• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

ELIZABETH Liên Hương

Năm vị Tướng, Tá làm cuộc binh biến chống Nguyễn Khánh ở Sài Gòn năm 1964 bị đưa ra Toà Án Quân Sự: Số 1 Dương Văn Ðức, 2 Lâm Văn Phát, 3 Dương Ngọc Lắm, 4 Trương Vĩnh Ðắt, 5 Dương Hiếu Nghĩa.

Kỳ Hoa Ðất Trích Ngày 16 Tháng Ba, 2012.

Tháng Ba năm 2012 là Tháng Ba thứ 17 tôi sống ở Xứ Mỹ. Cuộc Ðời tôi – Công Tử Hà Ðông bên hông Hà Nội – được kể theo thời gian mỗi kỳ 20 năm:

Kỳ 1: 20 năm – từ 1933 đến 1953 – tôi sống ở Hà Ðông, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Nội.

Kỳ 2: 20 năm – từ 1953 đến 1975 – tôi sống ở Sài Gòn, thành phố thủ đô nước tôi, nuớc Việt Nam Cộng Hoà.

Kỳ 3: 20 năm – từ 1975 đến 1995 – tôi sống trong lòng Thành phố Sài Gòn thương tang đầy Cờ Máu.

Kỳ 4: 17 năm – từ 1995 đến nay, Tháng Ba năm 2012 – tôi sống ở Kỳ Hoa Ðất Trích.

Như vậy cho tới hôm nay, tôi sống 20 năm ở đất Bắc, 40 năm ở Sài Gòn, 17 năm ở Kỳ Hoa. Còn 3 năm nữa là đủ 80 năm.

Tám Mươi Năm Cuộc Ðời. Sống qua hai cuộc chiến tranh. Ði kháng chiến 4 niên ở đồng đất Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, Thái Nguyên – làm Liên lạc viên đi chân đất đưa thư, báo cáo – Hai năm ở Lính Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. 20 năm – từ 1956 đến 1975 – làm báo, viết tiểu thuyết, làm nhân viên Sở Mỹ – 20 năm – từ 1975 đến 1995 – sống cùng đồng bào buồn đau, tủi nhục, tủi cực trong lòng thành phố thủ đô bị chiếm đóng, thành phố bị đổi tên, trong số 20 năm này có 8 năm Nằm Phơi Rốn trong hai Nhà Tù VC: Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa.

Nhưng tám mươi năm cuộc đời, qua hai cuộc chiến tranh bao nhiêu đồng bào tôi chết, bao nhiêu người cha bị mất con, bao nhiêu chiến binh nuớc tôi bị thương tật, què cụt, mù, liệt bại – tôi – Kẻ Viết Truyện Nhà Nghề tự nhận là Công Tử Hà Ðông – không bị qua một vết thương đạn thù, không phải thương khóc con chết trận, con chết mất xác ở Kampuchia, con chết trên biển – 20 năm cuối đời đưa được vợ con sang sống ở Xứ Mỹ, tôi còn Muốn gì nữa???  Tôi mà Than Khổ là tôi vô ơn, tôi bất nghĩa.

Sáng nay Trời Mỹ vào Xuân, Virginia nắng vàng, anh đào nở trắng hồng ven dòng Potomac, ngày Mỹ đầu Xuân năm 2012 nóng như ngày Muà Hạ. Ngồi  trước computer, tính thời gian 80 năm, nhớ khoảng năm 1980  – 6 năm sau ngày bọn Bắc Cộng rước ảnh Già Hồ Một Lằn vào Sài Gòn – trong căn nhà nhỏ, tôi sầu rũ, tôi làm bài Thơ:

Hỏi Paul Lành.

Ngồi buồn bấm đốt tính Lơ Tăng – Le Temps.
Xuân này đến nữa đã Siz Dzăng – Six Ans.
Sáu Năm, Cá Châu câu còn buộc,
Chín Hướng, Chim Lồng lưới vẫn dzăng.
Quanh quẩn một loài Dzơi với Chuộtt.
Vào ra toàn chuyện Phú lơ Căng. – Foutre le camps.
Ðeo lái Sư Ông sang Mỹ Quốc.
Lộn lèo Cố Ðạo lại La Phờ-răng – La France.
Phuy-tuya đón bạn Paul Lành hỏi : – Future
« Ðờ-me Toa có biết com-măng ? » Demain. Comment.

“Cá Chậu” cá nằm trong chậu chờ lên thớt, miệng vẫn bị bọn Cộng móc lưỡi câu. “Chim Lồng” Trời mười hướng thì chín hướng bị bọn Cộng Ác bịt kín, chỉ còn một hướng để thoát là liều mạng Chui sang nước người.

Mới hôm nào Sáu Năm Tính Sổ đấy mà Thời Gian đã qua gần 40 năm. Phải chăng Ðời Chàng Công Tử Hà Ðông sẽ tròn 80 năm?

“Chỉ còn 3 Năm thôi!”

Hay “Còn những ba Năm nữa cơ!”

Cảm khái cách gì!

Nhưng Tám Mươi Năm Cuộc Ðời. Qua hai, ba cuộc Biển Dâu Trời Sầu, Ðất Thảm, Người Mếu.. vẫn bình an, răng giả, mắt có mờ tí ti, tai có điếc tí tẹo, trí nhớ có mẻ năm, bẩy miếng, nhiều mục Dzui Thú hổng còn hưởng được nữa nhưng toàn thân  lành lặn, còn Viết được, còn Người Yêu từ 60 năm trước sống gần vanh cát suya vanh cát… Bi giờ ngồi đây, trong phòng tĩnh, đèn vàng, cửa sổ kính rộng hai mét, cao mét ruỡi, mở ra trời xanh, mây trắng, computer trắng phau, Con Chuột chạy lên chạy xuống, qua ngang, sang  dzọc… Dzậy là được Ðời chiều đãi  dzồi. Còn Ðòi gì nữa!

Mở computer, thấy Meo một bạn đọc gửi:

* Trong Thơ Hoàng Cầm, bài “Nếu anh còn trẻ như năm cũ” có câu “Bao giờ Em hết Nợ Tầm Dương..” Xin ông cho biết “Nợ Tầm Dương” là Nợ gì? Cám ơn ông.

CTHÐ. “Nợ Tầm Dương” trong Thơ Hoàng Cầm thoát ý từ bài Tỳ Bà Hành của Thi sĩ Tầu Bạch Cư Dị. Chuyện Bến Tầm Dương, Gái Tầm Dương được kể nhiều lần, xin tóm gọn:

Ngày xưa, đời Nhà Ðường Tầu, ông Bạch Cư Dị là Thi sĩ có Tài và là một vị quan triều đình. Ông bị phái đi làm quan ở một vùng hoang vu, nơi người ta kể là nơi “Khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối, người ăn sắn.” Một đêm ông đi tiễn khách ở bến sông Tầm Dương. Tiệc đêm trên thuyền, ông nghe nàng Ca Kỹ đàn Tỳ Bà. Tiếng đàn của Nàng làm Thi Sĩ Tư Mã ngơ ngẩn. Rồi ông nghe Nàng kể chuyện đời Nàng: Thời Nàng trẻ, Nàng là danh ca ở kinh đô. Qua tuổi xuân, nhan sắc tàn phai, Nàng làm vợ một ông Lái Buôn. Ông này mải đi buôn kiếm tiền, bỏ Nàng cô đơn trên bến sông. Ðêm buồn, không ngủ được, Nàng tiếc thương Tuổi Xuân của Nàng, Nàng khóc.

Ðêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ nhỏ hoen.
Nghe đàn ta đã trạnh buồn.
Lại sầu vì nỗi nỉ non mấy lời.
Cùng một lưa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Nợ Tầm Dương” – giải nghĩa huỵch toẹt và ngắn gọn – là Nợ Kỹ Nữ, Nợ phải làm Gái Chơi. Thi sĩ hỏi Nàng Kỹ nữ văn huê là “Bao giờ Em hết Nợ Tầm Dương?” Nôm na là “Bao giờ Em hết phải làm Gái Chơi?”

I-Meo thứ hai trong ngày của tôi là Meo của bạn đọc:

Swan42, March 14, 2012:

Trích Nhà Tù” Duyên Anh:

Hoàng Hải Thủy là nhà văn ăn diện nhất trong số các nhà văn Việt Nam. Có nhiều nhà văn, nhà thơ mà nếu bạn gặp họ, bạn sẽ thất vọng. Hoàng Hải Thủy thì không thế. Ðẹp trai, bảnh bao, lịch sự. Một vài kẻ không thích công nhận Hoàng Hải Thủy như một “Nhà Văn.” Chẳng hạn kẻ Trần Phong Giao, kẻ Nguyễn Quốc Trụ. Ðiều này không quan trọng. Quan trọng là Trần Phong Giao, Nguyễn Quốc Trụ cũng chưa được công nhận là những nhà văn. Vậy mà đã làm Nguyễn Mạnh Côn mất công viết tựa tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Ðời của Thủy để bênh vực Thủy.

“Nhà văn” là cái gì nhỉ? Hễ ai viết chữ, người đó là nhà văn. Há những người viết đơn thuê trước cửa Toà Án, viết thư mướn trước cửa Bưu Ðiện chẳng được gọi là nhà văn công cộng đó sao? Những tên viết văn chuyên nghiệp, những tên đổi chữ nghĩa lấy cơm áo sống trọn đời mình như chúng tôi, không lấy làm thích thú cái tước vị “Nhà Văn.” Hoàng Anh Tuấn đã chế một chữ nôm đặt tên nghề nghiệp bọn viết văn, viết báo nhà nghề vô cùng hữu lý. Viết văn mưu sinh là Thợ Viết. Vẽ mưu sinh là Thợ Vẽ. Hát mưu sinh là Thợ Hát. Ðánh đàn mưu sinh là Thợ Ðàn. Lái phi cơ là Tài xế Tầu Bay. Vân vân… Chúng ta nên dành các tước vị “nhà văn, nhà thơ” cho qúy vị viết văn tài tử, những vị sống bằng nghề khác, không sống bằng ngòi bút. Nhưng còn một hạng quý vị viết văn, viết sách chuyên  xin tiền những  quỹ trợ cấp ngoại quốc, dùng tiền của người nước ngoài cho xuất bản sách của mình để bán vung vít, chúng ta gọi qúy vị ấy là “Nhà” gì? Nhà Thầu, Nhà Buôn, Nhà Mồ, Nhà Ðòn hay… Nhà Thổ?

Tôi thấy có những thi sĩ hì hục làm thơ suốt đời, ấn loát cả chục pho Thơ mà gom lại vẫn không hay bằng một bài thơ hạng bét của Thợ Thơ Hoàng Anh Tuấn. Cá nhân tôi, nói thật, tôi  học dốt và yếu sức, tôi không thể làm ông Thông, ông Ký, ông Phu xích lô, nên tôi viết văn nuôi tôi và vợ con tôi. Tôi là Thợ Viết. Tôi không ham đi vào văn học sử hôm nay, vì hôm nav không anh nào đáng viết Văn Học Sử. Tôi không đợi đi vào Văn Học mai sau, vì mai sau tôi chết rồi. Vậy thì xin cho phép chúng tôi làm Thợ Viết như Thợ Ðóng giầy, Thợ Hồ, Thợ Mộc, Thợ Dệt, Thợ May… Hãy là người Thợ chăm chỉ làm việc, nỗ lực sáng tạo, có lương tâm nghề nghiệp, có chính kiến rõ rệt hơn là Nhà Văn lười biếng, gặm sứ mạng như chuột nhắt gặm sắt, rúc đầu xuống cát như đà điểu hèn mọn. Người ta không muốn bạn tôi là Nhà Văn thì bạn tôi là Thợ Viết.

Thợ Viết Hoàng Hải Thủy là tấm gương cho những người tự học. Tiếng Pháp tự học. Tiếng Anh tự học. Chữ Tầu tự học. Rồi dịch và phóng tác truyện Pháp, truyện Anh, truyện Tầu. Thủy đọc nhiều, nhớ kỹ. Thông minh và sâu sắc. Chỉ mắc một tội, lụy vợ. Vợ giận bỏ đi, Thủy buông xuôi mọi việc. Vợ trở về, Thủy viết lách hăng say.

( .. .. .. )

Thủy đã đi lính Quốc Gia trước 1954, đeo lon trung sĩ, từng coi Tù ở Phú Quốc. Anh đã viết một truyện ngắn về tháng ngày coi Tù, kể một kỷ niệm viết thư giùm anh tù binh cộng sản gửi vào đất liền cho vợ anh ta. Anh tù binh, hơn hai mươi năm sau, ở Cục R về “giải phóng” Sài Gòn, anh làm chủ nhiệm nhật báo Sài Gòn Giải Phóng.

Anh tù binh xưa nay là chủ nhiệm tờ nhật báo duy nhất của Sài Gòn sau năm 1975 nhớ ơn Trung sĩ Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy, Thủy thoát bị bắt trong Chiến dịch 2-4-1976. Anh tù binh-chủ báo bảo Hoàng Hải Thủy chôn chết cái tên Hoàng Hải Thủv đi rồi viết cho “cách mạng.”

– Bút hiệu cửa tôi gắn liền với đời sống của tôi. Hoặc tôi viết với tên  Hoàng Hải Thủv hoặc tôi không bao giờ viết nữa.

Ðó là câu trả lời quyết liệt của Thủy trong bữa rượu tái ngộ cố nhân. Sau 30-4-1975, Hoàng Hải Thủy đến nhà tôi một lần, chờ tôi cả tiếng đồng hồ để báo tin con trai Vũ Trọng Phụng, bậc thầy phóng sự Việt Nam, đã gặp Thủy và muốn gặp tôi. Năm 1977, Thủy bị bắt về tội gửi bài ra nước ngoài. Anh nằm Ðề Lao Gia Ðịnh, được đưa về Tổng Nha Cảnh Sát của Quốc Gia ta rồi được tha, ngót hai năm tù ngục. Tôi ra tù, Thủy đến thăm ngay. Chúng tôi có nhiều ngày đi chơi với nhau. Buổi chiều, trước đêm vượt biên, tôi mời Hoàng Hải Thủy “phê” một bữa với ông Ký Già tại toà soạn Văn.

– Mày nói rằng, đứa nào vượt biên dấu mày, đều bị bắt. Vậỵ tao cho mày hay, đêm nay tao phú lỉnh.

– Làm sao tao có tin mày?

– Tao đánh điện cho cô Tuấn.

Chúng tôi chia tay nhau ở bùng binh cửa rạp xi-nê Khải Hoàn. Tôi đi thoát. Thoát chưa phải là “đến.” Ở trại tiếp cư Achères, tôi gửi cho Thủv tấm bưu thư. Thủy viết thư nhờ một ni cô chuvển cho tôi. Thủy nói, tôi đi rồi thỉ Thủy bị khủng hoảng, muốn “noi gương” tôi. Anh có cảm giác bị đe dọa thường xuyên. Cảm giác ấy đă thành hiện thực. Hoàng Hải Thủy bị bắt lại vào Tháng 4 năm 1984.

Ngưng trích Hồi Ký NHÀ TÙ của DUYÊN ANH.

Tôi – CTHÐ Hoàng Hải Thủy – viết vài lời về Lời Kể Chuyện trên đây của Duyên Anh.

Một chiều năm 1983 tôi trên xe đạp đến nhà Lê Trọng Nguyễn rủ Nguyễn đi uống rượu vỉa hè. Tôi gặp Lan Ðài xế cửa nhà Nguyễn. Khi gặp Nguyễn, tôi nói:

“Tao vừa gặp Lan Ðài với con gái nó ngoài kia. Hình như nó muốn nói gì với tao nhưng lại không nói, cứ dùng dằng mãi.”

Nguyễn nói:

“Mày hay đấy. Nó với con gái nó sắp đi chui. Bố con nó đến chào tao. Chắc nó muốn nói với mày chuyện nó đi nhưng ngại không nói.”

Vài ngày sau Nguyễn bảo tôi:

“Lan Ðài nó chết rồi. Từ taxi lên tầu lớn ở cửa sông, ban đêm nó rớt xuống sông, chết đuối.”

Tôi hỏi:

“Con gái nó có đi được không?”

“Cũng không đi được.”

Tôi kể chuyện Lan Ðài với Duyên Anh, tôi không nói: “Thằng nào đi mà dấu tao là đi không thoát.” Khoảng năm 1981 tôi có gặp một thanh niên tự nhận là con Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, tôi không đến báo cho Duyên Anh biết người tự nhận ấy muốn gặp Duyên Anh.

Năm 1953 tôi là lính Võ Trang Tuyên Truyền thuộc Phòng Năm dưới quyền Thiếu Tá Trần Tử Oai. Tôi Trung sĩ – Sergent – đưa một tiểu đội ra Trại Tù Binh Phú Quốc làm việc phát thanh tuyên truyền, phát báo, truyền đơn, chiếu phim cho Lính và Tù xem. Năm ấy có 4 Trại Tù Binh ở Mũi Cây Dưà Phú Quốc. Trại do Quân đội Pháp dựng lên làm chỗ giam những người bị Quân Pháp bắt trong những trận quân Pháp càn quét ở miền Bắc. Gọi là “Tù Binh”nhưng  theo tôi 10 người bị bắt có đến 8 người là nông dân. Họ bị quân Pháp bắt bừa bịt và coi họ là tù binh. Họ bị giam không có án, ngày nào hết chiến tranh thì họ được ra khỏi tù. Người Pháp gọi loại Tù này là “Fin des Hostilités.” Năm tôi ra đó 4 Trại Tù mỗi trại giam 1.000 người.

Không có chuyện tôi làm quen và giúp gửi thư về quê cho một anh Tù Binh Bắc Việt Minh, lại càng không có chuyện sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 anh Cựu Tù Binh Trại Cây Dừa Phú Quốc trở thành Chủ Nhiệm Nhật Báo Sài Gòn Giải Phóng, anh nhớ chuyện xưa anh trả ơn người xưa.

Ðoạn bạn Swann trích trong Nhà Tù của Duyên Anh gợi tôi nhớ đến những ngày tôi sống ở Phú Quốc, làm tôi nhớ Người Nữ Quân Nhân Quân Ðội Quốc Gia VNCH tôi gặp 60 năm xưa ở Phú Quốc.

Tên Nàng là Elizabeth Liên Hương. Tôi viết bài này để tưởng nhớ Nàng.

Năm 1953 tiểu đội tôi  được – đúng ra là “bị ” – phái ra phục vụ ở Trại Tù Binh Phú Quốc. Xe Dodge 4 chở chúng tôi đi 6 giờ sáng ở Sài Gòn, khoảng 4 giờ chiều chúng tôi đến bến sông trước Dinh Tỉnh Trưởng Rạch Giá. Chúng tôi xuống chiếc ghe máy – ghe của Ba Tầu, do Tiểu Khu Phú Quốc mướn dài hạn – Khoảng 8 giờ tối, ghe rời bến, đưa chúng tôi ra Ðảo Phú Quốc. Suốt ngày ngồi xe, đêm ngủ chập chờn trên tầu biển, tiếng người lính bên tai tôi:

“Ðến rồi, Trung sĩ ơi.”

Gần sáng. Tôi dậy, đi đái, rồi lên boong nhìn vào đảo. Ghe máy chờ sáng mới vào cầu tầu. Xa kia mờ trong sương đêm sáng long lanh hai dẫy đèn điện. Tôi nghĩ thầm: “Ðèn điện? Hay quá. Chắc sống được. Ðèn điện nhiều thế chắc có nhà hàng, tiệm cà phê.” Yên trí, tôi trở xuống ngủ tiếp.

Sáng đổ bộ lên đảo, tôi não nùng tâm sự. Hai dẫy đèn điện sáng choang đêm qua tôi thấy và tôi tưởng bở đó là những dẫy đèn điện bao quanh hai hàng rào dây thép gai trại tù. Ðảo chỉ có Trại Tù, không có hàng quán chi cả, tiệm cà phê, tiệm hủ tíu, mì, chà cháo quẩy, pánh tiu, pánh pò lại càng không có. Trại Tù Binh Phú Quốc với những căn nhà mái tôn, những hàng rào dây thép gai,  giống y chang những Trại Tù Binh Chiến Tranh Triều Tiên tôi thấy trên màn ảnh xi-nê Sài Gòn.

Bốn trại Tù Binh trên khu đất đảo trồi ra biển gọi là Mũi Cây Dưà. Mỗi Trại 4.000 người tù. Bốn trại là 16.000 người Tù. Nội việc đem gạo, muối từ đất liền ra cho Tù ăn cũng đủ mệt không được nghỉ.

Năm 1953 tôi 20 tuổi, tôi mới có người yêu ở Sài Gòn, tôi ra đảo với tâm trạng của kẻ đi đầy, tôi chỉ muốn được đem thân về với những đường phố thân thương của Sài Gòn, nên tôi chẳng để ý đến cuộc sống và những người trên đảo. Nay nhớ lại: Ðại Tá Nguyễn Ngọc Lễ là vị  Quản Ðốc Trại Tù, Phó Quản Ðốc  là Ðại Úy Trương Vĩnh Ðắt – Ðắt, không phải Ðắc – gần như mọi việc đều do Ðại Úy Trương Vĩnh Ðắt làm. Những năm 1960 tôi nhớ Ðại Tá Trương Vĩnh Ðắt là Quản Ðốc Trung Tâm Cải Huấn của chính phủ Quốc Gia VNCH.

Quân đội Pháp để lại ở Cây Dưà một Nhà Messe – Nhà Ăn cho sĩ quan – một Trung sĩ tên Minh quản trị Nhà Messe này. Minh khoảng 30 tuổi. Nghe nói anh nguyên là Thượng Sĩ Nhất, can tội cùng đồng bạn dùng súng bắn nhau với một nhóm binh sĩ Quốc Gia khác ở Huế, nên anh bị cạt-sê ga-lông, xuống cấp Trung sĩ, đày ra đảo cho khuất mắt. Nhà Messe không có khách ăn. Tiểu đội Võ Trang Tuyên Truyền là khách của Messe. Chúng tôi ăn ba bữa ở Messe, tiền ăn tính  trừ lương sau. Messe còn nhiều thùng rượu Vang, Trung sĩ Minh sẵn sàng cho chúng tôi uống Vang nhưng cả bọn chúng tôi, tên nào cũng từ 20 đến 25 tuổi, không tên nào biết uống Vang, la ve cũng chưa uống, nói gì đến Vang.

Ngày thứ nhất đến Bộ Chỉ Huy trình diện, anh Trung sĩ Dương Trọng Hải gặp ngay Nàng Nữ Quân Nhân Liên Hương. Nàng mang cấp bậc Thượng Sĩ. Nàng có tên Ðầm là Elizabeth. Không chỉ tên Ðầm Suông, tên Elizabeth của nàng còn là tên Ðầm Ăng-lê. Nàng là gái Huế, nhưng giọng nói của Nàng như giọng gái Hà Nội, gái Sài Gòn. Nàng là người Nữ Quân Nhân duy nhất trên đảo Phú Quốc. Nàng trạc 26, 27 tuổi.

Tôi thấy Liên Hương đẹp, văn minh, tôi có cảm tình với Nàng nhưng tôi  không có ý muốn làm Tình với Nàng. Tôi théc méc về chuyện tại sao Nàng bị phái ra làm việc ở cái Ðảo Trại Tù Binh này. Việc giữ Tù không cần đến nữ nhân viên. Liên Hương phải có nhà riêng, cầu tiêu, nhà tắm riêng, bếp nấu ăn riêng, người hầu Nàng phải là đàn bà. Tôi théc méc nhưng tôi không thể hỏi Liên Hương:

“Tại sao Liên Hương bị đưa ra đây? Liên Hương làm gì mà bị đưa ra đây?”

Trung sĩ Minh Nhà Messe – người Trung – nói “dường như” Liên Hương làm việc ở đâu là mấy ông sĩ quan ở đấy ghen nhau vì Nàng. Các ông tranh nhau chiếm Trái Tim và Tấm Thân Ngà Ngọc của Nàng. Có nơi Nàng bị bà vợ ông sĩ quan kết tội Nàng quyến rũ, Nàng mê hoặc ông chồng bà. Vì vậy Nàng bị đày ra đảo xa cho rảnh chuyện Tình Ghen rắc rối tơ. Lý do Nữ Thượng Sĩ Liên Hương bị đày ra đảo làm tôi bất mãn. Tôi nghĩ việc mấy ông sĩ quan mê Nàng đâu phải lỗi ở Nàng. Phải đưa mấy ông sĩ quan này đi chạy điện cho mấy ông liệt dương, hay đưa mấy ông đi thiến, tại sao lại đổ lỗi cho Nàng??

Liên Hương và tôi cùng nhớ Sài Gòn, cùng mong được về Sài Gòn. Nàng và tôi nói chuyện với nhau về những phim xi-nê chúng tôi đã xem, những đường phố Sài Gòn chúng tôi nhớ. Nhưng Nàng có ý tránh việc chúng tôi gặp nhau nhiều, tôi cũng giữ tiếng cho Nàng. Trong sáu tháng tôi ở đảo, Liên Hương mời tôi ăn cơm ở nhà Nàng hai lần, tôi mời Nàng đến Messe ăn hai lần.

Bộ Chỉ Huy Trại Tù Binh có một ông Trung Úy Sĩ Quan Tác Ðộng Tinh Thần. Tôi có ác cảm với ông Trung Úy này. Năm 1953 tôi hai mươi tuổi, tôi có những ngang bướng sằng và những tự ái con trai mới lớn. Là sĩ quan Tác Ðộng Tinh Thần mà Ðại Úy Phó Chỉ Huy cần một thông cáo rất thường ông Trung Úy cũng phải nhờ tôi viết. Vì ông dốt, tôi coi thường ông.

Hôm ấy Ðại Úy Trương Vĩnh Ðắt  mở cuộc Tập Báo Ðộng. Ông Trung úy đem bản đồ hành quân đến chỉ cho tôi chỗ tôi phải đưa tiểu đội tôi đến trấn điểm. Ðến giờ tôi nằm nhà, viện cớ tiểu đội tôi là Lính Bộ Tổng Tham Mưu, chúng tôi không có trách nhiệm giữ an ninh trên đảo. Ðại Úy Trương Vĩnh Ðắt đi duyệt tuyến phòng thủ. Tôi bị báo cáo không tuân lệnh.

Tôi bị phạt 7 ngày trọng cấm. Là hạ sĩ quan, tôi được nằm ở trạm gác. Nhưng để tôi nằm ghế bố ở trạm gác Bộ Chỉ Huy – ở ngay trước dẫy nhà tiểu đội tôi ở – thì chướng quá, tôi bị đưa đến nằm ở trạm gác của Ðại Ðội Vệ Binh nơi đầu núi.

Ông Thiếu Úy Ðại Ðội Phó trại quân này tiếp nhận tôi, ông vồn vã nói:

“Trung sĩ không cần người mang cơm trưa, tôi mời trung sĩ ăn hai bữa luôn ở nhà tôi.”

Tôi phây phây dặn anh Lính theo tôi đến đây:

“Hôm nay khỏi mang cơm cho tao.”

Trưa hôm ấy không thấy ông Thiếu Úy đến đón về nhà ông ăn cơm. Tôi chẳng biết nhà ông ở đâu trong trại. Tôi không biết tên ông.  Hỏi thăm mấy anh lính đi qua – Trại có Trạm Canh nhưng không có lính gác – tôi được trả lời lơ mơ rằng ông Thiếu Úy đi đánh xóc đĩa hay đi ăn nhậu ở đâu đó trong Trại.

Trưa hôm ấy tôi nhịn đói, tôi không có cả hớp nước để uống, tôi không biết làm cách nào báo về cho anh em tôi mang cơm chiều đến cho tôi. Lúc ấy khoảng 4 giờ chiều, nắng vàng chan hòa trên đảo, gió biển thổi manh qua đảo, tôi ngồi buồn trong trạm gác vắng tanh nhìn ra con đường vắng ngắt chạy bên hàng rào trại tù. Bỗng tôi nhìn thấy một người trên xe đạp từ xa đến.

Ai thế? Một người phụ nữ. Nàng đến gần. Nàng vào trại, Nàng nhìn tôi Nàng cười, ánh mắt Nàng long lanh, hàm răng Nàng trắng, má môi Nàng hồng.

Nàng là Liên Hương – Elizabeth Liên Hương – Nàng bận đồ xi-vin: sơ-mi trắng dài tay, quần Tây nâu gụ, đi giép quai chéo nhung đen. Nàng dựng xe đạp, gỡ cái giỏ mắc ở xe đem vào trạm.

Tôi đi ra đón Nàng:

“Sao Liên Hương biết hôm nay tôi bị bỏ đói mà mang cơm đến cho tôi?”

Thời gian qua như trong mơ. Tôi không cả cám ơn Nàng. Tôi nhìn theo Nàng trên xe đạp khuất dần nẻo xa. Rồi trong nắng chiều tôi thấy cũng trên con đường ấy có chiếc xe Jeep chạy tới. Xe vào sân trại. Người ngồi trên xe là Ðại Úy Trương Vĩnh Ðắt. Ông lái xe. Ông vẫy gọi tôi ra. Tôi đứng bên xe nghe ông nói. Ông khuyên tôi ở trong quân đội phải tuân lệnh cấp trên, lính ba gai chỉ chuốc lấy khốn nạn vào thân. Tôi vâng dạ. Cuối cùng ông nói:

“Tha cho. Sáng mai cho xe lên đón về.”

Xe ông về chưa khuất trên đường tôi đã lên đường về Bộ Chỉ Huy, tôi đi bộ. Trăng lên khi tôi về đến nhà tiểu đội tôi ở. Tôi vào nhà, mấy chú lính đang nướng khô mực ngạc nhiên. Tôi nói:

“Ðại Úy cho tao về.”

Sáu tháng tôi bị đầy trên đảo trôi qua – nặng trôi nhưng rồi cũng trôi qua – Tết gần đến, tiểu đội  tôi được lệnh về Sài Gòn. Cùng trên chuyến tầu về Rạch Giá đêm ấy có Liên Hương.

Nữ Quân Nhân Elizabeth Liên Hương về Sài Gòn ăn Tết. Về theo Nàng có hai ông sĩ quan yêu Nàng, một ông Ðại Úy, ông thứ hai Trung Úy. Ông Ðại Úy đã có vợ, ông Trung Úy chưa vợ. Hai ông ganh nhau. Liên Hương về Sài Gòn, hai ông bon chen về Sài Gòn theo Nàng.

Tầu chạy suốt đêm, sáng sớm chúng tôi lên bến sông trước Toà Tỉnh Trưởng Rạch Giá. Quân xa chờ sẵn ở bến. Tiểu đội tôi lên xe Dodge 4. Liên Hương, ông Ðại Úy, ông Trung Úy, lên xe Jeep. Ông Ðại Úy cầm lái, Liên Hương ngồi ghế trên, ông Trung Úy ngồi ghế sau với tài xế. Không hẹn nhau hai xe chúng tôi cùng đến một tiệm Tầu ở chợ Rạch Giá ăn sáng, bánh bao, síu mại, cà phê. Trên đường về Sài Gòn, xe Dodge chạy trước, xe Jeep chạy sau. Hình ảnh Liên Hương sáng hôm ấy – qua một đêm mất ngủ trên ghe máy, Nàng tươi như hoa buổi sớm – Nàng trong quân phục áo kaki trắng, cộc tay, hai túi ngực, váy trắng, giầy trắng, vớ trắng – là hình ảnh tôi nhớ mãi về Nàng.

Tết ra, Phát, một đội viên trong tiểu đội ra Phú Quốc với tôi – Phát có cô em là Nữ Quân Nhân, Phát có biết Liên Hương ở Ðảo – cho tôi biết:

“Liên Hương chết rồi.”

Phát kể nghỉ Tết xong, Liên Hương trở ra đảo, ông Ðại úy, ông Trung Úy trở ra đảo với Nàng. Họ đi chơi Châu Ðốc. Xe Jeep trúng mìn. Ba người trên xe cùng chết.

Elizabeth Liên Hương là Người Nữ Quân Nhân Ðẹp Nhất đời tôi. Qua năm tháng – 60 Năm – Năm nay, 2012, Nàng 25, 26 tuổi, Nàng đẹp hơn Nàng năm 1953 khi Nàng sống ở Ðảo Phú Quốc.

Quí vị nào có ảnh của Elizabeth Liên Hương xin cho tôi, tôi cám ơn.

Advertisements

5 Responses

  1. Elizabeth Liên Hương là Người Nữ Quân Nhân Ðẹp Nhất đời tôi”

    Các Bác trên diễn đàn này đa số đều uống mật gấu thì phải . Cháu ra đường không dám liếc ngang nhìn dọc nữa chứ đừng nói là khen cô nào đẹp nhất đời mình. Có lẽ bị ảnh hưởng ” Lady first ” ở Hoa Kỳ chăng???

  2. Bác kể chi tiết tỉ mỉ về cô LH,những người ở tù thì không thể thấy được cô.Những người thấy cô hàng ngày thì đã chết 2,bác thì ở bên Mỹ cũng gần 80 ,mà bác kể lúc đó bác nhỏ tuổi nhất .Làm sao mà có được hình của cô LH.

  3. Kể cũng lạ, muốn thanh minh lúc sống không nói, giờ người ta chết rồi Bác lại lôi sách người ta viết ra đính chính. Ý Bác có phải là D.A. nói dối để bốc thơm mình lên hay thêm mắm muối cho ra vẻ Bác là người quan trong?

    • Nếu Bác CTHĐ muốn nói dối để bốc thêm mình lên thì việc gì CT phải viết lại cho rõ ràng??? CT chỉ cần “nổ” thêm nữa , bà con ai biết đó là đâu , nhưng CT không thèm làm như vậy. Bốc thơm hay ra vẻ mình là người quan trọng không phải là tư cách của CT. Bichau lee nói ngược rồi.

  4. Nguyên do là có độc giả comment bài viết của Duyên Anh vào mục Ý Kiến Ý Cò bạn Bichau Lee ạ. Mình cũng chưa đọc Nhà Tù bao giờ cho nên không biết là có đoạn như thế.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: