• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Đao To, Búa Lớn

Ðầu năm 2011, Nhà Văn Phạm Công Thiện qua đời, ở Houston, Hoa Kỳ, Nhà Văn Nguyễn Hưng Quốc viết:

Nhà Tư Tưởng PHẠM CÔNG THIỆN

Phạm Công Thiện là một văn tài lỗi lạc của Miền Nam Việt Nam. Sinh thời, ông rất nổi tiếng và được tôn sùng. Người đời gọi ông là Triết gia, Nhà Tư tưởng, giáo sư, nhà thơ, cư sĩ. Thậm chí, ông còn được tặng danh hiệu “Bồ Tát.”

Sinh năm 1941 tại Mỹ Tho, ông đến với văn chương từ rất sớm. Từ năm 13 tới 16 tuổi, ông là cộng tác viên của Tạp chí Bách Khoa. Năm 15 tuổi, ông đã đọc thông viết thạo năm – 5 – ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ông còn biết tếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, giữ chức Giáo sư Phật Giáo Viện College of Buddhist Studies. Từ đó, ông ở Mỹ và tiếp tục viết sách – phần lớn là nghiên cứu về đạo Phật.

Ngày 8/3/2011  ông qua đời tại thành phố Houston, Texas, Hoa Kỳ, hưởng thọ 71 tuổi.

Năm 1967, trong cuốn “Im lặng hố thẳm,” ông xem Nguyễn Du là một trong năm Nhà Thơ vĩ đại nhất của phương Ðông; năm 1996, trong cuốn “Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc,” ông đi xa hơn một chút nữa, cho “Nguyễn Du là  một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của nhân loại, bên cạnh Hoelderlin và Walt Whitman.”

Ông đặt câu hỏi:

“Ngoài ba nhà thơ ấy, có còn ai đáng kể nữa không? Hình như là không. Ðó là “ba thiên tài lớn nhất của nền thi ca nhân loại trong hai ngàn năm hoang vu trên mặt đất.”

Với Nguyễn Du, ông viết thế, dù sao, cũng được: Nhưng với nhiều nhà thơ khác, Phạm Công Thiện cũng hào sảng như thế. Trong cuốn “Hố thẳm của tư tưởng,” xuất bản năm 1967, Phạm Công Thiện viết về Quách Tấn: “Quách Tấn là thi sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam hiện giờ; Quách Tấn là người đã đánh dấu thi ca tiền chiến và thành tựu thi ca hậu chiến qua hai tập thơ “Ðọng bóng chiều” và “Mộng ngân sơn”. Hơn nữa, “Quách Tấn là một thi sĩ duy nhất của Việt Nam, đã thành tựu tất cả những gì mà Nguyễn Du còn để dở dang; còn tất cả những thi sĩ khác, kể cả Hàn Mặc Tử, kể cả Xuân Diệu, Huy Cận, v.v. đều là những thi sĩ thiên tài, nhưng không có đủ tất cả tính kiện hay kiện tính trong Thơ họ để tính dưỡng và thành tựu Thi cuộc mà Nguyễn Du đã mở đầu cho thi ca Việt Nam”.

Cũng trong “Hố thẳm của tư tưởng,” Phạm Công Thiện viết về Hàn Mặc Tử:

“Hàn Mặc Tử vỗ cánh phượng hoàng và bay xuống đậu giữa Thiên Thanh, Rimbaud và Hoelderlin đứng dậy chắp tay, đứng về phía trái; Keats và Leopardi đứng dậy chắp tay, đứng về phía mặt; Hàn Mặc Tử bay sà xuống đậu ngay chính giữa; ngay lúc ấy, lập tức hai Thi Sĩ bên trái và hai Thi Sĩ bên mặt quì xuống lạy ba triệu lạy; khi bốn Thi Sĩ lạy xong và ngước mặt lên thì Hàn Mặc Tử đã vụt biến mất và hoả diệm sơn biến thành một quả trứng phượng hoàng khổng lồ: quả trứng phượng hoàng cô liêu xoay tròn năm vòng và thu hình nhỏ lại thành trái đất; từ ấy, trái đất liên tục xoay tròn giữa vũ trụ vô biên và con người không còn làm thơ nữa.”

Những kiểu phát ngôn như thế  rất phổ biến trong văn chương Phạm Công Thiện:

“Chỉ một câu thơ của Nguyễn Du cũng đủ phá hủy trọn tư tưởng Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Một bài thơ của Trần Cao Vân ( bài Vịnh Tam tài ) đủ thu gọn tất cả Tống Nho. Một vài câu thơ Hàn Mặc Tử đủ nói hết trọn sự nghiệp tư tưởng thánh Thomas d’Aquin và thánh Augustin. Một câu thơ của Rimbaud hay một dòng văn của Henry Miller đủ nói hết Kierkegaard, Paul Tillich hay Heidegger.”

Với những tên tuổi lớn, Phạm Công Thiện vung bút như thế, kể cũng dễ hiểu. Với một số nhà thơ có tầm vóc nhỏ hơn, chỉ hơn mức trung bình một tí, Phạm Công Thiện cũng rất hào phóng lời khen ngợi. Trong cuốn Khơi mạch nguồn thơ thi sĩ Seamus Heaney, giải Nobel Văn Chương 1995, nhắc đến hai câu thơ của Hoài Khanh:

“Con sông nào đã xa nguồn
Thì con sông ấy sẽ buồn với tôi”,

… ông hạ bút:

 “Câu thơ bất hủ”;

nhắc đến bốn câu:

“Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng.
Thương về con nước ngại ngùng xuôi
Những người con gái bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi”

Thơ của Hoàng Trúc Ly, ông bình:

“Bốn câu thơ bát ngát như đất trời quê hương.

o O o

Bài viết trên NET:

Trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1954, những xu hướng muốn làm mới văn học nghệ thuật đều bị cản trở, Nguyễn Xuân Sanh trở về với Thơ Mới, Tô Ngọc Vân vẽ Tranh tuyên truyền, Nguyễn Ðình Thi  làm Thơ Khuôn khổ, Văn Cao im lặng, …

Sự đòi hỏi tự do sáng tác và đổi mới tư duy văn học trổi dậy sau ngày chia đôi đất nước. Miền Bắc xuất hiện phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, với ý thức cải tạo toàn diện đời sống con người, dân chủ hóa đất nước và tự do sáng tác. Riêng trong địa hạt thi ca, những nhà thơ như Hoàng Cầm, Trần Dần và nhất là Lê Ðạt còn muốn đoạn tuyệt với Thơ Mới để bước vào Thơ Hiện Ðại.

Nhưng họ thất bại và phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dẹp tan. Mãi đến những năm 90, Ðặng Ðình Hưng và Lê Ðạt mới lại được phép xuất hiện trên văn đàn. Ðặng Ðình Hưng với Bến Lạ và Ô Mai, Lê Ðạt với Bóng Chữ. Thi pháp của họ đánh dấu ngõ quặt trong Thơ Hiện đại.

Ở miền Nam, tháng 10 – 1956, Tạp chí Sáng Tạo ra đời tại Sài Gòn như một sự “nổi loạn”, một “chất nổ phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới”. Trên Sáng Tạo xuất hiện những tên tuổi: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Ðức Sơn …

Họ tạo dựng cái Mới như thế nào? Mai Thảo viết:

“Văn học nghệ thuật mặc nhiên không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực … Những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rứt khoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế. […] Cái vấn đề lớn nhất của chúng ta bây giờ, trước sau vẫn là phải làm sao đoạn tuyệt được hoàn toàn với những ám ảnh và những tàn tích của quá khứ […]. Công tác chặt đứt với những trói buộc cũ phải được đặt lên hàng đầu … và Thơ bây giờ là Thơ Tự do.”

 Ở bình diện khác, Thanh Tâm Tuyền định nghĩa “nổi loạn”:

“Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo.”

 Trên thực tế, có thể nói Sáng Tạo đã làm được “ngọn triều lớn” trong thời điểm 1950 – 1960, tương tự như Tự Lực Văn Ðoàn những năm 1939 – 1945: “Thổi nguồn gió mới vào thời đại của họ, thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật.”

 Về nội dung của Thay đổi, khi viết “Ðặt Nguyễn Xuân Sanh lên đỉnh cao của đường cong”, Trần Thanh Hiệp muốn tiếp tục công việc mà Xuân Thu Nhã Tập đã thử nghiệm những năm 40 trong sáng tác: đưa Tự do vào Thơ, vào Nghệ thuật. Sáng Tạo đã thành công trong việc hiện đại hóa văn học, đem hai dòng mạch lớn của Thế kỷ XX vào văn học Việt: “ Dòng hiện sinh” và “ dòng siêu thực,” với những tính chất nền tảng: Hoài nghi và Mộng tưởng.

 Về văn xuôi và tiểu luận, xuất hiện những tiêu đề chính trong văn học hiện đại, chủ yếu Biện chứng của Sartre:

1. Ðặt lại vấn đề tác phẩm (oeuvre). Có thể có tác phẩm văn học hay không? Có thể có một cuốn tiểu thuyết, một kịch bản, một bài thơ được không? Chữ nghĩa có giá trị gì? Ðặt lại vấn đề viết (écriture). Viết như thế nào? Lối viết kể chuyện, có cốt truyện, và cả lối viết hiện thực, tả chân kiểu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng … đã lỗi thời vì không đạt tới tận cùng tính cách chính xác và xác thực. Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền là một ví dụ về cách viết, cách đặt lại vấn đề viết.

2. Tác phẩm mở: tác phẩm không còn mục đích hướng dẫn người đọc tới một chủ đích như luân lý, đạo đức, triết học, văn chương, xã hội, v.v… nữa. Tác phẩm không cần kết luận, mà tác phẩm trình bầy một biện chứng, một thẩm mỹ của sự dang dở, mở cửa cho những suy nghĩ khác và sẵn sàng chờ đón những nối tiếp về sau (Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, Tháng Giêng Cỏ Non, Bản Chúc Thư Trên Ngọn Ðỉnh Trời của Mai Thảo …).

3. Tính chất biến dạng của tác phẩm: tác giả không còn là chứng nhân biện hộ (témoin de la défense) kiểu Gide, mà trở thành chứng nhân không thể loại trừ (témoin inéliminable), kiểu Sartre, chứng nhân nằm trong diễn biến, chao đảo với hoàn cảnh, chịu sự chi phối của các áp lực nội tâm cũng như ngoại cảnh (Tâm trong Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền).

4. Ðưa vai trò của nhận thức (perception) vào tác phẩm. Tác phẩm không còn nhiệm vụ khơi gợi cảm xúc và làm mủi lòng theo nghĩa lãng mạn, mà tác phẩm gây nỗi đau, gây khó chịu bằng nhận thức (Thơ Thanh Tâm Tuyền).

5. Xuất hiện hình thức mỉa mai, châm biếm hiện đại (ironie moderne) kiểu Sartre, Beckett, thay thế lối châm biếm lãng mạn (ironie romantique), kiểu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Dạng thức này cay độc hơn vì người viết không ở ngoài để ghi nhận hiện thực mà ở ngay trong cuộc, diễu mình, cười mình. Lối tự trào này rải rác trong các tác phẩm của những người cùng thời với Sáng Tạo như Túy Hồng, Nhã Ca, Trần Thị Ngh, … gọi nôm na là sự “chọc quê” chính mình.

6. Tính cách dấn thân của người nghệ sĩ trong sáng tạo và trong cuộc sống, thể hiện trên hai mặt:

– Chính trị: Chiến sĩ tự do, (…) truyền thống anh hùng (kiểu Malraux) như Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, …

– Văn nghệ: Cực lực đổi mới, bài trừ cái cũ: Chống Tự Lực Văn Ðoàn, đả kích Vũ Hoàng Chương … Thái độ “chặt đứt” với quá khứ, tính cách “nổi loạn” và những tuyên ngôn thái quá làm gai mắt những người cựu trào như Nguyễn Hiến Lê ( Ðời Viết Văn Của Tôi), Võ Phiến (Văn Học Miền Nam).

7. Hoài nghi: trên tất cả là hư vô, không có gì hết (Mai Thảo: Bản Chúc Thư Trên Ngọn Ðỉnh Trời, Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền).

8. Dòng mạch siêu thực hòa hợp mộng vào đời, mở những ngưỡng cửa mới cho sáng tác: đập vỡ bức màn kiểm duyệt của lý trí, của ý thức xã hội, tìm đến bề sâu của tâm hồn ẩn dấu trong phần tiềm thức và vô thức, nâng cao vai trò của tưởng tượng, tìm ra những phương pháp tạo hình mới cho thơ và họa, mở thêm một cánh cửa nữa về phía Tự Do. Sáng Tạo đã nắm bắt được luồng sinh khí ấy và đem vào văn học Việt.

Tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)

o O o

Tạp chí Sáng Tạo  ra được 31 số dưới hình thức nguyệt san. Số đầu ra tháng 10/1956, số cuối 31 ra tháng 9/1959. Sau một thời gian ngưng, tháng 7/1960 tái bản dưới hình thức bộ Mới, đánh số lại từ đầu. Bộ Mới cũng chỉ ra được vài số (7 hoặc 8?) thì ngừng hẳn.

o O o

Cùng trong những năm ấy, một số ông văn sĩ Bị Rọ Mõm ở Hà Nội cũng hung hăng không kém những ông văn sĩ nhóm Sáng Tạo, Sài Gòn.

Mời quí vị đọc:

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường viết:

“Ở Việt Nam, nếu có một người xứng đáng được nhận giải Nobel Văn Chương thì người đó là Trần Dần.

“Trần Dần là một người khổng lồ, không dưới 30 tập thơ, ba tiểu thuyết, không kể những bản thảo bị mối mọt hay thất lạc … Còn phải nhiều năm nữa người ta mới đánh giá được kho tàng văn học do Trần Dần để lại”.

Trần Dần từng kêu gọi:

“Phải chôn Thơ Mới” …. “phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của tiền chiến”…

“Tệ” hơn, ông còn đòi “chôn” cả Nguyễn Du:

Ông đòi hỏi nhà văn phải là:

Kẻ viết đạp đổ chân trời? Xổng xích các chân mây?” (Sổ Bụi – 1985)

o O o

Trong đám tang ông Trần Dần, ông Lê Ðạt nói lời tiễn:

Lê Ðạt: Lời tiễn

Anh em chúng tôi mỗi người một tính một nết thường có những đánh giá khác nhau về những sự việc cũng về những con người, nhưng chúng tôi cùng nhất trí ở một điểm: Trần Dần vượt tất cả chúng tôi về lòng tận tụy chữ.

Ngày vã mồ hôi dịch sách, đêm lại thức mờ mắt tô ảnh mầu để kiếm sống nhưng rảnh một phút là Dần lại viết, viết hăm hở, viết mải mê như có một nhà sách nào ứng tiền trước, đương giục bản thảo để đưa nhà in. Tôi còn nhớ một buổi chiều mùa đông, Dần nhờ tôi đi vay tiền không được, tôi đạp xe đến trả lời thì thấy Dần ngồi trong góc nhà tối bên ánh sáng leo lét một ngọn đèn Hoa Kỳ thắp hạt đỗ để tiết kiệm diêm hút thuốc lào. Mặt Dần rạng rỡ như mặt một người vừa trúng xổ số kiến thiết loại độc đắc. Hay Dần vay được tiền rồi?

Không phải – Dần đương đọc, và sưả thơ Ðặng Ðình Hưng – Dần hớn hở:

“Thằng Hưng có câu thơ đã quá:

Tìm một cái ao
ngồi giặt áo cả ngày.”

Và Dân bàn với tôi về Thơ Hiện đại, như tất cả trên đời này chỉ có Thơ là điều duy nhất đáng bận tâm.Một niềm vui thanh cao như thế không nên bị những lo toan khốn khổ về sinh nhai khuấy đục. Ngay tối ấy tôi đã chạy khắp nơi nhờ người vay tiền với lãi suất cắt cổ để kịp đưa cho anh.

Tôi có trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài: Thơ Hiện đại vô dụng và cấp thiết. Vô dụng vì nó hoàn toàn không đem lại đô la nuôi sống người làm thơ, nhưng cấp thiết vì nó to gan chống lại cơn lũ thị trường đương hung hăng đe dọa, hàng hóa xã hội cuốn phăng mọi giá trị tinh thần và nhân phẩm. Giữa lúc đồng tiền lộng hành, nạn hàng lậu, hàng dởm có nguy cơ bành trướng trên qui mô quốc gia, giữa lúc không ít những ngòi bút thi chạy tốc độ theo mầu xanh quyến rũ và ma quỷ của đồng đô-la, một người hải quan già trung thực triệt để và có bản lĩnh ở cửa khẩu Chữ, một người lão bộc cung cúc tiếng Việt như Trần Dần mới cần thiết làm sao!

Nhưng ông Trời thường oái oăm và đời nhà thơ nhiều lận đận. Hôm nay Trần Dần mới vĩnh biệơ chúng ta, nhưng thật ra nhà thơ Trần Dần đã kề cái chết từ gần hai mươi năm trước. Một cơn tai biến não đa õhủy hoại dần những khả năng trí tuệ của anh. Hình như linh cảm trước thảm họa với giác quan thứ sáu vốn cực cảm nhậy ở một nhà thơ, trong thời kỳ sung sức, Trần Dần đã lao lực viết như một kẻ tội đồ của chữ. Anh để lại nhiều tập thơ và văn xuôi cũng như nhiều sổ tay thể nghiệm. Tôi không biết số phận dành cho khối những di cảo bất hạnh này như thế nào, nhưng vốn là một người làm thơ lạc quan ngoan cố, tôi đinh ninh không một câu thơ thứ thiệt nào lại có thể bị mai một, trước sau nó cũng tìm được một tâm hồn tri kỷ, như vì sao tắt ngàn năm, tấc lòng chờ vẫn thông tin sống.

Suối đời Trần Dần canh cánh những khoản nợ:

Tôi mắc nợ

                   khoảng trời Bát-đát

Nợ rặng đèn

                   khu phố Brốt-oay

Nợ Hồng quân

                   nợ cánh anh đào Nhật bản

Nợ tất cả những gì

                   tôi chưa hát được thành Thơ

Những câu thơ dịch Maia mà không ai nỡ nghĩ là những câu thơ dịch đơn thuần.

Giờ chưa phải lúc nhìn lại nhưng tôi mong, tôi tin rằng Nhà Thơ có thể thanh thản ra đi.

Trần Dần, vì lòng khắc khoải cách tân yêu dấu yêu Chữ thiết tha của mày, tao xin thay mặt anh em tiễn mày một lậy!

o O o

Công Tử Hà Ðông: Tôi Sao Y Bản Chính những Lời Huynh Hoang Ðao To Búa Lớn trên đây để quí vị đọc, và để quí vị có những nhận định của quí vị.

Tôi chỉ  viết vài ý nhỏ của tôi:

“Tìm một cái ao
ngồi giặt áo cả ngày.”

Ngồi xổm giặt áo cà ngày ở cầu ao thì chỉ tổ lòi dzom, ăn nhậu gì đến văn gừng, văn nghệ??

Ðọc hai, ba bài “Thơ Dzờ Dzoạxc” của Nhà Thơ Lớn XHCN Trần Dần, tôi thấy ông Nhà Thơ Lớn XHCN Lê Ðạt chỉ “lậy ông Trần Dần có một lậy” thôi là quá ít. Lẽ ra ông Lê Ðạt phải chổng mông mà lậy ông Trần Dần trăm lậy.

Bốc quá đáng như ông Nhà Tư Tưởng Phạm Công Thiện “bốc” ông Thi sĩ Quách Tấn, ông Thi sĩ Hàn Mặc Tử, ông Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, ba ông Thi sĩ được bốc có thể bị “tức bụng” vì thấy mình trở thành lố bịch.

“Kính nhi viễn chi,” tôi chấm dzứt bài này ở đây.

Advertisements

16 Responses

  1. Tìm một cái ao
    ngồi giặt áo cả ngày.”
    Hai câu thơ này,có hơi hám cưa mợ Hoàng Bắc,đoc tếu quá,em xin họa lại đùng cười em nhé các Bác
    tìm một bóng cây
    ta ‘đ’cả buổi chiều
    tiến nước róc rách
    lăn nhẹ trên đất khô
    gió nhè nhẹ thổi
    ta mát cái đàng sau
    ôi sung sướng quá
    dất nước ta giầu đẹp
    cám ơn bác,cám ơn đảng
    không có hai người
    ta không dược sướng
    các Bác thấy thơ của em đột phá ghê không,

    • Kinh bac CTHD,
      Nhom Sang Tao va mhung nguoi cung ‘thuyen’, ho khong biet xau ho ma cu ‘bit mui’ de ‘boc’ nhau. Tu nhan la cac nha van lon, nha tho+ lon…, nhung song trong 20 nam chien tranh khoc liet, roi mat nuoc, roi vuot bien, ‘doi doi’, ho khong co mot tac pham nao noi ve cac chu de lon nhu chien tranh, so phan dat nuoc va than phan con nguoi. Tieu bieu la ong Mai Thao, chi la mot ‘mo chu nghia lon xon, hon don, le the’, truoc 75 chi la nhung chuyen tinh lang nhang cua nhung nguoi thanh pho, sau 75 cung chang viet duoc gi. So sanh voi Duyen Anh ‘Doi Fanta, Mot nguoi Nga o Saigon…’, ‘Hoang Hai Thuy qui a refuse’ de se taire’, Duong Hung Cuong ‘Neu anh Truong Chi dep trai’.v.v, roi cac hoi ky, chuyen ve hoc tap cai tao, vuot bien, chua ke cac ‘nha van phan khang’ cuoi 80, dau 90 voi nhung chuyen ve doi song va than phan con nguoi o mien Bac, ho khong biet ‘nguong’ hay sao ma van tiep tuc boc nhau..That la nan!!!
      Kinh
      Tien Phung

    • Thơ đi “đé”, đọc lên, hóa cười ra… nước “đé”. Quá đã !

  2. Hàng dỏm muốn thành hàng xịn phải tiếp thị bằng những thủ đoạn Trong văn chương cũng thế! Thiên hạ “mặc áo thụng vái nhau” hay dựa dẫm vào những ông Tây bà Đầm nổi tiếng tầm cở của thế giới rồi mang ra so sánh đễ khẳng định những giá trị ngang tầm cỡ hoặc giá trị hơn Những thủ thuật này PCT, Sáng Tạo hay đám Rọ Mõm đã làm. Bây giờ tại hải ngoại, những DT, BVP , TK, NHQ đang bo^m nhau cho bè đảng văn nghệ của họ Nhưng thời gian sẽ đãi lọc Hàng dỏm vẫn là hàng dỏm

  3. Tôi hãi quá ! Tôi nuốt không dzô những điều ” phán ” của ” bồ tát ” Phạm Công Thiện. Tôi cũng xin vái dài các ông tác giả mà Hoàng Công Tử nhắc tới trong bài này ! Thường nhân như tôi mà mon men đọc những thứ cao siêu này, là vỡ đầu nhức óc mà tiêu đời liền một khi. Lạy các thánh mớ bái. Thơ văn cũng như lời bình luận của các ngài nên đặt lên bàn thờ hay cho nó siêu thoát luôn. Hậu thế chắc không ai nhá nổi !!!

  4. Bài hát sau đây mong quý bác và quý bạn T.Phạm, Phương Lê thân mến của tui dzui :

    http://www.youtube.com/watch_video?v=Zds-_QrxZqM

    http://www.youtube.com/watch_video?v=Zds-_QrxZqM

    • Cám ơn bác Van Toan nhiều lắm! Tôi dzốt tiếng Tàu nên chỉ có thể hiểu nội dung bài hát bằng cách đọc phụ đề Việt ngữ. Nghe thì nhảm, nhưng cũng sướng lỗ tai lắm!

      • Cám ơn Bác VanToan về những bản hùng ca VN, nghe hoài vẫn thích.

        Còn bản nhạc của Trung Hoa thì cháu cũng giống như Bác Phương Lê vậy , không biết có đúng nguyên văn không nhưng đọc thì rất đã.

  5. Một ngày nào đó, lá cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta sẽ phất phới tung bay trên nóc dinh của Bắc bộ phủ. Đó là giấc mơ đẹp nhất của một đời người mà tôi hằng ôm ấp. Cám ơn bác Van Toan đã tưởng đến bọn hậu bối chúng tôi lắm!

  6. V/v nhóm Sáng Tạo
    Theo thiển ý của người viết, ST, xuất hiện sau biến cố 1954, cố gắng đem lại những cái mới mẻ cho văn học Miền Nam, phần đất tự do, chống lại chủ nghĩa CS. Và những tác giả trong nhóm, tuy mỗi người sáng tác khác nhau, nhưng cùng nằm trong 1 ý thức chống Cộng, chống độc tài về văn học. Họ đều có những tác phẩm để nói lên quan điểm của họ, như DQS, TTT, MT.. Trong cái cách diễn tả của họ, quả có đôi chút phách lối, hung hăng, đạp đổ, nhưng mọi trào lưu mới đều như vậy, ở phương Tây, thí dụ.
    Ông HHT đâu có 1 tác phẩm văn học nào đâu so với họ, ngoài những phóng tác?
    Và, làm sao trong 1 bài viết, mà lại để họ chung với những nhà văn CS?
    Chửi người thì cũng phải nhìn lại chính mình chứ.

  7. Kinh ong Nguyen_Van_Tuan Va cac bac vao Web HHT
    Toi biet khi toi ‘ban’ ve nhom ST, se co nhung y kien voi cac ly do nhu cua ongTuan va luon luon coi cac nguoi viet o ngoai Bac truoc 75 va o VN ngay nay la nhung ‘nha van CS’, du la ho lam gi va viet gi di nua (nhu ong MT va nhom ST chu truong). Doi voi nhung nguoi viet Mien Nam ma khong o trong nhom ST, khong the so sanh voi ho duoc.
    Toi co doc o dau do co nguoi da noi mot cau ‘Neu tao chet, ma ai dung den MT, tao cung doi mo song day de benh vuc’ (hinh nhu la ong Pham Viet Cuong, nguoi da dich L’amant cua Marguerite Dumas ra Viet Ngu)
    Vi vay, toi thay khong co gi de noi them nua, xin de tuy cac bac vao Web nay tham dinh, xin ‘kinh nhi vien chi’.
    Kinh
    Tien Q. Phung

  8. Tiếng lóng dân miền Nam gọi những người “đao to, búa lớn” là “nổ”. PCT, nhóm Sáng Tạo và đám Rọ Mõm cùng một đặc tính nổ khi tự bôm nhau lên trong sáng tác của họ Ở đây không nên lạc đề vào thái độ chính trị của họ Không nên so sánh giá trị sáng tác của CTHD và những “nhà văn nhà thơ nổ” kể trên, bởi vì lại càng lạc đề Mà giả sử thơ văn của CTHD tệ hơn đi, thì ai cấm ông không được viết bài “Đao To, Búa Lớn” ?

  9. Ông thầy giáo Nguyễn Khánh Do dạy môn Toán ở trường trung học Trưng Vương hồi trước năm 1975, đã từng viết một bài nhận định về chuyện văn chương khen nhau quá lố và đặt tên cho hành động lố bịch này là “mặc áo thụng vái nhau” Hai người viết văn có tiếng là Nguyên Sa và Mai Thảo đã bị ông nghiêm khắc lên án về chuyện hai ông này vái lạy nhau Ông NKD thấy chuyện bất bằng thì phải lên tiếng chứ đâu cần phải văn hay chữ tốt ngang tầm cở của NS và MT mới được mở miệng ?

  10. Nghe thuat vi nghe thuat la chu truong cua Sang Tao,
    con van chuong cua Ro Mom la vi NHU YEU PHAM,
    ai khen ai thi mac nguoi ta, minh co doc tac pham nao
    ma tham y, cuoi mot minh la sung suong roi.
    CTHD cung dung qua vui khi co nguoi thoi minh len, vi mot ngay nao do, lam khac y ho la bi chuoi ngay thoi. Hay canh giac!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: