• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Như Có Bác Hồ 2011

Nhạc sĩ Phạm Tuyên, tác giả bài ca “Như có Bác Hồ..”

Như có Bác Hồ trong Nhà Thương Chợ Quán
Bác vừa ra là chúng chém bay đầu…
Ðêm qua em mơ gặp Bác Hồ
Chân Bác dài, Bác đạp xích-lô…

Những lời Ca.. ca “Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu” của bọn đảng viên CS mà dân Sài Gòn bị nghe, phải nghe và nghe được chỉ khoảng 30 ngày sau ngày bọn Bắc Cộng xâm lăng đưa ảnh Già Hồ vào Sài Gòn. Thấm thoắt dzậy mà thời gian đã qua 35 năm.. Nay nhắc lại Lời Ca ca Bác Hồ năm xưa, người viết và người đọc cùng chán ngấy..

Tôi như nghe vẳng vẳng Lời Ca ca Bác Hồ “Như có Bác Hồ trong Nhà Thương Chợ Quán” vì tôi loạng quạng trên WEB, tình cờ tôi vớ được “Blog Phạm Tôn.” Dường như ông Phạm Tôn là con trai ông Phạm Quỳnh – người bị bọn Việt Cộng đập vỡ sọ chết ở Huế trong Tháng Tám năm 1945 – cũng dường như ông Phạm Tôn ở Hà Nội.

Trên“Blog Phạm Tôn, ông Phạm Tôn viết bài đả kích ông Sơn Tùng vì ông Sơn Tùng viết bài về chuyện ông Phạm Tuyên – con  của ông Phạm Quỳnh, – Nhạc sĩ Phạm Tuyên làm nhạc ca tụng Hồ Chí Minh, tên chính danh thủ phạm trong những vụ bọn Việt Minh giết những nhân vật quốc gia khi chúng cướp chính quyền Tháng Tám năm 1945. Hồ Chí Minh, Lão Cộng Ma Ðầu phải chịu trách nhiệm về cái Chết của Nhà Văn Hóa Phạm Quỳnh. Ông con của ông Phạm Quỳnh lại làm nhạc ca tụng Hồ Chí Minh là kẻ đã giết ông Phạm Quỳnh.

Tôi – CTHÐ – không viết bài này để “bênh” ông Sơn Tùng. Hai ông Trần Gia Phụng, Sơn Tùng bị  ông Phạm Tôn chỉ trích nặng lời không cần đến tôi “bênh.” Tôi trích đăng bài viết của ông Phạm Tôn để quí vị đọc và để quí vị có những nhận định của quí vị.

Mời đọc: Blog Phạm Tôn Năm Thứ Hai, Tuần 5 Tháng 10 năm 2011.

Người viết Phạm Tôn: Vì sao người Mỹ Sơn Tùng lại cứ bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên như thế?

Nhân dân ta thường khinh bỉ gọi những kẻ chuyên theo sát người khác với ác ý là “Bám dai như đỉa đói”. Quả tình, đỉa đói bám dai người, vật không phải để “chơi”, mà là để hút máu cho đã cơn khát máu tươi mới chịu buông tha. Câu ví đó thật đúng với việc người Mỹ  gốc Việt tên là Sơn Tùng, từ mươi năm nay luôn bám dai nhạc sĩ Phạm Tuyên, cập nhật từng hành động, lời nói của ông Phạm Tuyên, không phải để “tìm hiểu” sự thật, cũng chẳng phải để “nghiên cứu”, mà chỉ để tìm xem có chỗ nào có thể “xía vô, xáng cho ông họ Phạm một đòn”.

Bài viết mới nhất phát trên tạp chí Thế Giới Mới (Sau 66 Năm Lịch Sử và Công Lý Nào Cho Vụ Án Phạm Quỳnh?) ghi ngày viết là 4/9/2011, cũng khởi đầu từ một sự kiện liên quan đến nhạc sĩ Phạm Tuyên. Người Mỹ Sơn Tùng viết ngay từ đầu bài là “Nhân dịp từ chối” “tự ý làm đơn xin cứu xét được Giải thưởng Hồ Chí Minh” năm 2011 về âm nhạc (rồi lại làm đơn), Nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con trai thứ chín của cố học giả Phạm Quỳnh, qua một bài phỏng vấn được phổ biến trên diễn đàn điện tử ngày 30 tháng 8 vừa qua dưới tựa đề “Cây cúc đắng trổ hoa vàng”, đã nói khá nhiều về con đường đi theo “cách mạng” và phục vụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam của ông từ năm ông 15 tuổi (…)”

Sơn Tùng sống ở Mỹ viết là nhạc sĩ Phạm Tuyên “từ chối” tự ý làm đơn xin cứu xét được Giải thưởng Hồ Chí Minh “về âm nhạc (rồi lại làm đơn)” là có ý miệt thị. Nhưng, trong bài trả lời phỏng vấn trên báo điện tử vnexpress.net ngày 11/10/2011, chính nhạc sĩ Phạm Tuyên đã nói:

“Người ta bảo tôi cung cấp tư liệu cho họ thì tôi cung cấp, chứ nói làm đơn xin là không bao giờ tôi chấp nhận. Tôi cho rằng báo chí bức xúc nhân trường hợp của tôi bởi họ cũng nhìn thấy bất cập từ cơ chế xin-cho bao cấp còn tồn tại đến ngày nay. Chúng ta phải cùng phấn đấu làm sao để cơ chế xin-cho chấm dứt sau đợt xét duyệt này. Giải thưởng không phải là cuộc thi mà là sự thẩm định của đời sống.”

Như thế là rõ, Sơn Tùng ở Mỹ đã “ra đòn” không trúng!

Tuy nói là “bài mới”, nhưng thật ra vẫn là “bổn cũ soạn lại” mà chúng tôi đã nhiều lần vạch rõ; thủ đoạn đơn giản như sau: Khi nào muốn bôi nhọ Tổ quốc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng ta mà chưa tìm ra được cớ gì mới thì họ lại đem nhạc sĩ Phạm Tuyên ra, rồi nhân việc thóa mạ nhạc sĩ là đứa con bất hiếu, là cẩu tử, tặc tử, lại nói về cái chết oan ức của học giả Phạm Quỳnh, thân phụ ông, với niềm tin chắc chắn là nấp sau tấm bia tưởng nhớ Học Giả Phạm Quỳnh dựng trong lòng nhân dân mà bắn phá Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì nhất định là trúng! Và chúng tôi nói “bổn cũ soạn lại” cũng không sai. Lần này, cũng như cách đây mấy năm trong bài “Sau 62 năm, mở lại vụ án Phạm Quỳnh (2007), “Sơn Tùng người Mỹ lại bám gót sử gia Trần Gia Phụng tiếp tục nói về việc hai bà con gái của Phạm Quỳnh đã lên gặp Hồ Chủ tịch sau ngày “cha bị giết”. Lấy lý do bịa đặt đó để kết tội khi Hồ Chủ tịch nói: “Hồi ấy tôi chưa về”, là “chối tội”! Sự thật là Trần Gia Phụng đã xuyên tạc bức thư bà Phạm Thị Thức con gái thứ hai của Phạm Quỳnh từ Hà Nội viết cho các em ở Pháp mà ông đôn lên là “Hồi ký viết tại Paris năm 1992”-mặc dù bà chưa bao giờ ra nước ngoài! Bức thư này chỉ rõ là bà Thức và chị là Phạm Thị Giá đã gặp Hồ Chủ tịch ngay sau khi có tin cha bị bắt (tức ngày 23/8/1945). Ngày 25/8, xẩm tối, Hồ Chủ tịch mới về tới Hà Nội. Ðúng là “hồi ấy” Hồ Chủ tịch “chưa về” Hà Nội! Có lẽ vì muốn “bổ sung” cho thầy một chút, hoặc giả do đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh vì nhạc sĩ Phạm Tuyên, cho nên trong phần sau, người Mỹ Sơn Tùng còn viết thêm:

“Khi cha bị xử tử, Phạm Tuyên mới 15 tuổi (…) ông theo hai bà chị tới gặp Hồ Chí Minh tại Hà Nội để hỏi về cái chết oan khiên của cha mình”. Khi cha bị bắt, Phạm Tuyên còn tham gia mít tinh ở sân vận động Huế, mãi sau mới cùng mẹ ra Hà Nội ở với chị. Chuyện bịa đặt thêm này càng làm cho không ai còn tin nổi “tư liệu” của hai thầy trò Phụng – Tùng. Riêng nhạc sĩ Phạm Tuyên, chắc ngạc nhiên hơn ai hết vì “vinh dự” này. Hóa ra ông đã “được gặp và nói chuyện với Hồ Chí Minh ngay từ thuở thiếu thời” đang khi mình còn ở Huế, mà đến nay, ngoài 80 tuổi rồi, ông mới được biết! Nhờ người Mỹ Sơn Tùng vậy…

Người Mỹ Sơn Tùng còn căm giận việc nhạc sĩ Phạm Tuyên đã “trung với nước, hiếu với dân”, đem hết sức mình đấu tranh để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như phụ thân hằng mơ ước và đã phấn đấu suốt đời mình để mong có ngày được trông thấy. Nên còn viết: “Không mấy ai có can đảm đứng thẳng lưng để dõng dạc nói ra Sự Thật, tự phỉ nhổ vào “sự nghiệp lừa dối người khác và lừa dối chính mình” như Nhạc sĩ Tô Hải đã làm”. Một lời khích, hơn là một lời khuyên! Nhưng chắc chắn là nhạc sĩ của nhân dân Phạm Tuyên không thể nào thực hiện nổi. Không phải vì “không có can đảm đứng thẳng lưng”. Mà ông không thể “tự phỉ nhổ vào “sự nghiệp lừa dối người khác và lừa dối chính mình” chỉ vì suốt đời ông không hề làm những việc nhơ bẩn như vậy! Ông bao giờ cũng sống trung thực, một lòng trung với nước, hiếu với dân, toàn tâm toàn lực phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân… Học gấp rút trong ba tháng để thi lấy bằng trung học kháng chiến xong là Phạm Tuyên xin ngay vào học đại học pháp lý, để mong sau này góp phần chiêu tuyết cho cha! Nhưng rồi, giặc Pháp đánh lên tận chiến khu, đành phải cùng các bạn “xếp bút nghiên” đầu quân vào trường sĩ quan lục quân. Vì bấy giờ, cứu nước mới là nhiệm vụ cao nhất phải làm để thực sự trung với nước hiếu với dân, giữ vững hai chữ Trung Hiếu mà phụ thân suốt đời lấy làm phương châm sống. Vì sao phải tự phỉ nhổ vào quá khứ cao đẹp và trong sạch của  cả đời mình?!

Cuối bài, người Mỹ Sơn Tùng còn tung ra một đòn độc: Ðưa ông Phạm Tuân, em trai nhạc sĩ ra để đối lập với nhạc sĩ! Thật ra người Mỹ Sơn Tùng đã lầm to: Hai anh em nhạc sĩ rất thương yêu nhau, nhiều lần vượt vạn dặm thăm nom nhau, vì đều là những người con có hiếu của học giả Phạm Quỳnh. Có điều, mỗi người báo hiếu cha theo cách của mình, cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được trong hoàn cảnh của mình, phù hợp với sức mình. Họ như hai cầu thủ ăn ý trong một đội bóng. Người này chuyền bóng cho người kia làm bàn. Ông Phạm Tuân là con trai út yêu quí của học giả. Biết vợ ông có bệnh, nên bác sĩ đã bảo nếu sinh Phạm Tuân có thể người mẹ sẽ chết, nhưng do bà quyết tâm nên ông bà đã đồng lòng sinh con mà không theo lời khuyên nên bỏ con cứu lấy mẹ. Chính ông Phạm Tuân là nhân chứng sống rất quan trọng, nhất là trong những ngày cuối đời học giả Phạm Quỳnh. Từ nhỏ, sau nhiều bữa cơm tối, bé Tuân đã cùng phụ thân đi xe hơi đến thăm ông già Bến Ngự Phan Bội Châu. Chính ông cũng chứng kiến việc cha bị bắt trưa ngày 23/8/1945 và cuối cùng ông là người năm 20 tuổi đã cùng chị ruột là bà dược sĩ Phạm Thị Hảo đi cải táng và đưa di hài cha từ nơi bị vùi tạm về chùa Vạn Phước (Huế) mai táng, xây mộ. Ông đã viết bài trên báo ở Mỹ kể rõ chuyện cải táng. Ông còn cùng vợ hiền và các chị sưu tầm và cho xuất bản quyển “Giải oan lập một đàn tràng” dày tới 458 trang, để làm tư liệu cho các nhà nghiên cứu sau này tìm hiểu nhiều chiều về thân phu ôngï. Và ông cùng vợ đã đóng góp đáng kể về nội dung và cả về kinh phí để giúp viện Việt Học (Hoa Kỳ) ra được bộ đĩa DVD Rom ghi lại toàn bộ 210 số tạp chí Nam Phong kèm toàn bộ luận văn “Tìm hiểu tạp chí Nam Phong” của chị ông là bà Phạm Thị Ngoạn, Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong của Nguyễn Khắc Xuyên. Và cả số báo Xuân Nam Phong năm 1918 (Mậu Ngọ), báo Xuân đầu tiên của nước ta. Vợ chồng ông hiện còn lưu giữ và bảo quản tốt hai bản thảo quý cuối đời của học giả Phạm Quỳnh là tập “Hoa Ðường tùy bút – Kiến văn, Cảm tưởng” và bản Phạm Quỳnh chép tay 51 bài thơ Ðỗ Phủ và phần dịch nghĩa của ông, cùng toàn bộ Tạp chí Nam Phong do bà Ngoạn để lại.

Mặc dù bệnh nặng từ nhiều năm, nhưng ông Phạm Tuân vẫn cố gắng tham dự các hoạt động về thân phụ ông và khi cần, đều phát biểu ý kiến, dù có khi phải đi khá xa. Không thể tin là người Mỹ Sơn Tùng không biết những chuyện này.

Viết đến đây, chúng tôi chợt hiểu rõ: Vì sao không thù không oán, không gặp nhau bao giờ mà người Mỹ Sơn Tùng lại quá “quan tâm” đến nhạc sĩ Phạm Tuyên như vậy. Cứ có dịp, có cớ là lại lôi ông ra mà thóa mạ… Thì ra người Mỹ gốc Việt Sơn Tùng chuyên sống bằng nghề viết lách, mà có lẽ “lách” nhiều hơn viết. Còn nghề chính thật ra là nghề chống cộng, cụ thể là chống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Phải viết để còn có cái mà ăn, có hơi sức mà … chống nhân dân, chống tổ quốc chứ!

Vì thế, chúng tôi lại muốn đổi nhan đề bài này thành “Tại sao người Mỹ Sơn Tùng lại quyết truy sát nhạc sĩ Phạm Tuyên đến cùng?”

Ngưng trích Blog Phạm Tôn.

Nay mời quí vị đọc vài đoạn trong một bài tôi – CTHÐ – Viết ở Rừng Phong năm 2007, sau khi quyển “Giải Oan lập một Ðàn Tràng” phát hành.

Viết ở Rừng Phong: Việt Minh cướp quyền ở Huế, theo lệnh của Trùm Ðao Phủ Hồ Chí Minh, chúng bắt và giết ngay ông Phạm Quỳnh, Thượng Thư Bộ Lại triều đình Huế. Ông Phạm Quỳnh là người chứng kiến cuộc quân biến trong triều đình Huế Ðêm 9 Tháng Ba 1945.

Năm 1945 ông Phạm Quỳnh là Thượng Thư Bộ Lại, chức vụ như Thủ Tướng, trong chính phủ Nam triều ở Huế. Tháng Ba năm 1945 Nhật đánh Pháp, nắm trọn quyền hành ở Ðơng Dương, đưa ông Trần Trọng Kim từ Tân-gia-ba về nước lập chính phủ mới. Ông Bảo Ðại giải tán liền một khi tồn thể cái gọi là “nội các” của ông. Thượng Thư Phạm Quỳnh hết còn là Thượng Thư, ông không về Hà Nội, ông vẫn sống trong nhà riêng của  ông ở Huế. Tháng Tám năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền. Ông Phạm Quỳnh bị Việt Minh bắt, giam ít ngày rồi đang đêm đưa đi đập vỡ sọ chết, ông bị giết cùng với ông Ngô Ðình Khơi và người con của ông Khơi là ông Ngô Ðình Huân. Xác ba ông bị bọn Việt Minh chuyên viên giết người Việt chôn chung một hố ở một vùng giữa Huế và Quảng Trị. Mãi đến năm 1956 sau khi ông Ngô Ðình Diệm lên làm Tổng Thống, cho người tìm xác ông Ngô Ðình Khơi, mới tìm ra nơi Việt Minh chôn ông Ngô Ðình Khơi và nhân đó tìm ra xác ông Phạm Quỳnh.

Vừa cướp được chính quyền, Việt Minh giết ngay một số quan lại, chúng giết ông Ngô Ðình Khơi, ông Phạm Quỳnh ở Huế, giết ông Nguyễn Bá Trác, tác giả bài thơ Hồ Trường, ở Bình Ðịnh, giết ông Cung Ðình Vận ở Bắc kỳ. Chúng giết ông Tạ Thu Thâu ở Quảng Ngãi, ông Phan Văn Hùm ở Lái Thiêu, ông Nguyễn Văn Sâm, ông Hồ Văn Ngà, ông Dương Văn Giáo ở Sài Gòn. Khi ấy Việt Minh còn giết nhiều nhân vật có tiếng, có quyền nữa mà tôi không biết. Ðấy là chính sách của Việt Minh, do chính Hồ Chí Minh chủ trương và ra lệnh thực hiện. Chúng giết những vị đó để tiêu diệt những đảng chính trị Quốc Gia, và trấn áp giới quan lại, bao nhiêu Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát từng oai vệ một thời đến lúc đó đều im re, nín thở, không ông nào dám cục cựa, ông nào cũng chỉ mong Việt Minh nó không lôi mình ra nó xử, các ông được nó để cho sống là phúc rồi.

Ðêm 9 Tháng 3, 1945, cùng trong một giờ, quân Nhật tấn công quân Pháp ở khắp nơi trên đất Việt Nam: Sài Gòn, Huế, Hà Nội. Ở Huế súng nổ lúc 9 giờ tối, khi ấy ông Phạm Quỳnh đang ở trong văn phòng Bộ Lại của ông, ông chứng kiến toàn cảnh trận quân Nhật tấn công quân Pháp ở Huế. Sau đó, khi không còn là Thượng Thư nữa, ông viết bài hồi ký dưới đây. Ðọc bài viết của ông ta sẽ thấy tình trạng cái gọi là chính quyền Nam triều của ông Bảo Ðại – đúng ra là Bại Ðảo – Tháng Ba năm 1945 tệ mạt đến như thế nào.

GIẢI OAN LẬP MỘT ÐÀN TRÀNG. Tuyển tập. Tâm Nguyện xuất bản năm 2001 ở Hoa Kỳ. CHUYỆN MỘT ÐÊM MỘT NGÀY ( Ðêm  9- Ngày 10 Tháng 3 năm 1945)

Người viết PHẠM QUỲNH. Trích:

Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đang ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trơng thấy đèn chiếu lấp lống ở bên kia sơng, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên, khi ở phía dưới.

Ðương phân vân chưa hiểu chuyện gì thì  thấy quan Ðề Ðốc Hộ Thành Phan Gia Trung chạy vào Bộ. Ông nói:

“Có biến to. Nghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành.”

Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Khi bấy giờ đứng ở thềm Bộ Lại, ông Ðề với tôi cùng sực nhớ Hồng Ðế và Hồng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về kinh, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các ngài ngự vi hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Ðại Nội và viên Võ Hộ Giá Tây mới biết rõ giờ đi, giờ về mà thơi. Tôi nói với ông Ðề:

“Thôi, quan lớn cứ đốc xuất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Ðể tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ tìm Quan Ba Bon để hỏi.”

Ông Ðề cũng nói:

“Phải đấy, cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải.”

Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông Ðề lại nói:

“Ðã sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe mà đi cho mau.”

Tôi khoác cái “măng-tơ”, rồi lên xe đi, con trai tôi và một anh lính đạp xe đạp theo sau. Ðến cửa Hòa Bình, tôi gõ cửa hỏi  Ngài đã hồi loan chưa, thì cửa đóng kín mít, không tiếng trả lời: có lẽ lính canh đứng trong xa không nghe tiếng, cũng có lẽ lính canh nghe tiếng hỏi  mà đương lúc lộn xộn  không biết ai hỏi nên không dám thưa.

Tôi liền bảo xe kéo tôi vào nhà Quan Ba Võ-hộ-giá. Bấy giờ đêm lại càng tối, không trông thấy gì cả. Vào đến  cổng nhà quan Ba thấy nhà tối mịt, không đèn lửa gì. Ðứng trong vườn rộng, con tôi và anh lính phải hết sức lên tiếng gọi bồi, hỏi quan Ba có nhà không đến mười phút, không thấy tiếng người, đã toan quay xe ra, mới thấy trong nhà bật đèn.

Chúng tôi đi vào, bồi ra mở cửa, hỏi thì nói quan Ba còn đương ngủ, để vào đánh thức. Ðợi năm phút mới thấy ông Bon chạy ra, như còn mơ ngủ, chưa hiểu chuyện gì. Hỏi có nghe tiếng súng không, thì ông nói:

“Có lẽ lại báo động giả, chứ gì!”

Sau nghe kỹ, ông mới hiểu là có chuyện biến. Tôi hỏi:

“Ông có biết bao giờ Ngài ngự về? Hiện đã dời Quảng Trị chưa? Hồi loan đêm  nay hay ngày mai?”

Ông mơ hồ không biết chi cả. Tôi dục ông phải gấp  thông tin tới Quảng Trị để biết Ngài Ngự hiện ở đâu. Bấy giờ xem ra ông cũng hơi hoảng, ông bàn với tôi nên vô Nội để sẽ liệu.

Rồi mấy người cùng đi ra, đêm càng khuya càng tối và tiếng súng vẫn lác đác bốn phương. Ông Bon thuộc đường đi trước, chúng tôi đi theo sau. Ra khỏi vườn được một  quãng  thì nghe trong đêm tối có tiếng người và tiếng gươm súng đụng chạm. Rồi có tiếng hỏi:

“Có phải Quan Ba Bon đó không?”

Thì ra có tốn Hiến Binh Nhật Bản đang đi vào nhà ông Bon để tìm bắt ông. Rồi họ thấy chúng tôi đi cùng ông Bon, họ cũng giữ  chúng tôi luôn. Bấy giờ có người thông ngôn Việt Nam, nói tiếng ta với tôi:

“Hiện quân Nhật đang giải võ quân Pháp, vì có việc lôi thôi giữa quân Nhật và quan Toàn Quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta. Chỉ sáng mai là xong chuyện cả.”

( .. .. .. )

Nhìn ra thì có quan Phó Lãnh sự Ishida, tôi đã quen biết, đi với một vị võ quan nữa. Ông bắt tay chào tôi, mời ra ngồi nói chuyện, rồi giới thiệu tôi với quan Ðội trưởng Hiến Binh là Ðại úy Sơn Dã. Ông Ishida nói:

“Chúng tôi có vào tìm cụ, ở Bộ Lại không thấy. Có vào cả các bộ khác, để tìm các cụ, có cụ ở Bộ, cũng có cụ đi khỏi. Chúng tôi muốn nói rõ cho các cụ biết đầu đuôi việc xẩy ra như thế, và xin cứ yên tâm, quân đội sẽ bảo đảm châu đáo.”

Hai ông ra về, tôi đi nghỉ. Sáng hôm sau chủ nhật, tôi vừa khăn áo ngồi đợi, thì hai ông tới. Ông Ishida nói:

“Vừa có tin, Hồng Ðế và Hồng Hậu đã ở Quảng Trị về từ khi đêm. Nhưng xe Ngài hiện còn ở cửa An Hòa, mời cụ cùng chúng tôi ra rước Ngài về điện.”

Tôi  lên xe ơ tô của Hiến binh Nhật, cùng với quan Ba Hiến binh và ông Phó Lãnh sự ra cửa An Hòa. Ðến nơi thì thấy xe ngự đã ở đó, chung quanh có quân quan Nhật và một khẩu đại bác đương bắn vào đồn lính Tây ở Mang Cá. Tôi đến trước xe, tâu qua tình hình rồi rước Ngài về Ðiện.

Ngưng trích Hồi Ký của Ông Phạm Quỳnh.

Tôi mời quí vị đọc đoạn Hồi Ký của ông Phạm Quỳnh để quí vị thấy: Ðêm Quân Nhật đánh quân Pháp ở Huế, ông Thượng Thư Phạm Quỳnh phải ngồi xe kéo – xe do người kéo – một tên khác là Xe Tay, lóc cóc chạy từ nhà ông vào Cung để hỏi tin về Vua Bảo Ðại. Không lẽ ông Thượng Thư triều đình tôi năm 1945 không có cái xe ô tô mà đi ??? Và không lẽ nhà ông Thượng Thư – như Tể Tướng, như Thủ Tướng Chính phủ – không có điện thoại để ông phải nửa đêm ngồi xe kéo đến cửa hoàng cung, đập cổng hỏi lính canh:

“Ngài Ngự hồi loan chưa?”

Hôm ấy Ngài Ngự và Hoàng Hậu đi chơi Quảng Trị.

Không có lẽ nhưng chính ông Thượng Thư Phạm Quỳnh viết như thế.

Ðọc bài viết của nông Phạm Tôn, tôi thấy ông kể: “Ông Phạm Tuân là con trai út của ông Phạm Quỳnh thường được ông bố cho đi theo trên xe ô- tô đến thăm ông Phan Bội Châu.”

Như vậy là những năm 1940 ông Thượng Thư Phạm Quỳnh có xe ô tô của triều đình. Hai chuyện kể khác nhau.

Tôi thấy bất nhẫn vì chuyện những người Việt chống Cộng ở nước Mỹ – coi bộ bị chính những người Việt khinh miệt. Những năm từ 1970 đến 1975 nhiều ông Dân Biểu Quốc Hội VNCH có lập trường chống Cộng quyết liệt  bị chính ngay những ông Dân Biểu đồng viện miệt thị là “bọn Chống Cộng đến chiều.” Nay, năm 2011, ở Hoa Kỳ, lại thấy có nhiều người Việt chống Cộng bị gọi là bọn “Hành nghề chống Cộng.”

Ông Phạm Tôn viết:

“… Thì ra người Mỹ gốc Việt Sơn Tùng chuyên sống bằng nghề viết lách, mà có lẽ “lách” nhiều hơn viết. Còn nghề chính thật ra là nghề chống Cộng, cụ thể là chống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Phải viết để còn có cái mà ăn, có hơi sức mà … chống nhân dân, chống tổ quốc chứ.”

Ðến năm 2011, vẫn còn có người Việt gọi “việc chống Cộng, chửi Cộng, kể tội bọn Cộng là việc mạ lỵ Tổ quốc, chống nhân dân, bôi xấu đất nước!”

Hết nước nói.

Advertisements

9 Responses

  1. Cho bọn mặt dầy xem hình ảnh này để so với Phạm Tuyên.

    http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?p=1085613#post1085613

  2. 19/11/2011

    Cai thang cha Pham ton nay ngu het suc noi. Den gio nay ma con reu rao xa hoi chu nghia VN. That la ho then, thong minh-tri tue nhu ong Pham Quynh ma lai de ra thang cha nay, that la vo phuc cho giong ho, nhung ma chung ta cung phai hieu cho nhu viec trong cay vay,cung giong cam nhung trong noi nay se ngot ma trong noi khac se chua. Cai thang nay no bi bua me thuoc lu cua cai dang an cuop Mien Nam, hay la no biet tat ca day nhung no So bi tiem thuoc nhu cac dong chi da nam xuong, neu the la khon day, lieu cai than hon cua may.

    • Nguoi ta chu co phai la suc vat hay cay co gi ma so anh ngu dan nhu the. Mot loai vo than XHCN. Lai cam quyt Giang Dong trong o Giang Tay. Chi co bon gian ac moi tin ba cai chuyen lam cam cua tui ba tau phong kien nay! Bo di tam !

  3. Thật ra thì tôi vẫn cảm thấy rất “bức xúc” khi nghe đến từ “chống cộng”. Cộng Sản là một chủ thuyết đang suy tàn, bị chối bỏ và liệng vào sọt rác ngay ở trên quê huơng của nó. CS tự nó đang chết dần, đâu cần gì phải chống?

    Tôi chống đây là chống một tập đoàn lưu manh côn đồ, một bọn chuyên nghề trộm cướp đang đè đầu cỡi cổ toàn dân VN hiện nay. Chúng mạo xưng bằng rất nhiều mỹ từ để dối gạt dư luận. Hết “cách mạng”, “giải phóng” rồi đến “giai cấp công nhân”, “đội ngũ tiên tiến”… tên tuổi chúng tuy có biến hình và đa trá như chính tên đầu đảng hồ chó mao của chúng, nhưng tựu trung, chúng đều là đảng viên của đảng CSVN mà chúng ta vẫn gọi là VC!

    Thú thật, tôi rất hãnh diện là người chống cộng (= chống VC = chống cướp bóc). Tôi “hành nghề” này từ mấy chục năm nay, không ăn lương, nhưng càng làm càng “yêu nghề”. Tôi càng “yêu nghề” thì càng bị đàn em bọn côn đồ VC thù ghét và “khinh bỉ” thì đó cũng là điều tự nhiên, chẳng có gì phải théc méc!

    Nay nói đến Phạm Tuyên, tôi mường tượng nhớ đến nhân vật Bukharin của Liên Xô va đại tướng Rommel của Đức. Xin xem vụ án Bukharin và cái chết của tướng Rommel qua Wikipedia để biết trọn sự việc. Cái chết của hai nhân vật người Nga và người Đức này vẫn tôi vẫn băn khoăn suy gẫm, mỗi khi đọc lại những sự kiện liên hệ.

    Hóa ra thời nào cũng có những người hám danh đến độ sẵn sàng bán rẻ danh dự, bán rẻ luôn cả mạng sống của chính mình, cũng chỉ vì muốn thỏa mãn cái cái ảo vọng được “lưu danh muôn thuở”! Cho nên trường hợp Phạm Tuyên “hồ hởi” đi ca tụng và binh vực những kẻ đã giết cha mình có lẽ cũng vì cái ảo vọng điên cuồng ấy.

  4. Rất tiếc tôi không lưu được trận võ sĩ Lê Công quất xụm võ sĩ tầu cộng. Quý bác xem đỡ trận này vậy.

    http://www.ttxva.org/truc-tiep-tran-dau-vo-si-le-cung-len-vo-dai/

  5. Vua roi ca si Linh Che ve hoi chanh voi VC bi cam hat o SG, the moi biet CS cung tin di doan. Luc gan ’75 anh ta hat Thanh Pho Buon the la di dut no cai SG cua chung ta. Nay CS so sui seo lan nua nen voi cam may hat o day. Toi ngiep anh ta ve hoi chanh ma cung con bi da dit, bop tai.

  6. Cách nay khá lâu, sau khi miền nam được “dzải phóng”, cũng gần dịp lễ Giáng Sinh, có lần về quê của một người bạn, nằm trên một cù lao rất lớn ở bên kia sông Tiền Giang thuộc ở Chợ Gạo Mỹ Tho, tôi đã chứng kiến Có một câu chuyện nhỏ, xin được gửi các bác đọc giải khuây:

    Để chuẩn bị cho tiệc nhậu xoay tua lần này do tới phiên mình đãi, anh Truyền, một lực điền rất nghèo, qua nhiều lần thất hứa với bạn bè trong ấp, sau khi tìm đủ mọi cách để kiếm mồi nhậu nhưng không thành vì trong nhà trống trơn. Anh có ý định làm thịt con chó duy nhất trong nhà. Những người bạn nhậu hết lời can ngăn và từ chối cuộc nhậu. Ai cũng khuyên anh: “Thôi để lúc khác đi!”, “Anh còn có một con chó để giữ nhà mà giết nó làm chi!” Con chó đó khôn lắm, làm thịt nó tội nó lắm mày ơi! …”

    Không biết ăn thịt chó, tửu lượng thì quá tệ, phần thì tối đó là Noel, sáng sớm tôi dzọt về Sài Gòn trước, anh bạn ở lại với gia đình ở quê ăn Giáng Sinh.

    Vài hôm sau, người bạn trở lên Saigon, tôi hỏi:
    – Con chó ông Truyền sao mậy!
    – Thằng chả làm thịt nó rồi!
    – Sao bữa thằng chả hứa là hông giết con chó mà?
    – Ổng bảo ổng đâu có giết, mà do con chó tự chết!
    – Sao kỳ dzậy?
    – Tụi nhỏ trong ấp kể là ổng kêu con chó lại, nó mừng lắm. Nó tưởng ổng cho nó ăn, ai dè ổng trùm nó vô bao bố. Sau đó thằng chả đem cái bao đó ra sát bờ mương rồi nói với con chó trong bao: “Mày nằm im đó, đợi tao mần “công chiện” xong rồi thả mày ra. Đừng có vùng vẩy rồi té mương chết đuối nghe mậy!”.
    – Con chó đáng thương! Dưới quê suốt ngày chạy rong, tự nhiên bỏ bao bố, làm sao mà nó hổng hoảng sợ, giẫy giụa… Giả mần “công chiện” gì lúc đó?
    – Ngồi trong nhà uống trà, hút thuốc dzòm ra mương canh chừng con chó! Đợi con chó té xuống mương một lát, hết vùng vẩy, giả chạy lại vớt cái bao lên, kéo cái xác con chó ra rồi nói: “Ki ơi là ki, tao đâu có giết mày. Tao biểu mày nằm im rồi mà, tại mày không nghe lời nên mới ra nông nỗi như dzầy! Thôi, số phần mày tới đây là hết!”…. Bà già tao biết chuyện, rày ổng quá trời!
    – Mày có nhậu bữa đó không?
    – Không, nhậu làm gì! Tao nghe ông anh rễ đi nhậu về kể: lúc đầu thì cũng có người trách móc nhẹ nhàng, nhưng sau đó xỉn hết thì ông nào cũng cho rằng đúng là con chó tự vận!

    Đôi khi tôi nghe đâu đó trên trang web này, có người vỗ ngực tự xưng mình là lính VNCH hoặc không phải là cộng sản, rồi viết những lời biện hộ cho đám cộng nô người Việt, tôi tự nhủ: Nếu không phải là kẻ ba xạo thì là “lỡ vấy máu ăn phần rồi nên há miệng mắc quai!”

    Khi người ta đã đi chung một xuồng tội ác, bạn có chỉ trích họ thì họ sẵn sàng bào chữa bằng sự lấp liếm để che đậy thôi. Âu cũng là lẽ thường tình!

    Còn về câu chuyện của anh em nhà Phạm Tuyên. Phạm Tôn biện minh với lập luận gian trá của đảng cộng nô “bác hồ và thứ rác rưởi mang danh XHCN” chính là Tổ Quốc, Dân Tộc, đất nước Việt Nam hay câu chuyện của những người tỵ nạn năm xưa trốn chạy cộng sản rồi quay về kiếm chác trên nỗi đau của dân Việt trong tình cảnh nước Việt ngày nay, theo tôi, là một trong những sự trớ trêu cho số phận của dân tộc mình.

    Tôi tin không ai gian xảo mãi mãi được và câu chuyện về số phận Việt Nam ắt hẳn còn nhiều thay đổi lón, nhất là khi tương lai kinh tế của bọn cộng nô đang bên bờ vực như hiện nay:

    http://dudoankinhte.wordpress.com/

    • Chào bác Anlocson,

      Cám ơn bác đã chia sẻ. Tôi đọc xong bài này đã hơn giờ đồng hồ mà tâm trí vẫn bứt rứt với cái hình ảnh con chó vùng vẫy trong bao bố trong câu chuyện bác kể.

      Tôi không quan tâm lắm về chuyện Vẹm to mồm tố cáo chúng ta là đồ “phản động”, là “chống cộng đến khùng” v v… vì nếu nói cho cùng thì chính những suy nghĩ và hành động của chúng cũng đang ngày càng giống chúng ta. Có điều là để có được những hiểu biết mà chúng ta đã có từ thời Đệ nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, chúng phải đánh đổi bằng một quá trình “phấn đấu” đầy xương máu và nước mắt của toàn dân VN một cách vô ích trong hơn nửa thế kỷ nay.

      Nhưng điều oái oăm cho lịch sử VN là càng làm giống chúng ta thì vẹm càng có mặc cảm thua lý, nên chúng càng khua môi múa mỏ, đó cũng là điều tự nhiên mà ai cũng thấy. Điều nguy hiểm là càng thua lý, chúng càng làm càn, bất kể lương tâm và đạo lý, bất kể đến sĩ diện quốc gia. Chúng còn bán rẻ cả cơ đồ của cha ông ta để lại cho giặc tàu, hòng được kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta hỗ trợ cho chúng tiếp tục cai trị và vơ vét.

      Hình ảnh ông Truyền để mặc con chó vẫy vùng trong bao bố rồi lọt sông chết ngộp làm tôi băn khoăn lắm, bác Anlocson ơi! Nó làm tôi có những liên tưởng và so sánh kỳ cục, nhưng xét ra không phải là hoàn toàn vô lý: ông Truyền là hình ảnh của ông hàng xóm “mười sáu chữ vàng”, cái bao bố là đảng CSVN và con chó trong bao bố chính là nhân dân VN chứ còn ai khác?

      Chính “lãnh đạo” của VN ta đã tự giết dân mình và dâng đất cho giặc, chứ giặc tàu nó cướp nước mình, giết dân mình hồi nào đâu?

      Một câu chuyện tưởng là vu vơ, nhưng gói trọn hoàn cảnh của đất nước và nhân dân VN trong bối cảnh hiện nay. Ai đó quan tâm chắc cũng sẽ băn khoăn ngậm ngùi như chúng ta thôi, bác Anlocson ạ !

  7. Cảm ơn tấm thịnh tình và sự đồng cảm của bạn Phương Lê.

    Bọn cộng nô đang ngày càng chứng tỏ ta đây là kẻ hiểu biết và có văn minh trong thế giới ngày nay. Chỉ có điều khác biệt là chúng phải dùng mọi phương tiện để che đậy cho sự dối trá, tính gian xảo, lòng dạ tham tàn cũng như tâm tánh độc địa của chúng để lòe bịp mọi người, cho nên khiến chúng trông ngày càng lố bịch và kinh tởm.

    Hình ảnh ông Truyền trấn nước con chó duy nhất trong nhà để làm thịt và những lời ngụy biện để khỏi bị mọi người chỉ trích mà lại che đậy được nỗi áy náy lương tâm nhưng đặt dưới góc nhìn trong tình cảnh nước Việt dưới bàn tay của lũ ác cộng, càng ngẫm nghĩ, tôi thấy càng cay đắng cho dân tộc mình!

    Những điều tôi nêu ra dưới đây chắc chắn là bạn chẳng lạ gì vì trên các diễn đàn người ta nói hoài. Tôi chỉ xin liệt kê vài sự việc nho nhỏ trong số vô vàn tội ác của bọn cộng nô theo cách nhìn dựa trên quan điểm trên.

    Từ những chuyện gần đây như chuyện những người nông dân miền tây đã từng che chở cho bọn vc vì lòng nhân ái hoặc chuyện những người phụ nữ đưa đẩy con mình trở thành kh/bố cộng sản tự đi vào chỗ chết trong thời VNCH,… để rồi sau này, khi “dzải phóng” xong bị chúng cướp đoạt đất đai. Kêu gào khiếu nại dưới quê không được, họ lủ khủ khăn áo lên Sài Gòn, vật vạ trên những hè phố trước những văn phòng đảng cộng nô, tay cầm biểu ngữ xen lẫn với hình Minh râu và cờ máu chó và cả những giấy chứng nhận liệt sỹ vc, v.v…với hy vọng được công bằng, nhưng vẫn bị chúng “lùa và hốt” nhẹ nhàng như rác rưởi vô bao bố!

    Chắc hẳn bạn còn nhớ con đường chạy dọc sông Sài Gòn ngày trước với từng cái tên mang những trận đánh giặc Tàu vang lừng trong sử xanh nước Việt: Chương Dương, Vân Đồn, Hàm Tử? Bằng con đường đại lộ mới làm, chúng đã thay bọn Trung cộng xóa hết những dấu vết gơi nhớ trang lịch sử kiêu hùng cùa dân tộc như cái cách mà ông Truyền giết con chó của ông ta.

    Mỉa mai thay, cái tên mới VVK mà chúng đặt lại làm tôi gợi nhớ đến chuyện khác. Cuối đời, khi còn sống, tay này phải luôn canh chừng cẩn thận những “đồng chí” của ông ta (*). Vậy mà ông ta cuối cùng cũng không thoát khỏi án tử của vc. Khi bị trúng độc, dù Hà Nôi hiện có một bệnh viện dành riêng đặc biệt cho “cán búa cao cấp” với máy móc hết sức tân tiến, thuộc hạ lại tức tốc đưa ông ta bay sang tận Singapore để cứu chữa mà vẫn không kịp. Vụ này đài BBC đã đưa tin ngay tối hôm đó nhưng báo vẹm vẫn im re đến hai ngày sau mới công bố. Việc ông ta bị giết chết và việc làm lễ đặt tên đường chắc không khác lắm so với cái cách của ông lực điền trong truyện?

    Chuyện những thành phố lớn bị chúng băm nát bằng những “quy hoạch đô thị trời ơi” qua việc ăn cướp rồi bán đất để xây những cao ốc, dinh thự sang trọng cho cá nhân chúng trong khi dân chúng vẫn sống chui rúc và khổ sở với nạn kẹt xe, nước ngập đường xá. Còn đối những con đường bị ngập do nước thủy triều, việc đầu tiên của chúng làm là nâng cao mặt đường, lề đường một năm đập ra xây lại vài lần… (**) Với lời lẽ hoa mỹ: tạo sự đi lại dễ dàng, chỉnh trang thẩm mỹ đô thị, không ít “những tay bợm rượu nhâm nhi thịt chó ông Truyền”, gọi nôm na là vẹm, sống trong cái nồi cháo heo XHCN, vẫn hít hà khen lấy khen để rằng: “VN bây giờ đã phát triễn lắm! Quý vị cứ đi VN chơi sẽ thấy…”

    Ngược thời gian nữa, ta có chuyện cuối đời của “gã họ hồ”, kẻ mệnh danh là đầu đảng cướp, nguồn gốc gây ra bao kinh hoàng tang tóc cho dân Việt. Trong những ngày tháng cuối của cuộc đời, chính ông ta lại bị đám lâu la hành hình hành xác, để rồi phải tự bức tử, như con chó ông Truyền trong cái bao bố cạnh con mương. Chua chát thay, đến ngày giỗ thực sự cũng bị giấu giếm. mà tên thì được đặt cho thánh phố, cho tùm lum chỗ!
    Nhưng không có gì mỉa mai cho bằng khi trong ngày “chiến thắng” của quân cướp, đám lâu la, cất vang tiếng hát “như có bác hồ!”. Lời reo hò mừng vui do chính ông con ruột Phạm Tuyên viết ca tụng tên đầu đảng giết chết cha mình. Ôi, lời ca nghe sao như từ “những tay bợm rượu nhâm nhi thịt con chó đáng thương ông Truyền”!

    (*)Tôi có nghe 1 câu chuyện trực tiếp từ một người quen về những người bảo vệ của ông K. Rút kinh nghiệm vụ “chín ll” của Mỹ, sau này an ninh ở các sb VN cũng thắt chặt nghiêm ngặt. Tuy nhiên trong một lần, trước chuyến bay nội địa có ông này đi tại TSN, sau khi ban an ninh kiểm tra cá nhân hành khách, thấy có nhiều đệ tử của ổng mang v/ khi lên phi cơ, họ bắt buộc phải ký gửi theo dạng hàng hóa nhưng không được, Theo thủ tục, họ đành báo cho phi công trưởng để tùy anh này quyết định. Viên phi công lái thuê cho VN a/l người nước ngoài này không đồng ý. Thế là mấy chú đệ tử bảo với viên phi công và đám an ninh s/b: “Thôi được! Các ông cứ giữ nhưng phải lập biên bản, có chuyện gỉ bất trắc với chú K, các ông phãi chịu trách nhiệm!”

    (**) Nhân nói chuyện “triều cường, nước ngập”, tôi xin thêm dông dài một chút vì có thể các bác ở hải ngoại chỉ “thấy ghê” khi xem lên hình ảnh qua báo chí, chứ có thể không “thấm thía” như dân trong cuộc. Đổ mặt đường cao lên để tránh nước ngập là việc hết sức đơn giản với nhà cầm quyến, nhưng đó là vấn đề lớn đối với người dân sống ở vùng này. Đường cao thì nước sẽ đổ về chỗ thấp, và đương nhiên là nền nhà dân chúng bị ngập nhiều hơn. Việc nâng nền nhà đâu chỉ đơn giản là xây cho cao lên rồi lát gạch lại là xong. Trước mắt là phải nâng cửa ra vào: kêu thợ sắt vào cắt ngắn bớt cửa, khung bệ. Việc nâng nền nhà tắm lại liên quan đến chuyện làm lại hệ thống cống đổ ra ngoài, hệ thống nước thủy cục đi vô trong. Sau nữa là đâp bếp cũ, xây lại bếp mới trên nền nhà mới đã cao hơn lúc trước. Bao nhiêu là tiền đổ vô cho mỗi lần nâng nền nhà trong khi cuộc sống còn thiếu thốn vì đủ thứ chi tiêu cần thiết khác!

    – – – – – – – – – – – – –

    Nhân mùa Giáng Sinh kính chúc Công Tử, quý độc giả và gia quyến luôn được mạnh giỏi và an lành!

    Kính

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: