• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Chí Hòa Trong Tim Tôi

Phước Tám Ngón, Tử Tù vượt ngục Nhà Tù Chí Hoà. Ảnh bên phải là dẫy cửa và lối đi một khu trong Nhà Tù Chí Hoà. Ảnh báo An Ninh Thế Giới Bắc Cộng. Tử Tù tên là Phước Tám Ngón, nhưng trong ảnh thấy tay Y còn nguyên 10 ngón.

Lúc 12 giờ trưa một ngày Tháng Sáu năm 1985 tôi ôm giỏ quần áo, mùng chiếu, theo anh em tù vào Nhà Tù Chí Hòa, bọn tù chúng tôi sang đây từ Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của Sở Công An Thành Hồ. Vào sân Nhà Tù Chí Hoà tôi trông lên: chung quanh tôi chỉ có những hàng chấn song và những hàng chấn song sắt đen sì.

Phút đầu tiên ấy tôi nghĩ:

“Ðây là Nhà Tù Chí Hoà. Mình đang đứng trong Nhà Tù Chí Hoà. Ngày nào mình ra khỏi đây, mình sẽ kiêu hãnh vì mình từng sống trong Nhà Tù Chí Hoà.”

Tôi nghĩ:

“Người Sài Gòn bị tù nếu không vào Nhà Tù Chí Hoà thì chưa biết rõ Tù Ðày là gì.”

Những năm trước 1975 tôi có hai, ba lần đến Nhà Tù này thăm mấy người bạn tôi bị tù ở đây. Có anh bạn tôi là ký giả can tội tống tiền, có anh bạn tôi bị bắt bên bàn thờ Cô Ba Phù Dzung, có anh nhận bậy là nhân viên Hội Từ Thiện đi quyên tiền giúp các em mồ côi. Những lần đến thăm ấy tôi chỉ đến khu thăm tù của Nhà Tù Chí Hòà. Khu này ở chỗ nào trong nhà tù này tôi không nhớ.

Tôi đã sống 4 năm trong Nhà Tù Chí Hòa. Những đêm nằm phơi rốn trong đó nhiều lần tôi tự hưá:

“Ngày nào mình ra khỏi đây mình sẽ viết về Nhà Tù này.”

Tháp canh ở giữa sân Nhà Tù Chí Hoà.Khu tường trắng là Khu Tử Hình. Ðứng trên tháp, Cai Tù nhìn vào được tất cả những phòng tù. Trước năm 1975 tháp canh này có đèn pha. Ảnh này năm 1980, khi Nhà Tù đã bị bọn Cai Tù VC xây tường ngăn ra từng khu một.

Vào Nhà Tù Chí Hoà năm 1985, tôi ra khỏi đó đầu năm 1989. Tôi sống một năm – 1989 – ở Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, Xuân Lộc, Ðồng Nai. Tôi giã từ tù ngục để trở về mái nhà xưa, thành phố cũ năm 1990, rồi ngày tháng sa đà, tôi quên chuyện viết về Nhà Tù Chí Hoà.

Năm 1977 tôi bị bọn Công An Thành Hồ bắt lần thứ nhất, tôi nằm cùng xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu với anh Nguyễn Kim Báu trong khoảng hai tháng. Anh Báu là giáo sư. Anh bị bắt vì tội “âm mưu lật đổ Bàn Thờ Bác Hồ.” Anh kể chuyện những năm 1948, 1949 anh kháng chiến chống Pháp. Anh bị Quân Ðội Pháp bắt. Trại tù binh trong có anh do quân đội Pháp quản lý, cho cơm và thức ăn vào những gà-men nhôm, gamelle của Lính, mỗi người tù một gà-men – ăn xong gà-men được thu lại. Về sau Quốc Gia ta có trại tù binh ở Ðức Hoà – Ðức Huệ, anh Báu về tù trong trại này cho đến ngày anh được thả.

Thời Tù ăn cơm gà-men trong trại tù binh do quân Pháp quản đốc, nhiều anh em tù nói với anh Báu:

“Ngày nào chúng mình ra tù, mỗi năm mình tổ chức một ngày anh em gặp nhau, ăn cơm gà-men để nhớ những ngày này.”

Mấy năm sau ra tù, trở về Sài Gòn, gặp lại vài anh em tù xưa, anh Báu nhắc chuyện làm cuộc gặp nhau ăn cơm gà-men, những ông bạn tù cũ của anh lắc đầu quầy quậy:

“Thôi chứ ông. Nhớ lại những ngày tù khốn nạn ấy làm chi!”

Tôi nhớ chuyện Cơm Gà-men anh Báu kể những khi tôi tự trách tôi đã không chịu viết về Nhà Tù Chí Hoà.

Tôi nghĩ:  Những người đã ra khỏi Nhà Tù Chí Hoà không muốn, không cần đọc những bài viết về Nhà Tu Chí Hoà, những người chưa từng phải sống trong Nhà Tù Chí Hòa lại càng không hào hứng đọc về nó. Nếu tôi viết Hồi Ký Nhà Tù Chí Hoà nhiều người cựu tù Chí Hoà đọc nó có thể chê:

“Cha này viết dở ẹt. Chí Hoà có cả ngàn chuyện ly kỳ, hắn viết toàn những chuyện nhạt nhách.”

Không chỉ thế, rất có thể có nhiều vị Cưụ Tù Chí Hoà thấy tôi viết sai về Nhà Tù Chí Hoà.

Tuy không viết về Nhà Tù Chí Hòa xong hình ảnh Nhà Tù Chí Hoà vẫn nằm trong ký ức của tôi, việc tôi không viết về Nhà Tù Chí Hoà vẫn canh cánh trong lòng tôi. Tôi thương Nhà Tù Chí Hoà. Nhà Tù đã bảo vệ tôi, đã nâng đỡ tôi cho tôi sống. Nhà Tù Chí Hoà là của tôi. Như tôi đã không giữ được Sài Gòn, tôi đã để Nhà Tù Chí Hoà rơi vào tay bọn Bắc Cộng.  Nhưng như Sài Gòn, Nhà Tù Chí Hoà vẫn là của tôi.

Từ ngày sang Kỳ Hoa Ðất Trích tôi vẫn theo dõi, tìm đọc những tài liệu về Nhà Tù Chí Hoà trên các báo, trên  Internet. Tôi tìm được trong Trang Web cuả tờ “An Ninh Thế Giới,” một tờ báo của Công An Bắc Cộng, bài viết về một vụ “Tù Tử Hình vượt ngục Chí Hoà.” Mời quí vị đọc:

An Ninh Thế Giới: Cuộc đào tẩu lịch sử trong Trại Giam Chí Hòa

Vụ vượt ngục do Tử tù Phước “Tám Ngón” thực hiện được coi là cuộc đào tẩu duy nhất trong lịch sử Trại Giam Chí Hòa thời hiện đại

Trại Giam Chí Hòa – tên thường gọi là Khám Chí Hòa – được Pháp xây năm 1943 theo thiết kế là một hình bát giác, tượng trưng cho 8 Quẻ trong Kinh Dịch, với 3 tầng lầu.

Mỗi cạnh của Bát Quái Trận Ðồ Chí Hoà là một khu, lưng xây bịt kín ở phía ngoài còn phía trong toàn song sắt và mỗi khu có 4 buồng giam. Ở giữa Bát Quái Chí Hòa là một vọng gác cao hơn 20m, trên đó có bể chứa nước và có chòi canh. Ðứng tại đây, lính canh có thể dễ dàng nhìn vào tất cả các phòng giam.

Với kiến trúc Nhà Tù Chí Hòa, phạm nhân khi đã vào đây thì khó mà vượt ngục. Lịch sử Khám Chí Hòa cho đến ngày hôm nay chỉ ghi nhận có hai trường hợp vượt trại thành công. Lần thứ nhất vào năm 1945, cuộc vượt trại của một số người tù và lần thứ hai, sau đó 50 năm vụ vượt trại của một tử tội hình sự khét tiếng là Phước “Tám Ngón”.

Phước “Tám Ngón” tên thật là Nguyễn Hữu Thành, giang hồ thường gọi biệt danh trên bởi một bàn tay y bị cụt mất 2 ngón. Sinh năm 1971 trong một gia đình nghèo ở Dĩ An, Thuận An, tỉnh Sông Bé, nay là Bình Dương, khi chưa thành niên, Phước đã bỏ nhà đi bụi, sống bằng cờ bạc, trộm, cướp.

Năm 1988, 17 tuổi, lần đầu tiên Phước phải vào nhà giam với bản án tù 36 tháng về tội trộm. Sau đó, Phước bị Công An Vũng Tàu đưa đi cưỡng bức lao động.

Không chịu cải tạo, Phước trốn trại, mua súng lập băng cướp. Ðây cũng là thời kỳ mà tên tuổi của Phước “Tám Ngón” nổi lên trong giới giang hồ như một ông Trùm giết người máu lạnh.

Ðầu năm 1991, tại khu vực Thủy điện Trị An, Ðồng Nai, băng cướp  Phước “Tám Ngón” hoành hành. Chúng dùng súng uy hiếp  cướp xe máy của một người đi đường. Khi bị nạn nhân chống cự, chúng bắn người đó trọng thương. Tiếp đó, chỉ trong vòng nửa tháng, bọn chúng liên tiếp gây ra 2 vụ cướp, một vụ trộm và bắn chết một nạn nhân tại Thủ Ðức.

Ngày 24/6/1994, Phước “Tám Ngón” bị toà án tuyên án tử hình về các tội giết người, cướp tài sản công dân và sau đó gây ra vụ vượt ngục như trong phim xi-nê đêm 26/3/1995 tại Trại Giam Chí Hòa.

Ðây là vụ vượt ngục duy nhất trong lịch sử Trại Giam Chí Hòa thời hiện đại mà sau này khi điều tra về diễn biến của nó qua lời khai của Phước “Tám Ngón”, qua những thực nghiệm điều tra nghiêm túc, khoa học, nhiều người vẫn cứ ngỡ như chuyện chỉ có thể xẩy ra  trong phim xi-nê.

Sau khi đã bẻ gãy đôi chiếc cùm chân, Phước nghĩ ra kế để tránh sự phát hiện của quản giáo. Lúc này chiếc hộp quẹt gas mà hắn xin được từ lâu mới phát huy tác dụng. Phước lấy vải khéo léo quấn xung quanh vết cưa rồi bên ngoài lớp vải ngụy trang đó, Phước lại dùng hộp quẹt gas tỉ mẩn đốt nhựa chảy phủ kín lên trên.

Trong một lần đi vệ sinh, Phước phát hiện vách tường nhà vệ sinh bị mục. Âm mưu khoét tường để đào thoát nẩy ra từ đó.

5 ngày sau khi cưa xong cùm, đêm 26/3/1995 là thời điểm Phước chọn để trốn khỏi xà-lim. Phần vì trời tối thuận lợi, phần vì đây là quãng thời gian các phạm nhân đều đã ngủ, trại vắng.

Khoảng 21 giờ, Phước tháo cùm chui vào nhà vệ sinh. Tại đây, hắn dùng chiếc dùi sắt tự chế tạo được từ một khoen sắt tròn trong nhà vệ sinh, để khoét vách tường, chỗ mà Phước nhìn thấy bị mục từ trước thành một lỗ hổng vừa đủ lọt người qua.

Số xi măng và cát vụn khoét từ tường ra, Phước trút vào lỗ cầu vệ sinh rồi đổ nước cho trôi đi. Còn số gạch thì Phước bê vào trong chỗ ngủ, sắp xếp thành một hình trông giống như hình người đang nằm. Sau đó, hắn lấy mền phủ kín lên trên hình nộm đó để ngụy trang, đề phòng trường hợp quản giáo bất ngờ đi kiểm tra đêm, nhìn thấy thế vẫn tưởng là phạm nhân đang nằm ngủ.

Khoét tường xong, Phước khom người luồn qua lỗ hổng để chui ra phía cầu thang lầu bên ngoài buồng giam số 15 rồi leo xuống cầu thang, bỗng y giật thót mình khi nghe  tiếng bước chân tuần tra đêm của cán bộ quản giáo. Hoảng hốt, Phước bèn vội vã leo ngược trở lên rồi cứ thế đi trên nóc nhà để sang khu AH.

Tại đây, Phước dùng quần áo và khăn nối lại thành một sợi dây rồi cột một đầu vào kèo nhà còn đầu kia thả để theo dây mà đu xuống. Nhưng, đang đu thì dây đứt nên Phước bị té sấp xuống mặt đất, bất tỉnh. Chừng hơn một tiếng sau thì Phước mới tỉnh lại, biết mình vẫn còn đang ở trong khu giam, Phước cố nén đau vùng dậy lết đến cây cột điện ở gần đó.

Giữa sự sống và cái chết, giữa hoảng sợ và đau đớn, như một thứ bản năng, con người bỗng trở nên có sức mạnh ghê gớm. Thế nên, mặc dù cả chân lẫn cột sống đều bị chấn thương nhưng Phước vẫn trèo lên được cột điện khá cao để rồi từ đó leo qua hàng rào tụt xuống đất. Ðây là địa phận khu tập thể của gia đình cán bộ quản giáo nằm kề trại.

Lúc này đã tờ mờ sáng. Phước lết vào trong sân, thấy có một bộ đồ cảnh sát đang phơi, một chiếc xe đạp và một đôi dép. Chỉ trong chớp mắt, hắn bèn nghĩ ra cách ngụy trang. Phước vớ lấy bộ đồ cảnh sát mặc vào người, xỏ dép, dắt xe đạp rồi cố bình tĩnh, nén đau đường hoàng dắt xe ra cổng chính của trại Chí Hòa.

Qua phòng trực cổng trại, Phước vào xin cảnh sát trực cổng được ra ngoài uống cà phê. Thấy người mặc quân phục đàng hoàng lại dắt xe đạp đi ra từ khu gia đình cán bộ, nên cảnh sát trực trại ngỡ đó là anh em cán bộ, chiến sĩ trong trại. Vì vậy, anh đã mở cổng cho Phước dắt xe ra ngoài.

Vậy là sáng sớm 27/3/1995, Phước “tám ngón” – tử tù nguy hiểm đã đào thoát được ra khỏi trại Chí Hòa.

Ngưng trích bài “Tử Tù vượt ngục Chí Hoà.”

o O o

Trên đây là phần đầu bài “Tử Tù vượt ngục Chí Hoà” của tờ báo An Ninh Thế Giới.

Nhà Tù Chí Hoà nhìn từ trên không. Ảnh ghi sau năm 1980. Trong ảnh Nhà Tù đã bị xây tường trong sân ngăn ra làm 8 Khu.

Người viết bài này là người không biết chút gì về Nhà Tù Chí Hoà. Bài viết đầy những sự kiện ngớ ngẩn, vô lý chứng tỏ người viết là người ngu. Không chỉ Ngu thường mà là chí Ngu. Người ta không cần cứ phải là người tù từng sống trong Nhà Tù Chí Hoà mới có thể kể không sai về Nhà Tù Chí Hoà. Anh công an nào là chủ bút tờ An Ninh Thế Giới còn ngu hơn anh viết bài. Là chủ biên, ít nhất anh phải có khả năng cảm thấy, nghi ngờ bài viết có những sự kiện vô lý.

Tử tù trong Nhà Tù Chí Hoà nằm trong Khu Tử Tù cách biệt với 7 khu khác trong Nhà Tù. Tử tù trong khám Tử Hình bị còng chân suốt ngày đêm vào một cây sắt dài, thường thì họ ở trần, mặc quần cụt. Không thể có chuyện tử tù nằm phòng tử hình mà có hột quẹt gas – hắn xin hộp quẹt này của ai?? Hắn lấy rũa ở đầu mà có thể rũa làm bể đôi cái cùm thép??? – tử tù không được giữ bao nylon đựng thực phẩm người nhà gửi vào – nếu có, nếu được phép nhận quà – tử tù không thể làm  cái cùm sắt cùm chân gẫy làm hai. Tường Nhà Tù Chí Hoà dầy đến 50 phân, xi-măng cốt sắt trộn với sỏi, đá cục, buá tạ đập cả tiếng không hề hấn, đến xe tăng húc  cả giờ đồng hồ cũng chưa làm những bức tường nhà tù suy suyển, chuyện tường Nhà Tù Chí Hoà Khu Tử Hình bị “mục” là chuyện kể em nhỏ lên ba nghe cũng không lọt tai.

Tử tù vượt ngục Chí Hòa không thể khơi khơi lên mái nhà tù, đi phây phây trên đó. Cứ cho là tử tù thoát được lên mái nhà cao – một tầng trệt, ba tầng lầu – anh tù lấy quần áo, khăn khố ở đâu ra mà buộc lại làm dây để theo dây tụt xuống đất, mái nhà tù không có cây kèo nào để anh tù có thể buộc dây.

Bọn lính canh trong nhà tù không phải là cán bộ quản giáo, đó là bọn bảo vệ, bọn cai tù. Không có ống nước máy vào các phòng tù Chí Hoà. Tù tử hình không thể có nước để dội cho gạch, xi-măng từ chỗ đục ở tường trôi xuống ống cầu tiêu.

Tôi không viết thêm về những chuyện vô lý, chuyện ngu xuẩn trong bài viết quí vị vưà đọc, tôi thấy người viết nó ngu đần quá đỗi, không chỉ người viết bài ngu, cả bọn biên tập báo An Ninh Thế Giới Công An Bắc Cộng là bọn ngu đần.

Vụ vượt ngục Chí Hoà của Tử Tù Phước “Tám Ngón” chắc có xẩy ra thật, nhưng tình tiết chắc chắn không như kể trong bài viết.

Bài viết kể vụ tù Chí Hoà vượt ngục thứ nhất xẩy ra năm 1945. Bậy và ngu hết nước nói. Nhà Tù Chí Hoà khởi công xây cất năm 1943, bị ngừng mấy năm vì cuộc chiến tranh thế giới. Mãi đến năm 1948 Nhà Tù mới làm xong, năm 1953 chính phủ Quốc Gia – Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm – phá Khám Lớn Sài Gòn ở đường Gia Long. Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đến cầm buá đập nhát búa đầu tiên phá Nhà Tù. Từ năm đó người tù Sài Gòn mới vào Nhà Tù Chí Hoà.

Năm 1987 có một vụ vượt ngục xẩy ra trong Nhà Tù Chí Hoà. Tầng dưới đất ở một số khu  phòng giam có hàng chấn song ra ngay sân. Anh em tù – toàn là hình sự – trong một phòng giam này lén cưa chấn song. Ðêm ấy mưa tầm tã. Khoảng quá nưả đêm nhiều người tù thức giấc vì nghe tiếng súng nổ rồi tiếng la:

“Ðứng lại.”

Tiếp đó là những tiếng:

“Nằm xuống! Nằm xuống!”

Rồi những tiếng chó suả. Bọn Cai Tù Chí Hoà có bầy chó berger. Một tháng đôi kỳ, nửa đêm, bọn bảo vệ Nhà Tù đi tuần dắt cặp chó theo dằn mặt người tù.

Anh em tù – tất cả một phòng ở tầng dưới đất – lén cưa rồi bẻ cong song sắt, chui ra sân, chui xuống ống cống để ra khỏi nhà tù. Chưa ra khỏi nhà tù – có thể vì ngộp thở, có thể vì tưởng đã chui ra khỏi nhà tù – anh em đẩy nắp ống cống để trèo lên nên bị bọn lính canh trông thấy. Nơi anh em lên là khu vẫn còn nằm trong vòng tường Nhà Tù.

Tù nhân Chí Hoà đêm ấy nhiều người nghe tiếng súng, tiếng la – trong số có tôi, người viết những dòng chữ này, người Tù nằm ở Phòng 10 Khu ED – nhưng không ai được biết gì nhiều về số phận những anh em tù vượt ngục bị bắt lại. Không ai biết bọn Cai Tù giam số anh em ấy ở đâu trong Nhà Tù Chí Hoà. Chỉ nghe nói đếm ấy có hai, ba anh em thoát được ra ngoài.

Những năm 1970 Nhà Tù Chí Hoà có vụ tay cướp Ðiền Khắc Kim vượt ngục thành công. Nghe nói Ðiền Khắc Kim nằm trong xe chở rác từ trong Nhà Tù ra được ngoài thành phố. Và cũng nghe nói sau đó Ðiền Khắc Kim bị bắt lại.

Cũng khoảng năm 1970 nhật báo Hoà Bình – Chủ nhiệm Linh mục Trần Du – đăng phóng sự “Con Ma Vú Dài” kể chuyện một nữ tù chết trong Nhà Tù Chí Hoà, người tù nữ hoá thành ma, đêm hiện về nằm tò tí với những anh tù có duyên nợ với nàng. Nữ ma có cặp vú – chắc là vú sệ, vú nhẽo, vú chẩy – nên những anh tù được nàng chiếu cố gọi nàng là “Nữ Ma Vú Dài.” Phóng sự tiểu thuyết “Con Ma Vú Dài” trên nhật báo Hoà Bình năm xưa ấy có nhiều người đọc.

Tôi kể chuyện phóng sự “Con Ma Vú Dzài” để nói lên tình trạng gần đây có một số ông ký giả xuất thân từ Cơ quan Việt Tấn Xã – Việt Nam Thông Tấn Xã, cơ sở thông tin chính thức của chính phủ – viết hồi ký kể đại khái:

“Làng báo Sài Gòn bê bối, bọn ký giả Sài Gòn là bọn vô học, lưu manh, chuyên viết láo, nhiều tên can tội đâm thuê, chém mướn. Chỉ đến khi có những ông ký giả Việt Tấn Xã có học, có hạnh, có nghề, bước vào làng báo cái làng báo khốn nạn ấy mới khá được.” Phóng sự “Khỉ Cà Mâu: Khỉ lấy Người, có con…” đăng trên nhật báo Sàigonmới những năm 1960 được coi là một bằng chứng không thể cãi được của tình trạng hạ cấp của báo chí Sài Gòn. Phóng sự “Con Ma Vú Dài” đăng trên nhật báo Hoà Bình năm 1970 cho thấy tình trạng báo chí Sài Gòn những năm 1970, thời gian đã có những ông ký giả Việt Tấn Xã tài tuấn đưa một luồng gió mới vào làng báo, cái gọi là báo chí Sài Gòn Tiến bộ “Con Ma Vú Dài” không có một xu teng cao cấp hơn cái gọi là báo chí Sài Gòn hạ cấp “Khỉ Cà Mâu..”

Nghe nói trong Khu Kiên Giam Nhà Tù Chí Hòa có Ma. Tôi nằm phơi rốn 4 năm trong Nhà Tù lớn nhất Ðông Dương ấy – tôi nhát, yếu bóng viá, tôi sợ ma nhất Bắc Kỳ, nhì Ðông Dương – nhưng tôi không thấy, tôi cũng không gặp người tù nào chính mắt  thấy, Ma Quỉ trong Nhà Tù Chí Hoà.

Nhưng có nhiều đêm có tiếng Rú tập thể phát lên trong Khu BC của Nhà Tù. Tiếng Rú vang động làm nguời tù khắp các khu choàng tỉnh. Tiếng Rú vang động trong vài giây rồi thôi. Trong hơn 1.000 đêm tôi sống trong những Phòng 10, Phòng 9 Khu ED. Phòng 20 Khu FG, có bốn, năm đêm tôi nghe tiếng Rú ấy. Nghe nói anh em Tù Hình Sự – trộm cướp, giết người – trong Khu BC, có người đang ngủ choàng dậy trông thấy bộ mặt quỉ sứ hiện lên trong phòng, anh tù này Rú lên, anh em Tù toàn phòng Rú theo. Chỉ có Tù Khu BC bị Phá, bị Sợ đến Rú lên vì nửa đêm thấy Quỷ hiện.

Advertisements

6 Responses

  1. Hinh nhu tac gia cua thien phong su Con Ma Vu Dai la Nguyen Hoang Doan, hien la chong cua nu ca si Khanh Ly ?

  2. Căn cứ theo hình đăng trên bài thì tôi thấy Phước Tám ngón quả thật chỉ còn “gần” tám ngón tay. Xin lưu ý bàn tay trái của y, ngón trỏ và ngón út bị cụt một nửa, chứ không mất hẳn. Hai ngón bị cụt có thể đã hầu như bất khiển dụng, cho nên gọi anh ta là “tám ngón” có lẽ cũng không xa sự thật là mấy.

    Cuộc vượt ngục của Phước tám ngón, qua lời kể của bài viết đăng trên báo An Ninh Thế Giới, đã nói hết cái bản chất của chế độ. “Đảng ta”, “nhà nước ta” và toàn thể bộ máy thông tin tuyên truyền “của ta” cứ tha hồ đánh rắm, xả rác, ngay cả phóng uế lên đầu nhân dân VN rồi sẵn sàng dùng đến “bạo lực cách mạng” để khống chế những ai dám chê chúng thối!

    Cả một bộ máy thống trị đều thế cả. Chúng muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, một tiếng nói phản kháng, một bài báo chống đối chưa kịp lên tiếng thì đã bị nòng AK lạnh ngắt kê ngang màng tang, bố bảo thằng nào dám hó hé ?

    • (tt)Nhờ sinh sống ở hải ngoại nên CTHĐ mới có thể vạch mặt phanh phui những cái láo khoét của bọn ăn cướp này. Còn thì toàn bộ báo chí VN quả đã bị AK của chúng khống chế. Phóng viên VN thành một bọn người giá áo túi cơm. Họ vì miếng cơm manh áo nên phải cúi rạp đầu, răm rắp đi “lề phải”, chấp nhận ăn bậy nói càn theo chúng thì làm gì còn ai dám tố cáo chúng?

      Trích trong câu cuối của bài trên:… “Nghe nói anh em Tù Hình Sự – trộm cướp, giết người – trong Khu BC, có người đang ngủ choàng dậy trông thấy bộ mặt quỉ sứ hiện lên trong phòng, anh tù này Rú lên,”…(ngưng trích).

      Câu nói trên làm tôi phát phì cười… chua chát !!! Thú thật, tôi bị bệnh mất ngủ từ năm 15 tuổi lận, tức là sau ngày bọn cướp chiếm trọn miền Nam, quê hương VNCH của tôi. Người bạn tù nói trên phải thấy mặt quỉ sứ nên đã rú lên sợ hãi. Phần tôi, hễ mỗi lần năm mơ thấy lại cảnh mẹ con tôi lặn lội đi thăm nuôi cha tôi ở K3 (Gia Ray), hoặc những nồi cơm độn đầy bo bo, khoai mì của thập niên 70, 80 cũng làm tôi rú lên kinh hãi! Có điều tiếng rú kinh hoàng trong cơn ác mộng của tôi từ ba mươi năm nay vẫn là một lời thảng thốt, không thay đổi:

      “TÊN GIẶC GIÀ HỒ CHÍ MINH, TA PHẢI GIẾT MI” !

      • “”” Nhưng có nhiều đêm có tiếng Rú tập thể phát lên trong Khu BC của Nhà Tù. Tiếng Rú vang động làm nguời tù khắp các khu choàng tỉnh. Tiếng Rú vang động trong vài giây rồi thôi.””””

        Những tiếng rú hãi hùng ,thê lương và tuyệt vọng trong khu BC của khám Chí Hòa là có thật chăm phần chăm đấy các Bác ạ.

        Nghe kể rằng những hồn ma bóng quế đó là những oan hồn bị bạo quyền cộng sản giết , ép cho tới chết. Họ là những dân oan vì bị mất đất mất nhà do Ông Bà tổ tiên để lại , hoặc họ là những người bị giết trong những đợt diệt “”tư sản mại bản””” bị 1 lũ côn đồ “” bắc cộng cái đít to như cái thúng “” đuổi ra khỏi những căn biệt thự mà họ đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được. Không ngờ chỉ 1 sớm 1 chiều họ chỉ còn manh chiếu thất tha thất thểu đi vô Khám Chí Hòa chỉ vì dám đòi chút ít lại những tài sản của họ.

        Còn nhiều lắm nửa , kể sao cho hết những nhà văn , nhà báo đã gióng lên 1 hồi chuông báo động về cái quái thai bạo quyền CS…

        Khi những oan hồn này xuống Diêm Vương để phán xét thì Diêm Vương thấy những quỷ dạ xoa câu hồn đã bắt sai lầm quá nhiều rồi.
        (Tiếp theo)

      • Để đền bù lại lỗi lầm của thuộc hạ mình , Diêm Vương phán :

        – Xét cho cùng , chúng bây quả tình bị chết oan uổng. Ta đây có muốn trả thù cho chúng bây cũng không được vì ….

        Nói đến đây , Diêm Vương len lét liếc lên cõi trần ngay nước Việt Nam rồi nói tiếp :

        -Đám đầu trâu mặt ngựa hồ chó meo , lê xuẩn , trường chinh , phạm văn xu etc…cùng với đám hiện tại là nông đức yếu ,nguyễn tấn hèn …. đều gian manh và tàn ác hơn ta gấp trăm nghìn lần. Ta mà lạng quạng thì chúng cũng bắt đi tù cải tạo như các ngươi vậy thôi, hơn nữa , chúng sẽ xuống địa ngục này để vơ, vét , về hết, đến mảnh áo rách cũng không còn , y chang như các ngươi sau năm 1975 vậy.

        Diêm Vương thở dài , vẫn còn ra điệu sợ hãi rồi nói tiếp :

        -Ta chỉ còn cách đền bù cho các ngươi bằng cách cho đi tái đầu thai vô những gia đình quyền quý , con cái sau này hiển vinh đỗ đạt , sung sướng thêm 3 đời nữa , các ngươi có chịu không???

        Sau 1 hồi bàn bạc , các oan hồn đều đồng ý đi đầu thai vào các gia đình cao sang, quyền quý…Diêm Vương làm phép xong rồi biến mất.

        Khi mở mắt ra chào đời , các oan hồn này lại thấy mình lại tái đầu thai vào nước VN cộng sản 1 lần nữa , họ sợ quá nên mới rú lên hãi hùng như vậy.

        Còn Diêm Vương vì vẫn run cầm cập, sợ bị bắt lên xe bông vô tù cải tạo nên mới vô tình cho các oan hồn tái đầu thai vô nước VN cộng sản là vậy.

  3. NHÀ VĂN TRƯỜNG SƠN LÊ XUÂN NHỊ BÀI VIẾT GÍA TRỊ VƯỢT THỜI GIAN
    Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Mãi Mãi Một Niềm Tin!
    Trường Sơn Lê Xuân Nhị

    Câu chuyện của người nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh bắt đầu cách đây trên 5 năm, tại khách sạn Marriott sang trọng của thành phố San Francisco Hoa Kỳ.

    Ngày 13 tháng 12 năm 2001, trong lúc cả nước Mỹ, cả thế giới đang chuẩn bị đón mừng lễ giáng sinh thì Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và một chiến hữu tên Phạm Anh Cường âm thầm lấy vé máy bay từ Pháp sang San Francisco, nơi tên phó thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đang cư ngụ tại khách sạn Marriot chờ nói chuyện với phái đoàn Hoa Kỳ về việc giao thương giữa hai nước. Mặc dầu khách sạn được mấy lớp hàng rào cảnh sát và FBI bao phủ, hai người đã lọt vào trong được khách sạn và đến tận văn phòng tên phó thủ tướng Việt cộng. Nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh liền rút túi lấy chai xăng mang theo ra để tính làm chuyện đã dự định, nhưng chưa kịp làm gì thì cơ quan an ninh đã ụp đến và bắt chị lại. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh liền chỉ tay vào mặt tên Việt cộng rồi hô to: “Đã đảo Cộng Sản. Lịch sử dân tộc sẽ xử tội chúng bây.”

    Dĩ nhiên, những ngày tiếp theo là những ngày lao lý nhọc nhằn, một cái giá phải trả cho người chiến sĩ chọn con đường chiến đấu quyết liệt. Sau vài tháng tạm giam, chính quyền Hoa Kỳ khuyên, và đúng hơn, phải dùng danh từ dụ dỗ chị và chiến hữu Cường rằng, nếu hai người chịu nhận tội thì họ sẽ được trả về Pháp liền, không bị phiền lụy gì đến pháp luật cả. Người bạn của Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nhận tội và được trả về Pháp đúng như lời hứa, nhưng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cương quyết nhất định không chịu nhận tội. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã chọn con đường của mình đi và quyết đi cho đến cùng. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh muốn dùng tòa án Hoa Kỳ, nơi chị bị truy tố và bị xét xử để biến nó thành một diễn đàn tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam. Dù rằng chị biết, chọn lựa như thế là phải chấp nhận ở tù nhiều năm vì luật pháp nước Mỹ không chấp nhận những hành động như thế. Và làm thân phận một người phụ nữ ngọai quốc đến từ Âu Châu, tiếng Anh không rành, văn hóa chưa hiểu được nhiều, những ngày tù tội sẽ là những ngày dài cam khổ. Nhưng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã quyết định như thế và chị tiếp tục đi theo con đường ấy.

    Và quả thật, đúng như những gì chị nghĩ, tại phiên xử, nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã biến thành một phiên xử tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam. Suốt gần hai tuần lễ, bằng những lời lẽ chân thật nhưng cảm động và tràn đầy phẫn uất, trong vai trò bị cáo, chị đã biến mình thành một một công tố viên đại diện cho dân tộc Việt Nam, cho lương tâm thế giới, dõng dạc tố cáo trước báo chí Hoa Kỳ và thế giới những tội ác của Cộng Sản Việt Nam đã phạm với dân tộc Việt Nam. Qua những lời tố cáo của chị tại tòa án, CSVN đã hiện nguyên hình một lũ ăn cướp bạo tàn, vô liêm sỉ, dã man, tham nhũng và ngu dốt.

    Ngày 19-1-03, tòa chung thẩm Liên Bang kết án Nguyễn Thị Ngọc Hạnh 5 năm tù với hai tội danh: “Dự mưu phóng hỏa và chống cự nhân viên công lực.” Trước khi phiên tòa chấm dứt, chị đã được mời lên nói những lời phát biểu cuối cùng trước tòa án. Chính giờ phút này, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã làm cho nhiều người nhỏ lệ. Một lời phát biểu đáng lý chỉ được phép nói trong vòng dăm ba phút đồng hồ, chỉ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã được quyền “thuyết giảng” hơn 30 phút. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói, khẩu khí oai dũng không thua gì Trần Bình Trọng năm nào nói với quân Nguyên:

    “Tôi không xin ân huệ gì cho riêng tôi. Tôi chỉ xin bà chánh án quan tâm đến tập tài liệu tố giác tội ác Cộng Sản mà tôi đã trao tận tay bà… Tôi vô tội! Kẻ có tội chính là Hồ chí Minh và đảng CSVN. Hôm nay quý vị có thể nhân danh pháp luật để kết án tôi, đóng đinh tôi, nhưng không thể phủ nhận lòng yêu nước của tôi… Ngày nào tôi còn hơi thở, tôi còn tiếp tục hy sinh tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền của quê hương tôi”.

    Nghe những lời nói của người nữ anh hùng, người thư ký đánh máy tốc ký đã khóc sướt mướt cho đến khi đánh máy những lời nói cuối cùng của chị… Chị đã bình thản và chấp nhận 5 năm tù để đổi lấy thời gian hơn nửa tiếng đồng hồ, làm một công tố trạng tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam, cho cả dân tộcVN.

    Sau đó, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh được gởi về thọ hình tại nhà tù liên bang ở California. Nơi đây, chị đã gặp một số tù nhân Việt Nam và ai cũng đem lòng quý mến và thương yêu chị. Bao nhiêu tiền bạc chị nhận được từ bên ngoài, chị chia hết cho những người tù đang ở chung với chị mà chị coi như là những đứa em. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói:

    “Tôi đã từng ở tù nhiều năm ở Việt Nam, sang đến tù Âu Châu, bây giờ tù Mỹ, tôi rất dễ thích hợp với nhà tù. Nơi chốn này, tôi quen rồi nên tôi không cần gì cho tôi cả. Tôi sống như thế nào cũng được, nhưng các em nó còn nhỏ, các em không quen với những khó khăn, không được tiếp tế, tội nghiệp chúng nó lắm.”

    Tháng 7 năm 2003, vì lý do sức khỏe, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh được đưa về giam giữ ở nhà thương đồng thời là nhà tù duy nhất của chính phủ liên bang ở ngoại ô Dallas tên Carswell. Tại nơi đây, chị liền được những nhân vật chống chộng nổi tiếng của cộng đồng Việt Nam như giáo sư Cao Chánh Cương, nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ, chiến sĩ đấu tranh nhiều năm Trương Sĩ Lương, nhà văn nữ Thu Nga, cựu đại tá Võ Văn Ân đến thăm viếng và ủy lạo tinh thần hầu như mỗi tuần lễ. Đặc biệt riêng đại tá Võ Văn Ân, những tháng sau cùng, đại tá đến thăm chị hầu như 2, 3 lần một tuần để an ủi khích lệ và bàn thảo với chị về một sách lược đấu tranh mới…

    Cá nhân tôi, đã nghe tên anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh từ lâu, nhưng chưa hề có dịp được giáp mặt. Sau khi cơn bão Katrina tàn phá thành phố tôi ở, tôi phải lưu vong sang Dallas, tôi liền làm đơn để xin phép đi thăm chị.

    Cảm giác lần đầu tiên khi gặp Nguyễn Thị Ngọc Hạnh thật là một cảm giác khó quên được trong đời. Trong hội trường thăm nuôi to lớn của nhà tù liên bang, tôi nhìn thấy một nữ tù nhân dáng người ốm, chiều cao trung bình so với một người Việt Nam trong bộ quần áo tù nhân bước ra. Dáng đi của chị hiên ngang và quả quyết như một nữ tướng, dù rằng đang mặc bộ đồng phục nhà tù, dù rằng đang bước trong nhà tù. Gương mặt chị sáng lạng, cặp mắt bất khuất kiên cường, luôn luôn chiếu sáng ánh lửa hy vọng.

    Bắt tay và được giới thiệu với chị, tôi có cảm tình ngay với người phụ nữ anh hùng này. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói chuyện nhỏ nhẹ, rõ ràng, lý luận sâu sắc. Thỉnh thoảng, không quên chêm vào vài câu pha trò ý nhị, tươi sáng. Tôi ngồi im suốt một buổi sáng để nghe chị nói và âm thầm quan sát và tìm hiểu con người chị. Tôi muốn biết vì sao, hoặc động cơ nào đã thúc đẩy một người phụ nữ Việt Nam hiền lành, một người vợ hiền trong một gia đình bình thường của miền Tây Việt Nam, lớn lên từ chốn đồng ruộng thơm hơi lúa, trở thành một chiến sĩ chống cộng hăng say và có thể nói, quyết liệt và táo bạo có thể so sánh ngang hàng với Lý Tống. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã khóc khi nói đến những hình ảnh đau thương của “Anh Lính Cộng Hòa”. Chị khóc một cách tự nhiên và chân thật. Chị coi những anh lính Cộng Hòa như những người anh ruột của mình. Một lần, gặp một anh lính Cộng Hòa trên một chuyến xe lửa trên đường ở tù về, chị đã móc hết tiền trong túi ra cho anh và nhường chỗ chị cho anh ngồi.

    Chị đã kể lại những bất công không phải của chị nhưng mà của đồng bào chị đã phải gánh chịu trong chế độ Cộng Sản. Và Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cũng kể phớt qua cuộc đời của chị. Cuộc đời của một người Việt Nam mà số ngày tù nhiều hơn số ngày sống tự do ở ngoài đời…

    Sau nhiều giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi hiểu được lý do nào và động lực nào đã biến người vợ hiền Nguyễn Thị Ngọc Hạnh thành người nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh của thời đại này. Lý do đó là: Chị không chịu nỗi những bất công và đàn áp của bọn Cộng Sản Việt Nam đang đè xuống trên đầu trên cổ đồng bào chị. Chị không chịu nỗi cảnh chúng nó tàn phá quê hương của chị. Đơn giản như thế thôi. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tuyên bố rằng chị không chiến đấu cho mình mà cho dân tộc Việt Nam. Chị đã hy sinh cả gia đình, mấy đứa con, chọn con đường tranh đấu, lấy hạnh phúc của dân tộc làm hạnh phúc của mình. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tuyên bố:
    “Tôi sinh ra là người Công Giáo, nhưng bây giờ thì dân tộc Việt Nam là tôn giáo của tôi. Tranh đấu giành lại tự do hạnh phúc cho người Người Việt Nam là ĐẠO, tức là con đường của tôi.”

    Và chị nói thêm:
    “Sau năm năm ở tù, tôi đã có nhiều thì giờ để học hỏi và suy nghĩ. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều suốt năm năm qua để tìm một con đường để giải phóng dân tộc. Và tôi rất lạc quan, tin tưởng…”

    Ngừng một chút, chị ngước mắt nhìn lên bầu trời xanh ở bên ngoài hàng rào trại tù và chậm rãi tuyên bố một câu quan trọng:
    “Dù ngày xưa tôi là một người chuyên môn đốt tòa đại sứ Việt cộng, nhưng bây giờ thì tôi đã quyết định từ bỏ con đường bạo lực. Tôi đã tìm ra một phương pháp tranh đấu ôn hòa bất bạo động nhưng sẽ đem lại kết quả. Tôi sẽ không dùng lửa để đốt tòa đại sứ nữa, nhưng tôi sẽ gom lửa của đồng bào, gom lửa của tôi, của anh, của tất cả chúng ta để chúng ta cùng nhau đốt cháy chế độ Cộng Sản…”

    Nguyễn Thị Ngọc Hạnh mỉm cười rồi lắc đầu tiếp:
    “Tôi đã đốt tòa đại sứ của chúng nó ở Anh và ở Pháp, nhưng tôi không biết rằng mình đốt thì nó sẽ lấy tiền bảo hiểm để xây lại một tòa đại sứ mới hơn, đẹp hơn, lớn hơn xưa. Tôi đã quyết định từ bỏ con đường tranh đấu bạo động như ngày xưa. Lửa của tôi bây giờ sẽ được dùng một cách hữu hiệu hơn.”
    Và chị lập lại câu nói mà tôi cho rằng là một câu nói vô cùng quan trọng của một điểm khởi đầu của một cuộc tranh đấu mới:
    “Tôi sẽ gom lửa của đồng bào, gom lửa của tôi, của anh, của tất cả chúng ta để chúng ta cùng nhau đốt cháy chế độ Cộng Sản…”

    Lần cuối cùng tôi đến thăm chị, Chủ nhật ngày 16 tháng 4 năm 2006, chúng tôi bịn rịn từ giã nhau. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh hỏi tôi về cảm nghĩ của tôi về vấn đề chống Cộng. Tôi thành thực cho chị biết rằng tôi rất bi quan. Tôi thấy rằng chúng ta mỗi ngày một già đi, yếu đi. Tình hình cộng đồng lại ly tán, chia rẽ, đố kỵ. Không đồng ý với nhau thì đâm ra ghét nhau và nếu cần thì không ngần ngại chửi nhau là….Việt cộng. Trong khi đó, chính quyền Việt cộng mỗi ngày mỗi giàu mỗi mạnh và đặc biệt, những thằng mình muốn trù ẻo cho nó… bị trúng gió mà chết thì chúng nó lại không những không chết, mà xem hình thì thấy chúng càng ngày càng béo tốt thêm. Nhìn mặt mày chúng nó phè phỡn trên các tờ báo mà tối về nhà buồn …ăn cơm không được.

    Nghe như thế Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nghiêm sắc mặt lại và trách tôi liền, không hề có một chút rụt rè dù đây chỉ là lần thứ hai tôi gặp chị:
    “Anh không được bi quan như thế. Tôi ở trong tù mà tôi còn nghĩ được sách lược chống chúng nó, anh ở ngoài tự do, có nhiều phương tiện, nhiều cơ hội, tại sao anh lại có những tư tưởng bi quan như thế? Một chiến sĩ chống cộng như anh mà bi quan như thế thì làm sao chúng ta chiến thắng Cộng Sản được?”

    Tôi giật mình chưng hửng và ngồi im không biết nói gì, như một người học trò bị thầy giáo quở mắng ở những ngày còn đi học tiểu học. Đại tá Võ Văn Ân nhìn tôi … thương hại.

    Chị tiếp tục “giảng” cho tôi một bài thật dài, thật hay. Cuối cùng, chị nói:
    “Chúng ta không được bỏ cuộc nửa chừng. Chúng ta phải chiến đấu đến giây phút cuối cùng. Và tôi tin tưởng chắc chắn chúng ta sẽ thành công. Tôi quả quyết như thế. Chế độ bạo tàn phi nhân của Việt cộng sẽ phải bị sụp đổ…”
    Tôi nhìn thấy trong những lời chị nói, dường như có những ngọn lửa hừng hực phát ra… Tôi nghi nhận những gì Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói và cảm thấy những gì chị nhận xét về tôi rất đúng. Lâu nay, phần vì hoàn cảnh cá nhân, phần vì phải tranh sống hằng ngày, phần vì nhìn thấy cộng đồng chia rẽ, tôi như đâm ra thờ ơ với việc tranh đấu. Và tệ nhất, tôi cảm thấy bi quan.

    Tôi xin cám ơn anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã thẳng thắn chỉ trích về những nhận định sai lầm của tôi. Sự chỉ trích rất đúng và tôi hứa với chị sẽ cố gắng nhìn lại thời thế để tìm một cái nhìn sáng sủa hơn. Những lời Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói làm tôi chợt nhớ đến những chiến sĩ quốc gia mà tôi luôn luôn nể phục, những con người đã âm thầm chiến đấu suốt bao nhiêu năm nay và cho đến giờ này vẫn còn một lòng dạ sắt son với tổ quốc, không hề tàn phai dù chỉ một chút: Nơi tôi ở ngày xưa, thành phố New Orleans, có những người như chiến hữu Lê Hồng Thanh, chiến hữu Trương Minh Đức, Không Quân Vũ Viết Ngữ. Nơi tôi ở bây giờ, thành phố Dallas, có những người chiến sĩ như Trương Sĩ Lương, như đại tá Võ Văn Ân. Xa hơn nữa, tôi nhớ đến những người như anh Huỳnh Lương Thiện ở San Francisco, anh Đào Trường Phúc và chị Nguyệt Ánh ở DC, thằng bạn già tôi, Không Quân Nguyễn Văn Ngà ở Vancouver, và người đàn anh khả kính, trung tá KQ Khưu văn Phát ở DC, Hội trưởng Tổng Hội Không Lực VNCH…

    Dĩ nhiên là danh sách còn rất nhiều và nhiều nữa và tôi không nhớ hết được ở đây, chỉ ghi vội lên vài tên, như một lời tạ tội vì đã vắng mặt khá lâu trên con đường tranh đấu, và đồng thời cũng gởi đến những lời khích lệ cùng khen ngợi tấm lòng sắt son đến các anh các chị.

    Chúng tôi bịn rịn chia tay nhau và chắc phải một thời gian khá lâu mới được gặp lại. Tuần sau, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh sẽ mãn hạn tù và sau đó sẽ được chuyển sang sở di trú trước khi lên đường trở về Pháp.

    Trên đường về nhà với đại tá Võ Văn Ân, chúng tôi nói chuyện với nhau và chúng tôi nghĩ rằng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh sẽ là ngọn lửa chiến đấu, ngọn lửa hy vọng cuối cùng của chúng ta. Tôi nguyện cầu cho chị có đủ can đảm, tài năng và phương tiện để, như lời chị nói, sẽ gom lửa của chị và của đồng bào đốt cháy chế độ Cộng Sản phi nhân tàn bạo.

    Đã từ lâu, cá nhân tôi cũng như nhiều người quốc gia khác, dù không nói ra, nhưng chúng ta luôn luôn âm thầm đi tìm một ngọn lửa để khôi phục quê hương. Và chúng ta đã nhìn thấy nhiều phong trào, nhiều đoàn thể, nhiều đảng phái nổi lên. Nhưng sau 31 năm, tôi chưa nhìn thấy một niềm hy vọng hoặc một hứa hẹn nào thực tiễn cả. Thậm chí một đoàn thể chính trị hoạt động đến giờ này mà còn tồn tại được, số thành viên đi họp còn được 25% so với ngày mới thành lập thì phải được coi như là một đảng phái thành công và có thực lực. Có lẽ cái tật làm ít nói nhiều, lãnh tụ thích đọc diễn văn dài giòng hơn là tích cực dấn thân, lãnh tụ sợ thay đổi, lãnh tụ luôn luôn muốn được bao vây bởi những nịnh thần ngon ngọt của một thời quá vãng, lãnh tụ không dám đối diện với thực tế phũ phàng trước mặt vẫn là một cơn bịnh trầm kha trong các đoàn thể đảng phái của chúng ta. Cộng thêm vào đó, là kẻ thù… thời gian. Càng ngày, chúng ta càng già đi và yếu đi vì chúng.

    Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một hứa hẹn, một đốm lửa, dù chỉ là một đốm lửa rất nhỏ, rất leo lét được khai sinh và đốt lên từ một người phụ nữ Việt Nam bé nhỏ và có thể nói, chưa được nhiều người biết đến tên như Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Và bản chất của lửa, ai cũng biết, luôn luôn bắt đầu rất bé nhỏ, leo lét, khiêm nhường, yếu đuối, nhiều khi bị gió thổi tắt, nhưng lại bùng lên trở lại nhờ vài ngọn gió nhỏ. Và nếu ta biết đặc tính của lửa thì phải biết sự nguy hiểm của lửa. Cứ nhìn một đám cháy rừng thì biết. Nó thường bắt đầu bằng một ngọn lửa rất nhỏ, rất leo lét, chỉ đốt cháy vài ngọn lá nhỏ nằm trên mặt đất. Nhưng một khi lửa đã bắt lên nhờ những cọng lá nhỏ bé này rồi thì những cây cổ thụ to lớn, cho đến nguyên cả một khu rừng vĩ đại, cho đến cả một tiểu bang rộng vài trăm triệu mẫu tây sẽ bị chìm trong biển lửa chỉ trong vòng vài tuần lễ ngắn ngủi.

    Hôm nay, nhân ngày mãn hạn tù của nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, tôi xin kính cẩn viết lên bài này để giới thiệu Nguyễn Thị Ngọc Hạnh với những đồng hương chưa biết chị. Với những ai đã biết chị, chúng ta hãy cùng nhau chúc mừng chị. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã hứa với chúng ta rằng chị sẽ dùng hết quãng đời còn lại của chị để đấu tranh cho dân tộc Việt Nam.

    Tất cả chúng ta, những người đã biết Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và mới biết chị, chúng ta cần phải tiếp một tay với chị để đốt lên ngọn lửa mà tôi mạo muội gọi rằng ngọn lửa Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Trong tương lai, chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và những chiến hữu như đại tá Võ Văn Ân, nhóm anh em Bến Cũ và những chiến hữu liên hệ sẽ có những chương trình hoạt động và sẽ thông báo sau.

    Chúng ta phải cùng nhau gom lửa chung với Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Với ngọn lửa này, chúng ta sẽ cùng nhau đốt cháy chế độ bạo tàn của Việt cộng như lời Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói… Chúng ta sẽ thắng!

    Source:

    Code:

    http://lienmang-vietsan.50webs.com/TSLXN_NguyenTNHanh.htm

    Tôi xin copy và gửi đến toàn thể quý độc giả để chúng ta cùng nhau suy ngẫm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: