dự Ðại Hội Thơ Quốc Tế mấy lần, giao duyên dzăng nghệ với các em nữ thi sĩ Âu châu, Ðinh Hùng sống lặng yên với Chương Trình Thi Văn Tao Ðàn. Khi anh mất anh được anh em đưa tiễn đông đảo, đám tang tổ chức trọng thể tại Nghĩa Trang Mạc Ðĩnh Chi. Anh Chương chết trong thiếu thốn, cô đơn. Khi anh Chương mất, cuối năm 1976 , hay đầu năm 1977, bọn chúng tôi thằng thì ở trong tù, thằng thì tối tăm mắt mũi, chúng tôi chỉ biết tin anh Chương sau khi anh đã chết.

Một buổi tối Tháng Bẩy hay Tháng Tám năm 1975 tôi tình cờ gập Hoài Bắc giữa đường. Hai chúng tôi cùng đi xe đạp. Ghé xe vào vỉa hè tối nói chuyện, Hoài Bắc nói:

– Bà vợ Văn Cao mới vào Sài Gòn. Trần Dần nhắn bà ấy vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh đừng lo. Thơ Anh và Thơ anh Hùng không bao giờ mất được..”

Trần Dần nói đúng. Anh đã sống hai mươi mùa Cô Hồn Tháng Bẩy dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nên anh biết và anh nói đúng. Trong lúc chúng tôi sống dở, chết dở ở Thành Hồ tin chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là sẽ chẳng bao giờ những tập Thơ Vũ Hoàng Chương còn được bầy trên những giá sách, tên tuổi Thi Bá sẽ chẳng bao giờ còn được ai nhắc tới, riêng Trần Dần nói:

“Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Ðinh Hùng không bao giờ mất được..”

Bọn lý thuyết gia văn nghệ Việt Cộng gọi hầm bà lằng síu oách văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa là “phản động, đồi trụy,” riêng Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Ðinh Hùng còn bị gọi là “Thơ Ma Mị”. Năm 1992 hai tập Thơ Vũ Hoàng Chương đã được tái bản ở Thành Hồ. Hồi Ký “Ta đã làm chi đời ta” của Vũ Hoàng Chương cũng được in lại với vài chương bị cắt bỏ.

o O o

Chị Ðinh Hùng mất khoảng năm 1988. Anh chị có hai con. Cháu trai Ðinh Ngọc, cháu gái Ðinh Hương. Tiền bản quyền hai tiểu thuyết “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Người Ðao Phủ Thành Ðại La” được nhà xuất bản chi cho hai cháu Ðinh Ngọc, Ðinh Hương. Lái sách Thành Hồ đối xử với văn nghệ sĩ rất chỉnh.

Sáng Thứ Bẩy, Rừng Phong chan hòa nắng vàng. Không trông thấy ve sầu nhưng nghe tiếng ve kêu rền rĩ. Cảnh không đeo sầu nhưng lòng người viết bỗng u hoài, trái tim trầm xuống.

Từ Hai Bó đến Ba Bó ta đi ăn cưới bạn. Từ Bốn Bó đến Năm Bó ta đi ăn cưới con bạn. Từ Năm Bó đến Sáu Bó ta đi đưa đám ma bạn. Số tuổi từ Bốn Bó Gẫy đến Sáu Bó Lẻ Mấy Que của tôi diễn ra ở Thành Hồ. Liên miên toàn những đám ma và đám tang, các bạn tôi theo nhau từ giã cõi đời. Tôi đã đưa tiễn Trọng Nguyên, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Ðăng Khánh, Trần Việt Sơn, Lê Thanh Phòng Cao, Minh Vồ, Linh Mục Thiên Hổ Nguyễn Quang Lãm. Nhiều người khác tôi chỉ biết tin đã chết: Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Tam Lang, Cát Hữu, Trịnh Viết Thành, Dương Hùng Cường, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, Hoàng Ly, Chu Tử, Huy Cường, Trọng Khương, Thiếu Lang, Nguyễn Mạnh Côn.

o O o

Năm mười sáu, mười bẩy tuổi tôi có làm vài bài Thơ Tình. Từ số tuổi Hai Bó Gập trở đi tôi không mần thơ nữa. Chỉ đôi khi xúc động dữ dội tôi mới mần vài câu. Chẳng hạn:

Rồi một chiều thu nắng phớt mờ
Nàng gập người năm cũ què giò
Nàng hỏi chàng mắt rưng rưng lệ:
– Anh sẽ làm sao đạp xích lô?

Và:

Anh đây như máy Sinco
Còn Em như vải Sanford mới về.

Tôi không mần thơ nữa vì hai nguyên nhân chính:

I – Tôi thấy tôi hổng phải là Thi sĩ nên tôi thôi tôi hổng mần Thơ.

2 – Mỗi lần tôi xúc động — kiểu “bất kỳ bình tắc minh” như Hàn Dũ từng diễn tả — mỗi lần tôi thấy tôi cần phải giải tỏa tâm sự bằng Thơ tôi đã có sẵn Thơ Ðinh Hùng, Thơ Vũ Hoàng Chương. Tôi chỉ việc lấy Thơ Nhị Vị ra sài tự do, thoải mái, thả dàn mà lại rất hào hoa phong nhã. Thơ của hai ông diễn tỏa tâm sự tôi còn hay hơn, lãng mạn hơn, rõ ràng hơn, chính xác hơn, cảm xúc hơn  là Thơ Tôi mần. Những buổi chiều mùa mưa đất trời Sài Gòn u ám — tôi thường gọi những buổi chiều trời đất như thế là những buổi chiều Từ Hải bỏ Kiều để ra đi và là những buổi chiều Từ Hải quăng mộng giang hồ để trở về với Kiều — đừng nói đến những chiều mưa buồn, ngay cả những buổi sáng trời Sài Gòn bỗng nhiên dìu dịu, có chút nắng hanh, có đôi cánh lá vàng rơi trên vỉa hè Duy Tân cây dài bóng mát, chẳng có ai là tình nhân xa cách cả tôi cũng bỗng dưng nhớ Nàng. Nhớ hổng phải là nhớ thường mà là nhớ Nàng Ra Rít. Tim tôi xúc động và tôi mần Thơ:

Hôm nay có phải là thu
Mấy năm xưa đã viễn du trở về.
Cảm vì Em bước chân đi
Nước rung mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
Ai về xa mãi cô thôn?
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà.

Ngày Em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu.
Nắng trôi, vàng chẩy về đâu?
Hôm nay mới thật bắt đầu là Thu.

……..

Trời hồng chắc má Em tươi
Nước trong chắc miệng Em cười thêm xinh.
Em đi, hoài cảm một mình
Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.
Chiều nay tưởng mắt Em buồn
Ðã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương
Lạnh lùng trăng gió tha hương
Em về bên Mỹ ai thương Em cùng.

Nàng quá đẹp, Nàng quá tình, Nàng làm tôi ngất ngư con tầu đi, tôi hỏi Nàng bằng Thơ Ðinh Hùng:

– Em là Người, là Quỉ hay là Tiên?
Em có mấy linh hồn, bao nhiêu mộng?
Em còn trái tim nào đang xúc động?
Em có gì trong xác thịt như hoa?

………

Em đài các lòng cũng thoa son phấn
Hai bàn chân kiêu ngạo dẫm lên Thơ.

Những năm 1960 Vàng Son, có những buổi chiều ngồi ở Ngân Ðình, nhìn sang Thủ Thiêm, nhớ Nàng tôi mần Thơ:

Gió từ sông lại, mưa từ biển
Không biết người yêu nay ở đâu?

………..

Nhớ xuân từ độ còn hoa
Nhớ Em từ độ thướt tha suối thề.
Xa trời, lưu lạc hồn quê
Có phai xin để ngày về hãy phai…

…………

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng
Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa
Bóng em khoảnh khắc thành hư ảo
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa..

………….

Em đi rừng núi vào xuân
Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa bay..

Tôi sẽ viết về Phù Dung và Liêu Trai trong Thơ, và trong cuộc đời, của hai Thi sĩ tôi được quen biết: Ðinh Hùng và Vũ Hoàng Chương.

Tuổi mười lăm, mười bẩy tôi yêu Thơ Xuân Diệu. Tuổi đời Ba Bó tôi yêu Thơ Ðinh Hùng, Sáu Bó tôi yêu Thơ Vũ Hoàng Chương:

Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay
Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt
Trần ai nào lấm được thơ ngây..

………….

Phải chăng từ độ ấy quan san
Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
Riêng chỉ mình ta phai áo lục
Còn Em sau trước vẫn hồng nhan?

Năm nay Tuổi đời Sáu Bó Gập, khi tôi xúc động và khi tôi cần nói những lời yêu thương với người đàn bà đã cùng tôi tay trong tay đi qua cõi đời này, tôi sẽ nói với nàng những lời thơ. Những lời này thốt ra từ trái tim tôi, Thi sĩ Ðinh Hùng chỉ có công làm cho chúng có vần có điệu:

– Em ơi.. Khi tóc mùa xuân buông dài trước cửa, khi bóng chiêm bao khẽ chớp hàng mi, khi những con thuyền chở mộng ra đi, giấc mộng phiêu lưu như bầy hải điểu. Kỷ niệm trở về, nắm tay nhau hiền dịu. Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình. Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh. Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo.

Trên đường ta đi… Những đóa hoa nở mặt trời xích đạo. Những làn hương mang giông tố bình sa. Những sắc cầu vồng nghiêng bóng chim sa. Và dĩ vãng ngủ trong hồ cẩm thạch. Của đôi mắt sáng mầu trăng mặc khách. Thời gian qua trên một nét mi dài. Núi mùa thu buồn gợn sóng đôi vai. Dòng sông lạ trôi sâu vào tâm sự. Chúng ta đến nghe nỗi sầu tinh tú: Những ngôi sao buồn suốt một chu kỳ. Những đám tinh vân sắp sửa chia ly. Và sao rụng biếc đôi tay cầu nguyện. Ôi cặp mắt sáng trăng xưa hò hẹn. Có nghìn năm quá khứ dẫn nhau đi. Anh vịn tay số kiếp dẫn em về. Nhìn lửa cháy những lâu đài mặt biển…

…..Anh sẽ tìm em chiều nào tận thế. Khi những sầu thương cất cánh xa bay….Em hát mong manh bài ca Tuổi Trẻ. Bướm bay đầy một âm giai. Khúc nhạc lang thang như hồn Do Thái. Ðại dương cồn sóng gọi tên ai? Vời vợi tiếng em lướt qua Hồng Hải. Tiếng hát nhân ngư tuyệt vọng than dài….

Advertisements

4 Responses

  1. Đinh Hùng (1920-1967), ong mat luc 47 tuoi

  2. Trích:<>CTHĐ

    Xin lỗi bác HHT,khi đọc 2 bài thơ này,cháu bỗng phát cười sằng sặc,cười không nín được!

  3. Rồi một chiều thu nắng phớt mờ
    Nàng gập người năm cũ què giò
    Nàng hỏi chàng mắt rưng rưng lệ:
    – Anh sẽ làm sao đạp xích lô?

    Và:

    Anh đây như máy Sinco
    Còn Em như vải Sanford mới về.

  4. toi sihh nam 1947, phai noi nhu vay vi khi doc bao Ngon Luan toi con dang hoc lop nhi, lop nhat nghia la luc do toi la mot dua be 9, 10 tuoi. Nhung toi lai me doc chuyen, do la ly do toi nho ro mon mot nhung gi ong Dinh Hung tuc Hoai Diep Thu Lang viet. Ong viet Ky Nu Go On Khau, Nguoi Dao Phu Thanh Dai La, Duong guom Ho Ly, Nu Hai Tac…{chuyen nay toi co cat tren bao Ngon Luan moi ngay va dong lai thanh mot bo} Toi muon noi den chuyen Nu Hai Tac ke chuyen mot vi phu nhan tron ve que nha o gan Vinh Ha Long lam cuop be vi chong bi vua xu toi. Thu ha cua nang la nhung dan chai, trong do co 2 nguoi biet hieu la Da Tuong va Yet Kieu. Trong mot tran danh voi trieu dinh, phu nhan no {tuc la Nu Hai Tac} va vi tuong quan tre tuoi cua trieu dinh bi bao troi dat toi mot hoang dao. Dung nhu ong Dinh Hung noi ong da viet truoc Kim Dung viet trong truyen Co Gai Do lONG, Dinh Hung viet truyen kiem hiep da su hay khong kem cac ong Tau viet chuyen kiem hiep Tau. Vai loi tho thien xin dong gop

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: