• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mật Thám Tây

Ông Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân.

Mật thám. Danh từ Hán Việt du nhập ngôn ngữ ta từ  năm 1900, khi Thực dân Pháp đặt chế độ thống trị và luật pháp của họ trên đất nước ta. Thời ấy ta còn một tên nữa để gọi những kẻ chuyên việc điều tra, bắt người: nhân viên Liêm Phóng, Sở Liêm Phóng. Tôi không hiểu Liêm Phóng nghĩa là gì, tôi không biết danh từ Liêm Phóng ở đâu ra, nhưng tôi thấy gọi những người hành nghề công an, cảnh sát bằng cái tên “mật thám” là không đúng, những nhân viên công an, cảnh sát ấy hành nghề công khai, việc họ làm không có gì là « mật. »  Dường như chỉ ở miền Bắc mới có tiếng « mật thám, » người miền Nam không dùng tiếng ấy.

Từ sau năm 1945 danh từ “mật thám” mất đi, đồng bào miền Nam còn dùng tiếng “lính kín”, tên nôm của “mật thám” cho đến năm 1954 mới bỏ hẳn. Sau năm 1954 nhân dân Quốc Gia VNCH  ta dùng những danh từ công an, cảnh sát.

Liêu lạc bi tiền sự..Trên những trang Kiến Văn Tiểu Lục của Qùuế Ðường Lê Quý Ðôn tôi gặp chuyện nhà quân tử Tầu Trần Tuấn Khanh — Thừa Tướng đời Tống — làm bài thơ để lại cho các con:

Hứng lai văn tự tam bôi tửu,
Lão khứ sinh nhai sổ quyển thư.
Dĩ nhĩ tử tôn thanh bạch phúc,
Bất tu hạ ốc đại cừ cừ.

Hứng đến vui với văn thơ, uống chơi ba chén rượu,
Về già chỉ sống với mấy quyển sách.
Ta để lại cho các con phúc đức trong sạch,
Mà không muốn để nhà cao, cửa rộng cho các con.

Ông bà Phan Khôi.

Chưa già, không bệnh hoạn, an nhàn, không có gì phải lo, cô đơn ở xứ người, tôi cũng sống với mấy quyển sách. Tôi đọc và viết. Viết, với tôi là hạnh phúc. Ðọc, với tôi cũng là một hạnh phúc. Ðọc chuyện gì hay, tôi trích đăng lại để các bạn cùng đọc, đôi chuyện có lời bình loạn hay phụ đề Việt ngữ của tôi. Những lời bình loạn vô thưởng vô phạt. Tôi hơn người xưa ở việc ngoài sách in, tôi có computer, tôi có Internet. Hôm nay tôi, người viết buồn ở Kỳ Hoa Ðất Trích, mời bạn đọc vài chuyện Mật Thám Tây ở nước ta ngày xưa, chuyện Công An Việt Cộng ở nước ta ngày nay.

Trong số những ông Tù Chính Trị của ta trước 1945 có hai ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Hùm để lại cho ta hai tác phẩm hồi ký Ngục Tù, tác phẩm của ông Huỳnh Thúc Kháng là “Thi Tù Tùng Thọai”, tác phẩm của ông Phan Văn Hùm là “Ngồi Tù Khám Lớn”. Ông Phan Khôi bị Mật Thám Pháp bắt giam ở Nhà Pha Hội An năm 1908 cùng một năm với ông Huỳnh Thúc Kháng. Hai ông, cùng nhiều nhân sĩ yêu nước nổi tiếng của ta, như các ông Tập Xuyên Ngô Ðức Kế, Tiểu La Nguyễn Triết Phu, Thai Sơn Ðặng Nguyên Cẩn, cùng ở một phòng tù tập thể trong nhà tù Hội An. Sau đó ông Huỳnh Thúc Kháng và nhiều ông khác bị đưa ra Côn Ðảo, các ông tù ở Côn Ðảo đến hơn mười năm mới được trở về nguyên quán, ông Phan Khôi bị tù ở Hội An ba năm và được thả. Ông Phan Khôi không viết gì về những năm tù đày của ông. Vì là dân Quảng Nam, ông Huỳnh Thúc Kháng và ông Phan Khôi cùng có liên hệ với viên Mật Thám Tây Sogny. Viết cho đúng: viên chức an ninh Pháp Sogny để ý, làm quen, vào tù hỏi chuyện các ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi. Bà Phan Thị Mỹ Khanh, con của ông Phan Khôi, viết về ông Phan Khôi và hai anh Mật Thám Tây Sogny và Reynaud như sau:

Nhớ Cha Tôi. Phan Thị Mỹ Khanh. Tác phẩm : Nhà Văn Qua Hồi Ức Người Thân. Nhà Xuất Bản Văn Hoá-Thông Tin Bắc Việt Cộng ấn hành năm 2001.

Sống dưới thời bị Pháp thống trị, cha tôi cũng như mọi người thường dân khác thường xuyên bị chúng uy hiếp, gây khó dễ đủ điều. Nhưng ông có tính tự trọng và khẳng khái trước quyền lực. Mỗi lần gặp phải tình huống ấy, bao giờ ông cũng bình tĩnh đối phó, không khúm núm, sợ sệt để chúng coi thường.

Năm ông làm chủ bút báo Tràng An, nhân bạn đọc gửi thư phản ánh việc bọn cường hào ở huyện Hương Thủy bắt vạ một phụ nữ về tội gì đó, bị chị nầy phản kháng. Chúng ép cung chị không được, bèn sai tay chân bắt đỉa bỏ vào mắt, mũi, tai chị, gây thương tích nghiêm trọng, tính mạng chị bị đe dọa. Cha tôi liền phái phóng viên đi điều tra, lấy đủ bằng chứng rồi viết bài tố cáo trên báo Tràng An. Báo ra được một ngày thì Sogny, Chánh Mật Thám Trung kỳ, đưa giấy đòi cha tôi đến trình diện. Ông đến đúng giờ, vào phòng làm việc, ngồi đối diện với Sogny. Hắn không thèm chào hỏi, lớn tiếng qưở trách đủ điều về nội dung tờ báo. Cha tôi bình tĩnh nói:

«  Sự việc này có thật và rất dã man, lẽ ra Nhà nước Bảo hộ các ông phải trừng trị bọn cường hào, sao ông lại đi trách tôi?” Sogny hét lên:

 “Ông làm báo già đời mà không hiểu à, có việc báo được viết, được đăng, nhưng có việc không được chõ mũi vào, tôi sẽ ra lệnh kiểm duyệt thẳng tay, hãy coi chừng!”

  Cha tôi trả lời nhẹ nhàng:

 “Viết bài đăng báo là việc của tôi, tôi được Nhà nước cấp giấy phép, còn kiểm duyệt là quyền các ông, báo tôi bị kiểm duyệt càng bán chạy”.

Sogny tức lắm, tái mặt nhưng rồi không biết nghĩ thế nào, hắn buông một câu lơ lửng:

 “Phan Khôi hay cãi, người ta nói vậy quả không sai! Thôi, ông về đi. Lần này tôi cảnh cáo ông đó, nếu còn lập lại thì..” Trong số báo hôm sau cha tôi cho đăng phần tiếp theo của bài báo mà không bị kiểm duyệt đoạn nào. Tuy vậy như thế không phải mật thám chịu bỏ qua, chúng bóp chết tờ Tràng An bằng cách rút giấy phép nhập khẩu giấy in báo, để rồi một tháng sau, vì hết giấy, báo Tràng An phải tự đóng cửa, không kêu ca vào đâu được.

Vào khoảng năm 1942, lúc đó cha tôi đã gác bút về quê nhà nghỉ ngơi. Anh Thao tôi vào Sài Gòn viết cho tờ Dân Báo, tham gia phong trào Thanh Niên Dân Chủ, sau khi bị mật thám buộc thôi dạy học ở trường Viên Minh Hội An. Anh Cừ tôi thỉnh thoảng ra Ðànẵng, lui tới hiệu sách Việt Quảng là một địa điểm liên lạc công khai hợp pháp của tổ chức Ðảng. Vì vậy, các anh ấy cũng bị mật thám theo dõi, ghi tên vào sổ đen, không biết chúng sẽ đụng đến lúc nào.

Một hôm, cha tôi bị cảm, nằm lê mê ở nhà trên. Cả nhà đi vắng, chỉ có anh Cừ tôi ngồi trông chừng ấm thuốc đang sắc trên bếp. Bất ngờ, có tiếng giầy từ nhà ngang bước vào, anh quay lại thì thấy Chánh Mật thám Quảng Nam Raynaud đứng sừng sững trước mặt. Nó muốn gặp cha tôi. Anh tôi cho biết ông đang bệnh, nằm ở nhà trên. Nhìn theo tay anh tôi chỉ, nó thắc mắc:

“Sao tối um vậy?”

 Anh tôi đáp:

 “Vì sợ gió độc nên mọi rèm cửa đều đóng kín, ông chờ một lát, tôi thắp đèn và đánh thức cụ dậy.”

 Nói rồi anh tôi đến lay nhẹ cha tôi, nói nhỏ:

 “Thầy ơi, có Chánh Mật thám Reynaud tới, thầy cố ngồi dậy một tí!”

Cha tôi nhíu mày, quắc mắt nhìn anh tôi ra ý khiển trách và nói: “Việc đếch gì phải ngồi lên, ông ốm, cứ nằm, hãy đưa ông ấy lên đây!”

 Reynaud đến đứng cạnh giường, đảo mắt quan sát chung quanh. Cha tôi vẫn đắp chăn nằm dài, nói:

“Xin chào ông, ông cần gì đến tôi thì để khi khác, tôi đang mệt.” Reynaud đứng ngần ngừ một phút, rồi không biết nghĩ sao, hắn nói:

“Không, không có chuyện gì, tôi đi kinh lý qua đây, ghé thăm ông thôi. Chào ông, tôi đi đây, chúc ông mau mạnh.”

 Rồi hắn bước ngay ra sân, đi thẳng.

Ở thời đó, mật thám mà đột ngột vào nhà là khó lường được việc gì sẽ xẩy ra, ai ở vào trường hợp ấy cũng lo lắng. Thế nhưng đối với cha tôi, ông vẫn thản nhiên, coi như không, cứ mặc kệ, cũng chẳng cần phải có sự đón tiếp để lấy lòng. Ông còn “đuổi khéo” hắn bằng lời nói nhẹ nhàng, ngắn gọn mà hắn không thể trách cứ được.

Mấy ngày sau, hết ốm, ông nhắc lại chuyện mật thám đến nhà và nói với chúng tôi:

 “Mình coi thường thì hắn chịu phép, mình tỏ ra sợ sệt, nó sẽ bắt nạt, cái giống Mật thám Tây nó vậy đó.”

Và ông quay sang bảo anh Cừø tôi:

“Con coi anh Thao con để mấy quyển sách báo Cộng sản đâu, thì lấy xếp vào ngăn sách báo của thầy, lỡ nó có hỏi đến thì thầy nhận là của thầy, vì thầy là nhà báo, có quyền dùng các loại sách để nghiên cứu.”

 Ngưng trích.

Ở thời đó, thời dân ta bị người Pháp đô hộ, năm 1942, “mật thám Tây mà đột ngột vào nhà là khó lường được chuyện gì xẩy ra..” Ðó là chuyện thời Tây làm chủ đất nước này, thời Việt Cộng nắm quyền, công an VC vào nhà ai là mọi người biết ngay nhà ấy có người bị bắt. “Mình coi thường thì nó chịu phép, mình sợ nó bắt nạt, cái giống mật thám Tây nó vậy đó..” Ðó là lời ông Phan Khôi, một công dân Việt thời bị Pháp cai trị, người cựu tù nhân chính trị đã bị Pháp bỏ tù ba năm, nói về bọn mật thám Tây, những kẻ có thể bắt giam ông, đày đọa ông. Rất tiếc ông đã không thể nói như thế về bọn công an Việt Cộng.

Ðây là lời ông Huỳnh Thúc Kháng kể về Mật Thám Tây Sogny:

THI TÙ TÙNG THOẠI. Hồi ký của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng. Ðăng trên Nhật báo Tiếng Dân năm 1938 ở Huế, xuất bản lần thứ nhất năm 1939. Bản được dùng để trích ở đây là bản do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Thông Tin Việt Cộng tái bản Tháng 8 năm 2000.

Trang 21. Trích:

Ðồng thời tôi ở ngục Faifo, có Quan Một coi ngục M. Sogny(1) thường ra vào, sau thành người quen. Người Pháp biết tôi thì Sogny là người đầu tiên vậy.

Cước chú 1: M. Sogny: những năm 1917 về sau, Sogny là Chánh Mật Thám Trung Kì và cũng là Trưởng Ty Kiểm Duyệt báo chí Trung Kì. Sogny là người rất giỏi chữ Hán, tiếng Việt và cũng là người am tường các nhà yêu nước Việt Nam.

THI TÙ TÙNG THOẠI. Sách đã dẫn. Trang 332. Trích:

Ở Hàn một đêm, sáng ngày, lính cảnh sát dẫn lên xe lửa ra Huế, vào phòng quan Liêm Phóng, vừa bước lên thang lầu thì thấy quan đầu tòa Liêm Phóng đã đứng sẵn ở đó. Quan đầu tòa này là ông Sogny, lúc giam tôi ở Faifo, thì ông là quan Một, thường ra vào nhà giam, có biết tôi, nên vừa nhìn thấy chúng tôi bốn người vào, ông vừøa nhìn tôi vừanói :

 “Ông bạn già 1908!”

Ngồi yên, ông nói:

«  Lần ân xá này, Nam triều viện theo lệ mới, lấy năm được giảm làm đầu thì năm năm nữa các ông mới được về. Nhưng Quan Khâm sứ không theo lệ mới, nên các ông được về sớm.(…) »

Bọn chúng tôi về, ngày đi tàu, đi xe, đều do quan tòa Tây, quan Nam chỉ biết bọn tù Côn Lôn có mấy người được tha về mà không rõ về ngày nào. Vì thế phủ, huyện, tổng, lý và người nhà đều không biết. Tôi từ Tòa, Tỉnh về đến huyện Thiên Phước (lúc tôi đi chưa có huyện này, sau mới đặt), vào huyện rồi về nhà, người trong nhà ngạc nhiên như thấy tôi trong chiêm bao. Trong chốc lát, bà con làng xóm nghe tin tôi về, chạy tới nườm nượp

Ngưng trích.

Chuyện kể cho ta thấy sự đốn mạt của triều đình Huế và bọn quan lại An Nam thời ông Hùynh Thúc Kháng bị Tây bắt. Không phải đến thời ông Huỳnh Thúc Kháng triều đình Huế và bọn quan lại An Nam mới đốn mạt, cái triều đình bù nhìn ấy, cái bọn quan lại đầy tớ Pháp ấy, đã đốn mạt từ lâu. Qua lời kể của ông Huỳnh ta thấy sự chằng chéo lằng nhằng của cái gọi là pháp luật ở nước ta thời thuộc Pháp. Có những người ái quốc bị Pháp bắt, nhiều người yêu nước chống Pháp khác bị quan lại An Nam bắt. Trong trường hợp ông Huỳnh ta thấy ông bị Pháp bắt, giao cho quan lại A Nam, ông Huỳnh và nhiều ông khác không bị đưa ra tòa xử, các ông bị đưa ra Côn Ðảo mà không biết mình bị tội gì, án tù của mình bao nhiêu năm.

Theo tôi – CTHÐ – bọn quan cai trị Pháp ra lệnh đưa nhóm ông Huỳnh Thúc Kháng ra tù ở Côn Ðảo, bọn quan Pháp ra lệnh thả các ông. Bọn Quan Pháp không đưa nhóm ông Huỳnh Thúc Kháng ra toà xử.

Khi được bọn quan cai trị Pháp cho lệnh thả về, bọn quan lại An Nam còn ác độc hơn bọn quan cai trị Pháp ở điểm muốn thi hành án 13 năm kể từ ngày ra lệnh giảm án thay vì kể từ ngày bị bắt tù. Nhờ bọn quan chức Pháp như Sogny nhóm tù nhân Côn Ðảo Huỳnh Thúc Kháng mới được trở về đất liền năm 1921. Nếu cứ để cho bọn quan lại An Nam thi hành án theo ý họ, áp dụng án tù 13 năm kể từ năm 1921 thì đến năm 1934 nhóm ông Huỳnh mới được rời khỏi Côn Ðảo. Hoặc như lời nói của Trưởng Ty Mật Thám Sogny ông Huỳnh kể lại, thì 5 năm nữa, đến năm 1926 nhóm ông Huỳnh mới được ra khỏi tù. Ông Huỳnh kể lại chuyện án tích của ông:

Thi Tù Tùng Thọai. Sách đã dẫn. Trang 27,28. Trích:

Lúc ấy bị đày đi Côn Lôn tôi cùng mấy ông Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện, Lê Bá Trinh, Dương Thạc, Trương Bá Huy hương chức Phúc Yên, Nguyễn Cảnh, Hà Lam, Nguyễn Quần, cộng 8 người. Án kết như dưới (người sao lén cho xem):

Bọn Huỳnh, Phan…vẫn người trong khoa mục danh sắc, há không biết người bội quốc (Phan Bội Châu) là không nên theo sao? Nay Nguyễn Thành thấy y tới nhà, bèn mời Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cùng nhau mật nghị. Kế đó nghe y xuất dương, Phan Thúc Duyện, Lê Bá Trinh lại kết lập thương hội để ngấm ngầm tư trợ. Tuy ở trong thư từ qua lại bí mật không biết được (?) mà bằng theo công việc đã làm, bảo rằng không có dị chí, có thể tin được sao?

“Nay theo lời khai của ngụy tác Hạ và bài thi có câu “xóa mạ lao lung”, gởi thư có câu :”cường quyền diện tự” mà diễn thuyết ở những trường học, cũng có câu “lấy yêu đồng bào làm tôn chỉ”, tuy trong vẫn có mấy đại đoạn “khai trí trị sanh, tỉnh xa sùng kiện” mà cốt lấy 2 chữ “dân quyền làm chủ nghĩa”, mở mối bội vong cho nhân dân. Bằng theo công việc đã làm, thực sự Phan Châu Trinh, xướng ra mà những người kia phụ theo vậy.

“Hiện hạt dân gây ra phiến động, chưa chắc không phải do cái thuyết “dân quyền” làm mồi mà kích vậy. Vậy nên xét theo lúc bình nhật, tham cùng chúng luận, xét nghĩ phân minh cho được thỏa đáng.

“Vả chăng, can về vụ ấy, xướng đầu chẳng qua một vài người, còn thì có kẻ biết mà không thú, có kẻ không biết mà theo càn. Một mai túm cả vào trong lưới tội, nhà nước có chỗ bất nhẫn. Vậy chiếu theo điều “mưu bạn vị hành”, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, xin kết án đồng với Phan Chu Trinh “xử tử đày Côn Lôn gặp xá chẳng tha”, còn bọn Nguyễn Thành mấy người, trượng một trăm, lưu ba ngàn dặm, cải hạn khổ sai 9 năm..”

Cái án văn trên, rành là lối văn sách trường ốc như văn khoa cử.

Lúc ra ngoài đảo, quan Tây hỏi chúng tôi can án gì, chúng tôi thưa: “Không nghe tuyên án..!” cả mấy  người Tây đều cười rộ và tỏ ý ngạc nhiên.

Ngưng trích.

Danh từ “ngụy tác Hạ” trong bản văn trên là tên gọi một người nguyên ở trong nhóm ông Huỳnh Thúc Kháng nhưng ra đầu thú, khai báo mọi chuyện về ông Huỳnh với mật thám Pháp. Anh cà chớn này được gọi bằng cái tên “ngụy tác”, Hạ là tên anh. Chỉ do lời khai của tên Hạ mà nhóm ông Huỳnh bị Pháp bắt.

Thành ngữ “Xóa mạ lao lung” để chỉ tình cảnh của dân tộc bị làm nô lệ lấy trong Thơ Phan Chu Trinh: “Trường thử bách niên cam thóa mạ. Cánh tri hà nhật xuất lao lung: Trăm năm cứ chịu để cho người chửi mắng. Biết ngày nào ra khỏi lồng tù..!”

Mưu bạn vị hành“: định làm phản nhưng chưa làm. “Bọn Nguyễn Thành mấy người, trượng một trăm, lưu ba ngàn dặm..” Pháp luật Nhà Nguyễn đến năm 1909 vẫn còn dùng nhục hình, vẫn xử phạt đánh người? Ðến năm nào luật này mới được bỏ? Án đánh 100 trượng nhưng có thi hành không ? Không có tài liệu nào ghi về chuyện ấy. Trong văn học sử ta đã thấy Cao Bá Quát bị tòa án quân chủ phạt tội đánh đòn, sau trận đòn ông làm bài thơ Roi Song. Vụ Cao Bá Quát xẩy ra khoảng năm 1830, đến năm 1909 ta lại gặp vụ nhóm ông Nguyễn Thành bị án đánh mỗi người 100 gậy.

Nguyễn Mạnh Tường nổi tiếng giỏi Pháp văn, du học ở Pháp về nước năm 1932, năm 1945 theo Việt Minh, đi kháng chiến, năm 1957 ở Hà Nội, lên tiếng nói về những sai lầm, những tàn bạo của cuộc cải cách ruộng đất. Lập tức ông Tường bị Ðảng cô lập, coi là kẻ thù, bỏ đói. Dưới đây là chính lời ông Nguyễn Mạnh Tường kể:

NHỚ NƠI KỲ NGỘ. Hồi ký của Lãng Nhân. Nhà ZIELEKS xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1997. Trang 217, 218, 219. Trích:

Năm 1991, nghe nói anh (Nguyễn Mạnh Tường) có viết cuốn hồi ký “Un excommunié” (Kẻ bị khai trừ) tôi chưa được xem nguyên văn, nhưng cũng biết đại cương qua mấy đoạn lược dịch mà tôi chép lại dưới đây:

…Theo lời của Ðảng, tôi (Nguyễn Mạnh Tường) đạp xe đến trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc. Ở đây, tôi đã nói gần trọn một ngày, ba giờ buổi sáng, chiều lại ba giờ nữa, tóm lại như sau: Cuộc cải cách ruộng đất để gây chết chóc cho cả chục ngàn người vô tội. Hàng nghìn vợ góa, con côi, đeo khăn tang từ khắp hang cùng, ngõ hẻm đến văn phòng luật sư của tôi, nhờ tìm cách phục hồi danh dự cho những nạn nhân đã chết oan uổng, và để hỏi trách nhiệm của Ðảng, của những kẻ phạm tội. Tôi hết sức tiếc nuối mà nói với họ rằng: điều này vượt quá sức tôi, vì đây là vấn đề chính trị, không thuộc lãnh vực luật pháp và những quyền tài phán thường lệ. Tuy nhiên, nỗi chấn động trong tôi đã khiến tôi phải nói, và mọi người cũng đồng tình rằng: phải ngăn cản những thảm họa như thế, không cho xảy tiếp trong tương lai. Vả chăng chính chính quyền cũng đã tỏ lời hối lỗi…(…)

Tôi bị cách chức ngay. Không còn được giữ sổ lương thực, phải tìm mọi cách tiết kiệm. Trước hết là bỏ bữa ăn sáng. Rồi cá, thịt biến dần trong bữa trưa và tối. Cơm và rau giảm bớt mỗi ngày, mấy ngày sau phải yên lòng với một bát cháo…

Từ bẩy năm nay, con gái tôi dậy Toán cách Hà nội 40 cây số. Sức không kham nổi, từ chức để thi vào Cao Ðẳng Sư Phạm: học 5 năm, đậu cao, xin dậy trường Chu văn An. Một cô bạn cùng nộp đơn, ban giám khảo cho con tôi trúng tuyển. Nhưng cô bạn được thu nhận, vì là con một đảng viên! Con tôi phải học nghề gốm ở một hợp tác xã. Khi được lĩnh phụ cấp học nghề lại bị trừ vào tiền học phí! Tôi tính mở lớp dậy Pháp văn tại nhà, thì ngay hôm đầu, một bọn công an kéo đến.

Anh thủ trưởng mập lù không đợi mời đã  ngồi ngay trên ghế, gằn từng tiếng:

— Ông có biết vì lẽ gì tôi đến đây không?

Tôi lắc đầu.

Hắn nói tiếp:

— Ông giả vờ khờ khạo hả? Ông là thằng trí thức thối nát, nuôi đầy ý thức hệ phản động. Này, đầu tường các cơ sở, các công văn, không thấy khẩu hiệu Nhà nước à? Ðộc lập, tự do, hạnh phúc. Thử hỏi độc lập cho ai? Tự do cho ai? Nếu không là cho nhân dân? Nếu không tin Ðảng, tin Chủ Tịch muôn vàn kính yêu, thì tin vào ai bây giờ chứ?

Rồi hắn đưa ngón tay út ra hiệu. Một viên công an bước đến, rút ở túi đeo một bình thủy nhỏ, rót trà ra chén, rồi đưa vào tay chủ chiếc điếu cày. Tên này nhấp ngụm trà, tên hầu nhồi thuốc vào nõ điếu, mồi đóm trên chiếc bật lửa, tên chủ hít một hơi dài nhả khói từng vòng, mắt lim dim, môi dưới trễ ra, trịnh trọng đưa ra lời phán quyết:

— Ông đã chẳng tiếp thu được gì cả! Ðã phạm lỗi lầm trầm trọng. Nhưng Ðảng khoan hồng..Ðể cảm ơn lòng đại lượng của Ðảng, lẽ ra ông phải yên lặng để suy ngẫm tội của mình. Trái lại, ông mở lớp dậy tiếng Tây, tìm cách liên hệ thanh niên, nhằm kéo chúng ra khỏi Ðảng. Vì vậy mà mọi lớp dậy học tư từ nay bị cấm tiệt. Biết chưa?

Thế này thì làm gì được bây giờ đây? Tôi không thể đạp xích lô: tuổi hết còn làm nổi. Ngồi vỉa hè sửa xe đạp như nhiều sĩ quan cao cấp khi về hưu ư? Kiến thức tôi có lại không giúp cho tôi khả năng nào trước một chiếc xe đạp hỏng. Có bạn cho một con chó, nhưng rồi nó già đi, chúng tôi lại không bổ dưỡng được nó, đến một hôm nó không dậy được nữa, cả nhà khóc khi thấy nó khò khè trút hơi thở cuối cùng.

Loài vật trong nhà chỉ còn con gà mái, may lại mắn đẻ lạ thường, mỗi ngày cho một quả trứng. Chúng tôi thay phiên nhau ăn, mỗi người đợïi tới lượt mình. Không có gạo hay ngô nuôi nó, mỗi ngày chờ vãn chợ chiều, tôi vờ đi dạo, nhặt ít rau rơi vãi về giúp cho nó cầm hơi.

Cứ thế đấy: Bản án dành cho tôi là cơn đói gần như kinh niên. Mệt mỏi lan khắp cơ thể. Tôi thấy như chìm trong hôn mê. Hễ cố gắng đứng lên, thì lảo đảo vài bước rồi rơi thịch xuống giường, bụng thắt bóp hay dãn nở theo từng cơn thở, xen kẽ giữa căng thẳng và nghỉ ngơi, trước khi nhận chìm dưới tình trạng vô thức.

Tôi học nghề đói như thế đấy…

Ngưng trích.

Tôi không nói bọn Mật thám Tây là những người tốt, tôi chỉ muốn so sánh chính sách đối xử với những người tù chính trị phạm của Pháp và của Việt Cộng, so sánh tác phong, thái độ của vài anh mật thám Tây với bọn công an Việt Cộng. Hai ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi bị Pháp bỏ tù nhưng khi hai ông ra khỏi tù Pháp để cho hai ông được gần như hoàn toàn tự do sinh sống, hai ông cùng viết văn, làm báo, ông Huỳnh Thúc Kháng làm chủ nhiệm nhật báo Tiếng Dân ở Huế, làm Viện Trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ, ông Phan Khôi ra Hà Nội, vào Sài Gòn, viết báo, làm báo. Có thể nói hai ông – Huỳnh Thúc Kháng. Phan Khôi – được tự do làm báo, viết văn. Bọn mật thám Pháp không bóp nghẹt nguồn sống của hai ông, chúng cũng không quấy nhiễu, làm khó các ông. Bọn Việt Cộng Hà Nội đã bóp nghẹt nguồn sống của cả những người từng ở trong hàng ngũ đảng Cộng Sản như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Dần, Phùng Cung, Trương Tửu…

Advertisements

4 Responses

  1. Cái số phận của đất nước VN quả là khốn nạn. Ông bà mình vẫn ví von: “Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”, nhưng ví như thế thì chỉ có thể áp dụng cho các lân bang của VN như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillippines…vì họ tránh thực dân lại tạm thời mắc phải những chế độ độc tài lúc giao thời, độ vài năm hay vài chục năm sau là hết.

    Trường hợp của VN, chống thực dân lại gặp VC, thì phải nói là “tránh vỏ dưa lại gặp lựu đạn” mới đúng. Găp vỏ dừa thì bất quá chỉ trợt ngã nặng hơn đôi chút rồi lại đứng lên, phủi đít đi tiếp. Nhưng đạp phải lựu đạn thì chết là cái chắc!

    Mà quả thật là dân tộc VN chỉ thấy chết với chết khi đã mất nước vào tay VC.

    Nếu ai đó có thể làm một thống kê thật thấu đáo và tường tận, tôi dám nhắm mắt nói ngay mà không sợ lầm, đảm bảo rằng NẾU ĐEM TỔNG SỐ NHỮNG THIỆT HẠI VỀ TÍNH MẠNG, TÀI SẢN, VÀ DI SẢN VĂN HÓA MÀ GIẶC TÀU LẪN GIẶC TÂY ĐÃ GÂY RA CHO DÂN TỘC VN TRONG BỐN NGHÌN NĂM NAY THÌ VẨN THUA XA SO VỚI NHỮNG THÀNH TÍCH ÁC ÔN VÀ TÀN HẠI MÀ VC ĐÃ GIEO RẮC CHO TOÀN DÂN VN CHỈ TRONG BA PHẦN TƯ THẾ KỶ VỪA QUA !

    Đầu thập niên 60, lúc còn mài đít ở trường tiểu học quê huơng VNCH của tôi, tôi từng nghe các bạn học người Bắc di cư hát vè như sau:

    Chanh chua còn kém khế chua,
    Thằng Tây bóc lột còn thua già hồ!

    Thiết tưởng, ai từng sống với vẹm, ắt biết rõ điều này hơn hết.

    Muốn biết rõ, xin hãy đọc lại điều mà nhà thơ đã nói qua lời viết của cô con gái ông như sau:

    “Mình coi thường thì nó chịu phép, mình sợ nó bắt nạt, cái giống mật thám Tây nó vậy đó..”

    Thế thì ta đã thấy, so với vẹm, Tây vẫn còn đối xử với dân ta nhân đạo biết là chừng nào! Các bác thử nhớ lại xem, sống với VC, mình coi thuờng nó thì nó phải GIẾT mình để thị uy; mình sợ hãi nó, nó cứ GIẾT; ngay cả mình ủng hộ nó bằng cả sinh mạng và tài sản của mình, nó vẫn GIẾT!(trường hợp bà Nguyễn thị Năm bị VC giết trong cuộc cải cách ruộng đất do vẹm phát động, dù bà đã góp biết bao nhiêu công của cho chúng làm “cách mạng” thành công).

    Bảo đi với vẹm thì chỉ thấy CHẾT với CHẾT, quả không ngoa chút nào!

  2. 11/4/2012

    CTHĐ ơi, ở lại với chúng nó vc sau ’75, quá rỏ về chính sách hộ khẩu
    lương thực rồi, bà con ngoài Bắc vào dặn dò đừng nghe lời chúng nó
    mà cắt hộ khẩu trong bất cứ hoàn cảnh nào, cắt hộ khẩu lương thực là cắt đầu mình đi. Không thể ở nổi với cái bọn thú vật nầy được, nên mình phải chuồn thôi là thượng sách hơn cả. Tại số phận nước mình VN oan trái sao đó mới phải chịu cảnh dã thú cầm quyền, chỉ nhục cho bọn trí thức bị đè bẹp mà cứ chịu nhịn, mình sung sướng thoát khỏi bàn tay bẩn thỉu của nó rồi, chỉ tội người còn ở lại. Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!

  3. MẬT THÁM, LÍNH KÍN HAY LÀ CÔNG AN?
    Một cái cơ quan của chánh phủ mà người ta cho là cần thiết lắm ở xứ nầy, tiếng Pháp kêu là “Service de Sureté” đó, thấy báo Tàu đôi khi nói đến, gọi là “công an cuộc”, còn An Nam ta, người Trung-Bắc kêu quen là “sở mật thám”, người Nam kỳ, – “sở lính kín”.
    Chữ “công an” nếu dịch ra tiếng Pháp thì nói là “Sécurité publique” cũng giống nghĩa chữ “Sureté”, trúng hơn, đến nếu kêu bằng lính kín hay mật thám thì thật là không trúng chút nào hết.
    Chẳng những nó không ăn nghĩa với cái tên bằng chữ Pháp mà lại cũng không nhằm với sự thiệt.
    Lính kín hay mật thám cũng vậy, có nghĩa là biết trước được những

    điều kín nhiệm bí mật của kẻ gian phi, nhứt là sự âm mưu của bọn phản chánh phủ.
    (Tòa kiểm duyệt bỏ đoạn nầy)
    Vậy thì, mật [….](*) Nếu đức Khổng Tử còn sống ở ngày nay, ngài sẽ lặp lại cái giọng cũ “cô bất cô cô dã”, học trò của ngài thở dài và than rằng: “Kín chẳng kín, kín thay! kín thay!”
    Không có đức Khổng Tử, cũng còn có lão Tha Sơn nầy. [….](*) lão ấy làm phiền lắm. Trời ơi!
    Mà chữ “an” đó người ta cũng đọc là “yên”. Chữ nếu lại phải cấm nữa, đừng cho kêu là “công yên”, sợ nó thành ra tiệm công yên, là tiệm hút, thì lại càng bậy lắm.
    THA SƠN
    Trung lập, Sài Gòn, s.6142 (8.5.1930)

  4. 21/4/2012

    Dưới thời pháp thuộc, lực lượng gìn giữ an ninh liên quan đến dân sự
    đều được gọi chung là công an, có mặc sắc phục ( thí dụ sở CA Bắc/Nam/Trung phần ), còn danh xưng mật thám ( Bắc/Trung phần) hay lính kín (Nam phần) là một loại tình báo ( như là phòng nhì-deuxiem bureau) không mặc sắc phục, chỉ huy thường là người Pháp.

    Đến thời đệ nhất/nhì CH, danh xưng đổi lại là Cảnh Sát với sắc phục; nhưng riêng Cảnh sát đặc biệt ( Mỹ từ là Thiên Nga và Phương Hoàng )thì không mặc sắc phục ( under cover ) chuyên bắt sông vc xâm nhập hoại động trong thành phố, phối hợp với co-ordinator là người Mỹ để chia xẻ tin tức. Người dân bình thường hay gọi CS đặc biệt là công an
    theo cách ngày xưa-không sắc phục.

    Đến thời vc, thì loạn tùng phèo, gọi là cảnh sát hay công an cũng được, nó còn có bộ phận tình báo nhân dân ( khủng khiếp lắm ), trong một khu phố, chẳng ai biết ai làm việc này, vậy trong 36 chước, chuồn khỏi nước là thượng sách vì chỉ có quỉ mới trị được quỉ mà thôi, xin đưng dây với hủi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: