• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Em Có Bao Giờ Em Nhớ Thương?

Buổi trưa cuối năm, quyển “Gõ Cửa Ký Ức” của Huy Sơn đến Rừng Phong. Mở đọc, thấy thấp thoáng trên trang sách những khuôn mặt bạn xưa, những người bạn đã không còn ở cõi đời này.

HUY SƠN. “Gõ Cửa Ký Ức.”Viết tiểu thuyết ở Hà Nội từ năm 1952. Sĩ quan Không Quân, 7 năm tù khổ sai ở miền Bắc.

Bốn giờ chiều, tuyết bắt đầu rơi trên vườn đất Virginia, tôi bắt đầu viết.

Một sáng mùa xuân năm 1950 tôi theo đôi cánh sắt của phi cơ Aigle-Azur bay vào Sài Gòn. Mù tịt về chính chị, chính em, kiêm  mít đặc về tình hìng đất nước, sau Hiệp Ðịnh Geneve chia đôi đất nước, tôi thấy chuyện hai năm nữa sẽ có Tổng Tuyển Cử, sẽ thống nhất đất nước, là chuyện khó có thể xẩy ra, tôi muốn về thăm Hà Nội. Thăm lần đầu mà cũng là lần cuối. Nhưng làm sao về? Tiền đâu mua vé máy bay Sài Gòn – Hải Phòng?

Tôi nói chuyện tôi muốn về thăm Hà Nội với Nguyễn Ngọc Tú. Ngọc Thứ Lang, người dịch Bố Già Godfather, bảo tôi:

“Mày xin ông Phạm Xuân Thái cho vé máy bay mày về. Mày nói khi trở vào mày viết phóng sự về Hà Nội Ðỏ. Huy Sơn với Thế Phong là thư ký riêng của ông Thái. Nhờ chúng nó đưa vào gặp ông Thái.”

Tú đưa tôi đến Bộ Thông Tin, cho tôi gặp Huy Sơn, Thế Phong. Nhờ hai bạn, tôi được gặp ông Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Phạm Xuân Thái – Bộ Trưởng trong chính phủ của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm – được ông cấp Sư Vụ Lệnh về Hải Phòng làm công tác báo chí, và Lệnh lấy vé Hàng Không Việt Nam về Hải Phòng. Sự Vụ Lệnh in mầu đẹp, có hình Rồng Vàng.

Tôi quen Huy Sơn, Thế Phong từ ấy, từ đầu năm 1955.

Năm 1955 tôi thấy Huy Sơn có quyển tiểu thuyết “Trường Ca” mới xuất bản. Thời ấy chúng tôi mới hai mươi tuổi, tên nào có tiểu thuyết xuất bản là rất hách. Năm nay, 2012, đọc “ Gõ Cửa Ký Ức” của Huy Sơn tôi mới biết Huy Sơn đã có hai tiểu thuyết xuất bản ở Hà Nội trước năm 1954:

Trước Mồ Trinh Nữ,” Nhà Xuất Bản Chính Ký, Hà Nội 1953.

Anh đi.. Ngày Duyên Thắm,” Nhà Xuất Bản Hiến Nam, Hà Nội 1953.

Và năm nay, 2012, 50 năm sau ngày tôi đọc “Trường Ca” của Huy Sơn ở Sài Gòn, tôi đọc “Gõ Cửa Ký Ức của Huy Sơn ở Kỳ Hoa Ðất Trích.

“Gõ Cửa Ký Ức” 160 trang, 100 trang Truyện, 60 trang Thơ. Tôi trích một số bài Thơ Huy Sơn trong “Gõ Cửa Ký Ức.”:

Những Thung Lũng Buồn

Trong những thung lũng lưu đày,
Một vòm trời, mây bay bay…
Bốn phương nhấp nhô đỉnh núi,
Lớp lớp xanh, vàng rừng cây.

Ðêm xuyên rừng vào Mường Thái
Tiếng cồng vang động sương mai.
Một đám tù nhân ngơ ngác,
Nhìn nhau, thở than cùng ai!

Ngày lê bước lên Mường Kơi,
Lội bùn vào vùng xa xôi.
Cỏ tranh, cây hoang gai góc,
Nghe chim rừng kêu ngậm ngùi.

Một ngày đi về Yên Hạ.
Ven suối Mua rừng nở hoa.
Ðẹp như người con gái Thái,
Leo đồi miệng cất triếng ca.

Năm ấy, giã từ rừng cao,
Ðò dọc từ Bến Ngọc vào.
Những trại giam buồn Tân Lập.
Kinh hoàng, ghê rợn biết bao.

Suôi mãi, đi vào Thanh Lâm,
Sơn cùng, thủy tận phân vân.
Còn chốn hoang vu nào nữa?
Cho kẻ lưu đày giam thân!

Muờng Thái, Muờng Kơi, Yên Hạ,
Vĩnh Phú, Tân Lập, Thanh Lâm..
Những núi rừng nơi đất lạ
Dấu ấn một đời gian truân.

Nhớ những thung lũng kinh hoàng
Chôn vùi đời ta nát tan.
Núi cao, rừng sâu, suối chẩy..
Ðời còn chi nữa?
Thời gian.

Rừng Thanh Lâm (16/03/82)

Sao Mãi Lưu Ðầy?

Bên ngoài song sắt là đêm.
Ðêm đen, rừng núi nặng thêm u sầu. 

Ta về Thanh Lâm chiều rừng sương.
Lê bước lưu đầy, buồn viễn phương.
Núi rừng ôm kín ngàn tâm sự.
“Em có bao giờ Em nhớ thương?”

Ta đếm: Hai ngàn ngày dần qua,
Gục đầu nắng lửa, mưa nhạt nhòa.
Ta nhớ về Em, thương dĩ vãng.
Hình bóng Thiên Ðường… xa thật xa!

Có phải ngày xưa mình yêu nhau?
Có thực đêm xưa đời muôn mầu?
Có đúng năm xưa tình nồng nàn?
Còn có bao giờ cho mai sau?

Có còn gì đâu cho mai sau?
Mai sau mù mịt rồi về đâu?
Lưu đầy ngày tháng là oan khổ,
Mồ hôi, nước mắt và thương đau.

Ta đếm: Hai ngàn đêm dần qua.
Kinh lạ: “Sao giờ còn đời ta?”
Ngày cứ vơi đi, đêm cứ sáng.
Vẫn tới Mùa Xuân, dù không hoa.
Nối mãi những đêm dài trong tù,
Bên ngoài song sắt trời âm u.
Ðêm đen dài quá! Thê lương quá!
Sao mãi lưu đày?
Buồn thiên thu.

Thanh Hoá. Tháng 7. 1980.

Bơ Vơ

Úp mặt vào hai bàn tay
Bóng tối một ngày lưu đày.
Ngước mặt nhìn lên trời cao
Mây sầu bay về phương nào?

Lãng đãng mơ hình bóng cũ,
Nhạt nhòa sương trắng chiều sa.
Thời gian lặng lờ suối chẩy,
Tóc đã trắng mầu phôi pha.

Dấu ấn thời gian in mặt,
Bảy năm tàn ác trôi qua.
Tê tái hằn trong ánh mắt,
Thân thương như hết mặn mà.

Bao giờ trở về chốn cũ?
Nhìn lại thân thương ngày xưa.
Ấm lạnh làm sao biết được?
Cuộc Ðời: Sớm nắng,
Chiều mưa!

19/2/1982

Trong Tù Nhớ Vợ

Tóc Em đen dài chảy trên đệm trắng,
Anh áp môi hôn, hương ngát dị kỳ.
Trên đỉnh non buồn, mây xám tan đi.
Từ vùng đêm đen, mặt trời ló dạng.

Hoa nở môi Em, lửa bừng mắt sáng,
Nghe như cung đàn mừng Xuân mới sang.
Từ đó yêu Em, đêm qua vội vàng.
Từ đó có Em, đời thôi đi hoang.

Mười năm bướm hoa, tóc dài, mắt biếc,
Mười năm nồng nàn, xóa hết cô đơn.
Thế rồi cuồng phoing, lửa bùng dâu bể,
Ngày ta xa nhau niềm đau hôn mê.

Ðã bẩy năm qua, rừng hoang, núi thẳm,
Tận cùng chua xót, đỉnh cao kinh hoàng.
Mắt hướng về Nam, chân trời chẳng thấy.
Chỉ thấy bạt ngàn, rừng núi mênh mang.

Ngày nào, Em ơi..! Thấy hình bóng cũ,
Tóc Em còn dài, còn thơm hương xưa?
Còn vẹn câu thề, môi hồng, mắt biếc?
Còn thưng nhau hoài, trọn kiếp phu thê?

Thanh Hoá. Xuân 1982.

Thơ Thanh Nam

Tuyết đổ dầy hơn, đêm lạnh buốt.
Người về phòng nhỏ, bóng cô đơn.
Mở chai bia lạnh thay cơm tối.
Ngồi đọc thư nhà, lệ chưá chan.

Seattle, 1987.

Trời tối đen, tuyết bay đầy trời. Ðọc Chuyện Tù, Chuyện Tình, Chuyện Chia Ly, Chuyện Nhớ, Chuyện Thương, Chuyện Chết, Chuyện Xưa của Bạn, tôi thấy Tim tôi nặng như cục đá, Hồn tôi rã rời. Sao thế hệ anh em chúng tôi – những người Việt ra đời trước sau năm 1930 Thế Kỷ 20 – có nhiều người bị tù đày quá đỗi? Trong Lịch Sử Ngàn Năm của Dân Tộc Việt, thời gian bọn người Việt Cộng Sản nắm chính quyền là thời dân Việt bị tù, bị chết trong tù nhiều nhất.

Gõ Cửa Ký Ức” làm tôi nhớ những người bạn xưa của Huy Sơn, của tôi: Dương Hùng Cường, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, và Nguyễn Ðình Thiều. Tôi đã quên Nguyễn Ðình Thiều. Tôi muốn viết về những người bạn đó. Nhưng tối nay tôi quá buồn, xin hẹn “Sáng mai Trời lại sáng.”

Advertisements

2 Responses

  1. Con đã từng théc méc vì sao bác chưa bao giờ nhắc đến nhà văn Nguyễn Đình Thiều,nay thấy bác nhắc lại tên ông,mừng quá!
    Mong đọc được bài bác viết về nhà văn Không Quân này.
    (cứ nhớ tới bài phiếm nhà văn Nguyễn Đình Thiều viết có câu”cây tăm tre cắm củ khoai lang” mà con cứ buồn cười mãi).

  2. […] Em Có Bao Giờ Em Nhớ Thương? […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: