• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ái Ân Phù Thế

Năm 1975, năm 1976, 1977, rồi những năm 2000, 2010… — Vèo…, như những cánh lá thu  bay trong Thơ Tản Ðà, ba mươi mùa thu vàng đã qua trên những lối mòn mờ dấu chân xưa…

Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi !

Thi sĩ Tản Ðà có mộng công danh, mộng của ông không thành nên ông than: “Công danh phù thế có ngần ấy thôi..” Tôi không có mộng công danh — công danh đây nói theo nghĩa đen, không những chỉ đen thường mà là đen sì, đen sịt, công danh theo nghĩa hẹp, không những chỉ hẹp vừa mà là hẹp khít; mộng công danh đen và hẹp này là mộng thi đỗ, trước 1945 ra làm quan, làm tri huyện, tri phủ, tổng đốc, thượng thư; sau 1945 làm tỉnh trưởng, bộ trưởng, đại sứ, tổng thống vv — Tôi không có mộng công danh ngay từ khi tôi oe.. oe mấy tiếng vào đời. Những năm tôi 10 tuổi, tôi rất khó chịu khi có ai gọi đuà tôi là “Ông Huyện Hải.” Tôi không có mộng công danh trong kiếp này, kiếp trước, kiếp sau. Trong ba kiếp của tôi tôi chỉ muốn làm người viết tiểu thuyết, thứ tiểu thuyết Tình giải trí cho những người đàn bà đa tình, chung tình và đẹp. Vì vậy khi cảm khái vì thời gian qua mau, tôi than:

Vèo trông lá rụng đầy sân
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi !

TT. John F.Kennedy và Phu nhân trên xe mui trần, đường phố Dallas 50 năm xưa.

Khi người khác già đi, người khác nuối tiếc hoa niên, người khác sầu buồn, não nùng, than thở, tôi cho là chuyện tự nhiên chẳng có gì đáng théc méc. Sống lâu thì phải già đi, muốn trẻ mãi sao, sầu buồn, than thở vì già đi là vô lý. Nhưng khi chính tôi già đi, tôi mất xuân thì, tôi buồn, tôi khổ đau ghê gớm. Tôi thấy việc tôi già đi là thậm vô lý, là không thể chấp nhận được. Ai cũng có thể già đi nhưng tôi thì không thể nào già đi được, hoặc ít nhất tôi cũng không thể nào già đi nhanh đến như thế. Mới buổi sáng nào đây tôi mười tuổi, tôi ngồi xe tay Omic nhà đến trường Tự Ðức trong thị xã Hà Ðông có dòng Nhuệ Giang hiền hoà, có đường xe điện dài nhất Ðông Dương nối liền thị xã Hà Ðông với thành phố Hà Nội; mới những buổi chiều nào đây tôi đi học ở trường Phan Chu Trinh, Hà Nội, sáng tôi đi, chiều tôi về Hà Ðông bằng xe điện, đoạn đường xe đẹp nhất là đoan từ trạm Thanh Xuân vào thị trấn. Tôi nhớ bên đường có làng Phùng Khoang với tòa nhà thờ cổ và đẹp. Ðó là chuyện xẩy ra năm 1946 mà tôi tưởng như mới xẩy ra tháng trước. Rồi buổi sáng mùa thu trời trong vắt chú thiếu niên đi kháng chiến là tôi lòng mở hội đi trên đường Thái Nguyên vào Việt Bắc; qua cầu treo Ðại Từ, lên đến Rừng Khế, Tuyên Quang, mới buổi chiều cuối năm lành lạnh nào đây tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tôi đứng bên sạp báo trước Nhà Hàng Kim Hoa đường Bonard chờ người thiếu nữ tôi yêu ra mua báo.

Nàng là người yêu thứ nhất của tôi, thành phố Sài Gòn ngày ấy, năm ấy mới có xe taxi. Tôi đón nàng ở cửa Tây Chợ Bến Thành, tôi đưa nàng đi chơi bằng xe taxi, đưa nàng vào chơi Sở Thú. Buổi chiều nắng vàng nàng ngồi trên thảm cỏ chụp hình. Mới ngày nào đây tôi ba mươi tuổi, tôi làm trong tòa soạn Nhật báo Sàigònmới, tôi viết tiểu thuyết phóng tác trên báo Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Phụ Nữ Ngày Mai, tôi sống, tôi viết truyện, tôi yêu, tôi được yêu, tôi ăn chơi vi vút giữa lòng thành phố Sài Gòn…Mới những đêm trăng nào đây tôi phóng xe Hillman mui trần chở người yêu lên xa lộ…

– Có phải Em là mùa thu Hà Nội..
Tuổi hoa niên anh lót lá Em nằm..?

Lời một bài ca Tình tôi nghe được ở Sài Gòn những năm 1981, 1982, những người Sài Gòn hát cho nhau nghe. Tác giả bài ca tả cảnh ông  yêu ở Hà Nội, ông lót lá thu vàng cho người yêu của ông nằm ở thảm cỏ bên Hồ Tây, trên bờ đê Yên Phụ hay ở Rặng Ổi sau Nhà Bảo Tàng Louis Finot. Tôi yêu ở Sài Gòn. Tôi trải cái áo mưa xanh Không Quân Mỹ cho người yêu tôi nằm dưới rặng dừa ven xa lộ. Những ngày hồng, những đêm xanh ấy tưởng như mới là những ngày hôm qua, những đêm hôm kia…

Buổi trưa, bánh xe lãng tử tha hương đưa tôi đi vào phi trường Dallas. Người bạn văn nghệ của tôi đón tôi. Bạn trẻ hơn tôi chừng mười tuổi. Bạn xưng em với tôi. Nhìn bạn tôi ngậm ngùi. Hai mươi năm chúng tôi mới lại nhìn thấy nhau. Người bạn trẻ năm xưa của tôi không còn trẻ nữa. Tôi vẫn giữ hình ảnh người thanh niên hai nhăm, hai bẩy tuổi, dáng người thon thả, gọn gàng, đôi mắt tinh anh  hai mươi năm trước. Người đến đón tôi vẫn là người bạn trẻ văn nghệ năm xưa nhưng hôm nay chú là người đàn ông trung niên, khuôn mặt cương nghị, hàm râu sẽ là râu quai nón khá rậm nếu không được cạo mỗi sáng, bụng chú bự gần bằng bụng tôi. Nhìn hình dạng bạn đổi thay, nhìn vết  thời gian trên mặt bạn, trên người bạn, tôi biết tôi còn thay đổi, còn già đi nhiều hơn bạn. Tôi đã sống mười chín năm sáu tháng giữa lòng thành phố Sài Gòn thân thương, thành phố bị hiếp dâm, bị đổi tên, bị sỉ nhục, bị bỏ rơi, bị quên lãng, thành phố Sài Gòn đầy cờ đỏ, nón cối, giép râu. Trong gần hai mươi năm trời sống cơ cực, sống mỏi mòn, sống tuyệt vọng với đồng bào  giữa lòng Sài Gòn tôi đã qua 8 mùa thu vàng võ nằm phơi rốn mốc trong những nhà tù của ta nay trở thành nhà tù bọn Việt Cộng dùng để nhốt ta.  Mèn ơi… Tôi không thay đ8ổi làm sao được!

Ði vào trung tâm thành phố Dallas, nơi người Mỹ gọi là downtown, người bạn đưa tôi đến trước tòa nhà gạch nâu sáu tầng; tòa nhà mà du khách tới Dallas thường đến xem. Ðây là tòa nhà người ta nói Lee Oswald, tên bị coi là đã dùng súng bắn chết T.T. Kennedy, ngày ấy nấp sau khung cửa sổ trên tầng lầu 6 và nổ súng khi chiếc xe mui trần chở ông bà Tổng thống chạy qua dưới đường. Khi tôi đến khung cửa sổ này được đánh dấu bằng một tờ báo. Rồi tôi đến thăm cái gọi là Ðài Tưởng Niệm Cố Tổng Thống John. F. Kennedy.

Người bạn tôi nói:

“Em không hiểi tại sao Mỹ nó lại chọn cái mẫu hình này làm Ðài Tưởng Niệm Kennedy..”

Chú không hiểu tại sao còn tôi thì ngơ ngác, ngậm ngùi. Một cái đài kỷ niệm không giống ai, không ra làm sao cả. Nó là bức tường tròn kín như bưng bao quanh cái bảng tưởng niệm dựng bên trong nó. Phải chăng  người Mỹ Dallas  hổ thẹn vì ông Tổng Thống của họ bị bắn chết trong thành phố của họ? Họ không muốn nhưng họ bị bắt buộc phải làm Ðài Tưởng Niệm ông nên họ làm qua loa cho xong chuyện. Phải vậy chăng ? Không phải vậy chăng ? Riêng tôi từ phút nghe tin Tổng Thống Kennedy bị bắn chết ở thành phố Dallas, tôi có ác cảm với thành phố này.

Tin Tổng Thống Kennedy bị bắn chết ở Dallas đến với tôi năm 1963 khi tôi đang làm trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới; Tổng Thống Ngô đình Diệm vừa bị giết, Nguyễn Khánh, Ðỗ Mậu chưa làm cái gọi là “Chỉnh Lý”, báo Sàigònmới chưa bị đóng cửa. Chỉ trong vòng hai tháng cuối năm 1963 trên thế giới có hai vị Tổng Thống bị nhân dân của mình bắn chết: Tổng Thống Việt Ngô Ðình Diệm, Tổng Thống My John F. Kennedy.

Trong cái Ðài Tưởng Niệm bít bùng ấy Bảng Tưởng Niệm là tấm đá đen khắc hàng chữ trắng đặt ngay trên mặt đất. Người đến tưởng niệm phải đứng đọc chữ nếu không muốn ngồi xổm trên bảng. Trong nắng trưa Dallas tôi bùi ngùi đứng nhìn bảng tưởng niệm mà không đọc một chữ nào.

Công danh phù thế của Tổng Thống John F. Kennedy có thể huy hoàng, tráng lệ  ở những đâu đâu, nhưng ở đây, ở Dallas, cái công danh ấy chỉ “có ngần này thôi”. Than ôi… Thương thay… Ông tuổi trẻ, tài cao, hào hoa phong nhã, ông không trốn lính, ông có chiến đấu trên mặt trận, ông bị chiến thương, ông không thử chơi ma túy. Ông là vị Tổng Thống trẻ tuổi thứ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Việc ông làm Tổng Thống Hoa Kỳ mở đầu kỷ nguyên những người lớp tuổi bốn mươi nắm quyền hành xã hội. Nhân dân những nước tư bản-dân chủ đều mến vợ chồng ông.

Ðang ở trên đỉnh cao công danh ông bị người Mỹ bắn chết. Sự nghiệp của ông đứt đoạn nửa chừng. Bà vợ khả ái của ông đi lấy chồng khác. Bà lấy bất cứ anh đàn ông nào trên cõi đời này cũng được nhưng chúng tôi, những người mến mộ ông bà, không được vui khi bà chịu làm vợ lão nhà giầu hình dung cổ quái Onassis. Bà Sương phụ Kennedy cần gì Tiền mà phải lấy anh Già Dầu Nhớt ấy ?

Công danh phù thế của Cố Tổng Thống Kennedy ở Dallas chỉ có từng ấy thôi: tờ báo gài bôi bác trên khung cửa sổ, tấm bảng đá đen trên sàn xi-măng, bức tường tròn vây quanh bảng tưởng niệm, trong đài chật hẹp, tù túng, giữa trưa mà tối om. Có ngần ấy thôi ..!

Rời Dallas, Texas, bánh xe lãng tử đưa tôi đến Oaklahoma City, nơi tôi nghe nói ngày xưa là thành trì cuối cùng của dân da đỏ; tôi đến Memphis, thành phố tôi từng thấy tả trên những trang tiểu thuyết Sanctuary của William Faulkner. Một chiều thu tôi đến Wichita.

Wichita.. Ðịa danh tôi chưa từng nghe thấy bao giờ trước khi tôi đến Mỹ. Nhân duyên nào đưa tôi đến Wichita? Phi trường tỉnh lẻ chỉ có hai ba chiếc phi cơ, đường giao thông không bao giờ bị kẹt xe. Tôi được giới thiệu : ” Wichita..Thủ đô Hàng Không-Không Gian Quốc Tế..” Wichita có hoa hướng dương, có bão lốc tornado, có những tia chớp điện như loé từ mặt đất lên trời. Cũng như Oakie City, Wichita có gió lộng quanh năm.

Và Wichita có nàng Dương Quý Phi. Dương Quý Phi Wichita không phải là Dương Quý Phi của Ðường Minh Hoàng mà là Dương Quý Phi của tôi, của chàng Công Tử Hà Ðông,  và của người viết tiểu thuyết Phơi-ơ-tông Hoàng Hải Thủy. Ðúng hơn nàng là Dương Quý Phi của chàng ký giả báo Sàigònmới những năm 1960 xanh thắm, thời gian chàng đang thời xuân sắc, chàng ba mươi cái xuân xanh, chàng đang viết nhiều, kiếm tiền nhiều, chàng ăn chơi vi vút.

Số là vào năm ấy, mới chỉ cách đây có 50 mùa sầu riêng, tôi viết một bài phiếm luận văn gừng về chuyện Ðường Minh Hoàng giết Dương Quý Phi ở Ðèo Mã Ngôi. Hăng tiết vịt tôi viết nếu tôi là Ðường Minh Hoàng tôi nhất định không giết Dương Quý Phi. Tôi mần bài thơ trong đó có những câu :

Em yêu ơi… Nếu ta Ðường Minh Hoàng
Có thể nào ta vị chiếc ngai vàng
Với sông núi mà đang tay tuốt kiếm
Giết cho đành ? Phi  ơi, thương vạn kiếp !
Ðêm hồ tàn. Lòng ta sầu thiêm thiếp..!

Cải lương ra rít. Ði cùng bài thơ ấy tôi viết loạn cào cào:

Quý Phi của anh ơi. Bi giờ Em ở đâu ? Bến Hải hay Cà Mâu ? Anh là Ðường Minh Hoàng trở lại trần gian đây. Anh làm ký giả nhà báo Sàigònmới. Anh biết Em cũng trở lại trần gian như anh. Em ở đâu ? Thư về toà báo cho anh..”

Từ Nha Trang quê hương thùy dương cát trắng, nàng gửi cho tôi lá thư :

“Em là Dương Quý Phi của anh đây..”

Ái tình hàm thụ. Thơ mộng ra gì. Nàng và tôi  hẹn gập nhau giữa thành phố Sài Gòn thanh bình những năm 1959, 1960, thành phố thương yêu thời chúng tôi trẻ, thành phố Sài Gòn tuyệt đẹp ngày xưa của chúng tôi. Thế rồi..

Ba mươi năm biển dâu, vật đổi, sao dời.. Sau 1975 tôi được gập nàng một lần trong thành phố Sài Gòn đau thương thê thảm của chúng tôi. Nàng là Sương phụ. Chồng nàng chết trong một trại tù khổ sai ở Hoàng Liên Sơn. Nàng Bốn Bó, tôi Năm Bó. Nàng kể cho tôi nghe chuyện nàng tính vượt biên, đi chui. Hội Ði Chui trong có nàng bị vỡ vì trong nhóm có cặp vợ chồng chồng già, vợ trẻ. Cô vợ trẻ đa tình nóng ruột chưa đặt gót chân ngà ngọc lên đảo Pulang Bidon, chưa cả đem cái chỗ để ngồi tròn nây của cô lên tầu ra cửa biển, đã tỏ tình yêu quá lộ liễu công khai săng phú tú lơ mo với một chàng trẻ tuổi, đẹp trai, phong tình. Tất nhiên chàng này cũng ở trong nhóm người tấp tểnh vượt biên. Họ tính chuyện sang Hoa Kỳ, sang Úc, sang Pháp, sang Ðức, sang bất cứ đâu, sang cả Congo nếu cần, để làm lại cuộc đời. Ông chồng già không cần nhờ thầy bói cũng biết tương lai gần của ông đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái Lá Ða Ca Dao. Ông biết không cần con tầu ngất ngư, rệu rã đến Bidong, chỉ cần tầu ra cửa biển thôi là cô vợ trẻ đa tình của ông cho ông nằm cu ky một góc tầu để nàng nằm ôm tình nhân của nàng. Ông biết như thế và ông ghen. Chồng già cũng ghen chứ bộ. Mèn ơi…Chồng già cũng là người, chồng già cũng là chồng. Chồng già ghen, và có quyền ghen, hơn chồng trẻ. Ông chồng già bèn bảo vệ tình yêu và của sở hữu của ông bằng cách đi báo Công An Việt Cộng. Cả nhóm vượt biên chưa thấy tầu bè, bến bãi đâu cả đã bị bắt trọn gói. Dương Quý Phi của tôi cũng bị tó luôn. Nhờ chi tiền nàng chỉ nếm mùi tù tội ViXi có chừng nửa tháng. Nàng mới ở tù ra và tôi được gập nàng lần đầu ở Sài Gòn.

Sài Gòn đêm cuối năm trời lạnh. Nàng và tôi đi ăn bánh canh ở Tiệm Trảng Bàng đường Lý Thái Tổ, chúng tôi ngồi cà phê vỉa hè trên đường Nguyễn Tri Phương. Nàng bận áo sơ-mi đen dài tay, dáng người thanh thật là thanh. Rồi tôi bị bắt lần hai và ra đi sáu mùa lá rụng mới trở về mái nhà xưa ở Ngã Ba Ông Tạ. Mười năm sau đêm chúng tôi, Ðường Minh Hoàng Dzởm, Dương Quý Phi Lô-canh, ngồi bên nhau uống cà phe phin đen trên vỉa hè đường Nguyễn Tri Phương, Thành Hồ, bánh xe lãng tử rệu rã – đúng ra là bánh xe tị nạn, nhưng tôi dùng “bánh xe lãng tử” cho thơ mộng, chuyện Tình mà – đưa tôi đến Kỳ Hoa Ðất Trích, nàng viết cho tôi :

“Mừng Quân Vương  đến Xứ Tự Do. Thiếp ở Wichita, Kansas. Dương Quý Phi.”

Lê Hồng Long, chủ nhiệm Tạp chí Thế Giới Ngày Nay, đón tôi ở phi trường Wichita. Ở thành phố miền gió lộng  tôi gập anh chị Hương Kiều Loan, và anh bạn Băng Ðình. Ðêm lạnh, trăng mờ, Băng Ðình đọc bài thơ của anh về Wichita. Thơ được quá. Tôi xin anh bài thơ. Tôi ở Virginia, Dương Quý Phi của tôi ở Wichita. Việt Nam của dân Da Vàng; Texas, Kansas, Arkansas.. vv.. của dân Da Ðỏ. Dân Da Vàng thất quốc lưu lạc tới đất nước của dân Da Ðỏ thất thổ. Da Ðỏ thất thổ, Da Vàng thất quốc, hai Thất gập nhau ở Wichita, Băng Ðình cảm khái thành Thơ :

Ðây miền gió lộng Wichita
Trời dẫu vào xuân cây vắng hoa.
Chỉ thấy tuyết bay ngàn cánh trắng
Trên dòng sông lạnh Arkansas.
Thảo nguyên bát ngát phơi hồn gió
Bốn hướng chân mây thiếu núi xa.
Thị trấn đèn vàng khêu nỗi nhớ
Ðất mượn, quê vay thực khéo là…
Nhớ nhau vẩy xuống vài chung rượu
Âm thầm tìm lại dấu chân ma.
Dấu chân ngủ thiếp trong màn bụi,
Da Ðỏ, Da Vàng một Sắc Da
Chung sầu thất quốc, buồn vong thổ
Chẳng hẹn sao cùng ” ẩm hận đa.?”
Ðất tạm dung thân trời chẳng khác
Ðôi vừng nhật nguyệt vẫn giao thoa.
Riêng vì sao cũ không quên mọc
Cuối những chiều xanh uá nắng tà,
Giữa những đêm vàng lê gót mỏi
Quê người khắc khoải tiếng quyên ca.
Ðổi đời, đời đổi, lòng không đổi.
Ngó trước, trông sau, ta gập ta.

*****

Gió cuốn ta về phương gió lộng
Hướng dương vàng nở rộ Kansas.
Anh em chín đưá mười phương biệt
Nam, Bắc, Ðông, Tây thiếu mái nhà.
Thúy Kiều sầu mấy mùa Ngưng Bích,
Ðêm vắng, canh chầy Ðộc Vận A !
Bạn tác có thần giao cách cảm
Thì xin vững lái trước phong ba !

Bài Hành Wichita Ðộc Vận A, tác giả Băng Ðình, ở Wichita, Kansas. Từ ngày đến Hoa Kỳ tôi ngất ngư con tầu đi trước số lượng thi ca và thi sĩ hải ngoại. Tôi từng nghĩ Bác Hồ có nhiều tội với nhân dân, với tổ quốc nhưng riêng với thi đàn thì coi bộ Bác cũng có chút công lao còm. Ðó là vì bị Bác và Ðảng xiết cổ, nghẹt thở nên ” bất kỳ bình tắc minh“, nhân dân Việt Nam chịu không nổi nên phải kêu lên, phải rên lên. Tinh hoa của Kêu Rên là Thơ. Chính tôi “như thị ngã văn, như thị ngã kiến”, sau Ngày Oan Nghiệt 30 Tháng Tư, tôi thấy riêng ở thành phố Sài Gòn bỗng dưng trong một sớm, một chiều có tới hai, ba triệu người mần thơ. Vuờn Hoa Thi Ca Việt Nam chưa bao giờ nhiều hoa tươi nở rộ như thời gian hai mươi mùa anh đào nở trở lại đây. Số thi sĩ hải ngoại đông gấp bội số thi sĩ nội địa. Dù là thi sĩ nội hay thi sĩ ngoại, tất cả các thi tài đều mần thơ Hay ngang nhau. Chỉ có điều khác nhau là thi sĩ nội mần thơ chỉ đọc cho bạn nghe, không in ra được thành thi phẩm trên giấy trắng, mực đen, nhiều thi sĩ nội chỉ vì Thơ của mình mà bị Công An Thành Hồ cho xe bông đến nhà ưu ái rước đi cho ăn ở không mất tiền năm bẩy niên, thi sĩ ngoại có Thơ là in ra liền tù tì tút suỵt.

Thi sĩ Nguyễn Bính ngày xưa: “Trời còn có bữa sao quên mọc. Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em.”  Thơ và Trời, Sao Wichita của Băng Ðình :

Riêng vì sao cũ không quên mọc
Cuối những chiều xanh uá nắng tà

Giữa những đêm vàng lê gót mỏi

Quê người khắc khoải tiếng quyên ca…

Cảm khái cách gì!

Tôi cũng dzậy. Tôi cũng như Thi sĩ Nguyễn Bính, tôi cũng như Thi sĩ Băng Ðình, ngôi Sao Lẻ Loi của tôi đêm nào cũng mọc, tôi cũng chẳng đêm nào chẳng nhớ Em. Cảm khái vì  Thơ của các Thi sĩ, chiều nay mùa Thu mới thấp thoáng về trên Rừng Phong, tôi tuyên ngôn Tâm Tình của tôi bằng Thơ. Thơ của tôi, chỉ vay mượn tí ti thôi :

Riêng vì sao lẻ không quên mọc
Cuối những chiều xanh uá nắng vàng.
Ðời còn có kẻ tơ quên tóc

Anh chẳng đêm nao chẳng nhớ Nàng !

Mây cuốn Ta về phương gió lộng
Anh đào hồng trắng Virginia.
Trong những đêm vàng Mơ với Mộng
Em có bao giờ Em nhớ Ta ?

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: