• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Chuyện Tào Lao

Công An Việt Cộng bại tai nhân dân ở giữa đường.

Tiếng “Chuyện Tào Lao” – dường như – là một tiếng trong ngôn ngữ Bắc Kỳ. Tôi thường nghe nói thành ngữ “Tào lao chi khươn..” Tôi nói theo nhưng không biết “ khươn” là cái gì.

Mời quí vị đọc một số Chuyện Tào Lao. Chuyện thứ nhất tôi tìm được trên Web.

Chuyện Tào Lao Số 1

TRẦN VĂN KHÊ, Nhạc sĩ Trứng Thối Berkeley.

Thường xuyên theo dõi các sinh hoạt liên quan đến Việt Nam ở Berkeley, tôi nhớ có vài diễn giả bị người Việt biểu tình phản đối: Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp năm 1998 và đoàn múa rối nước VNCS. NH Thiệp và đoàn Múa Rối Nước đến từ VNCS bị người Việt ở Mỹ biểu tình phản đối, đòi đuổi. Còn nhiều diễn giả khác đã đến Berkeley nói chuyện như các đạo diễn Hồ Quang Minh (Karma), Trần Văn Thuỷ (Chuyện Tử tế), Ðặng Nhật Minh (Mùa Ổi ), Ngô Quang Hải (Chuyện của Pao), Bùi Thạc Chuyên (Sống trong sợ hãi ), Nguyễn Vinh Sơn (Trăng nơi đáy giếng) hay nhà văn Phạm Thị Hoài đều không bị người Việt biểu tình phản đối, nhưng có giao lưu – trao đổi ý kiến – linh động, đôi khi căng thẳng.

Năm 1988 khi Giáo sư Trần Văn Khê từ Pháp đến nói chuyện tại Berkeley, cộng đồng người Việt vùng San Francisco sôi nổi lên những ý kiến bênh chống người nhạc sĩ này. Trong buổi ông Trần Văn Khê nói chuyện tại Alumni House, bên ngoài có sinh viên phân phát tài liệu về chính sách bạo ngược của Hà Nội, bên trong đã có những câu hỏi được đặt ra về việc thu tiêu văn hoá miền Nam, đàn áp văn nghệ sĩ, những câu hỏi làm diễn giả Trần Văn Khê nhiều khi phải nói quanh.

Sau lần đó nhạc sĩ Trần Văn Khê viết Hồi kí kể rằng khi ông đến Berkeley nói chuyện, ông được cảnh sát Mỹ hộ tống, cảnh sát Mỹ báo cho ông biết:

“Chúng tôi bắt được ba người Việt trong mình có lựu đạn cay, cà chua và trứng thúi. Họ mang những thứ đó đến phá cuộc nói chuyện của ông. Ðây là trường hợp bắt được quả tang, chúng tôi giữ những món đồ đó và giữ cả ba người, nếu ông yêu cầu truy tố thì chúng tôi sẽ bắt giam ho và đưa họ ra toà.”

 Nhưng nhạc sĩ Trần Văn Khê – theo lời kể của ông trong Hồi ký – “đã đề nghị cảnh sát Mỹ tha cho ba người Việt đó.” [Hồi ký Trần Văn Khê, Tập 4, Nxb Trẻ 2002, trang 34].

Ðây là chuyện ông TV Khê biạ đặt. Hoa Kỳ không phải là xứ sở nơi người dân dễ đùa với pháp luật. Ai phạm luật bị bắt thì sẽ bị truy tố ra toà, nhẹ thì đóng tiền phạt, nặng thì có thể vào tù chứ không phải như nhạc sĩ nói “tha cho” là cảnh sát sẽ tha.

Ngưng trích bài viết về Những Cuộc Nói Chuyện ở Ðại Học Mỹ.

CTHÐ: Ông Trần Văn Khê Hồi Ký Tào Lao Ngu Bỏ Mẹ.

Nhà Văn A, Nhà Văn B, từ Việt Nam đến Mỹ, nói chuyện ở Trường Ðại Học XYZ..Nghe thì hách lắm, nhưng thực ra những ông Việt đó không được những Ban Quản Trị Những Trường Ðại Học Mỹ mời. Thường là một nhóm sinh viên Việt ở Trường Ðại Học đó mời diễn giả đến nói chuyện, có khi là một giảng sư của Trường. Ðề cao chuyện này là Tào Lao.

o O o

Chuyện Tào Lao Liệt Sĩ Bắc Cộng. Bài đăng trên báo Nhân Dân.

Cù Chính Lan (sinh 1930, chết 1952)

Anh hùng Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam, liệt sĩ, quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Con nhà nông dân nghèo.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông tòng quân, làm giao liên, rồi làm tiểu đội trưởng.

Năm 1951 ông cùng đơn vị tham gia chiến dịch Hòa Bình và được lệnh phục kích ở Giang Mô trên đường số 6. Sáu xe giặc, đi đầu là một xe tăng có đại bác, máy bay yểm hộ đến tiếp viện. Ông cùng đồng đội bắn cháy 4 xe rồi ào xuống.  Chiếc xe tăng chạy về hướng Xuân Mai, xả đại bác vào trận địa ta. Ông bám theo xe và quyết tâm hạ cho kì được. Sau đôi ba lần dũng cảm xung phong, cuối cùng ông dùng lựu đạn, đánh chiếc tăng bốc cháy. Ông nổi tiếng với danh hiệu “Anh hùng đánh Xe Tăng, Anh hùng đường Số 6,” và được thưởng huân hương quân công.

Tháng 2 năm 1952, đơn vị Cù Chính Lan được lãnh đánh đồn Tây ở đồi Gò Tô. Mở đầu, ông dẫn tiểu đội cắt hàng rào dây phép gai. Ðại bác giặc từ các vị trí rót lại.. Ông trúng đạn văng mất một cánh tay. Tiểu đội phó đề nghị ông ra, ông vẫn kiên quyết cùng đồng đội tiến đánh lô cốt thứ nhất. Ðến lô cốt thứ hai, ông lại bị đạn gẫy luôn tay bên kia. Anh em lại đề nghị ông ra, ông nói:

“Mình còn chân vẫn còn đánh giặc được.”

Rồi trước bão lửa ông vẫn chiến đấu. Ðạn lại cưa cụt một chân ông. Cứu thương chạy đến, đặt ông lên cáng, ông lăn xuống đất, nói:

“Tôi còn mồm, còn chĩ huy chiến đấu được.”

Ông dõng dạc hô:

“Hạ đồn to, các đồng chí ơi.”

Triệt hạ đồn xong, ông lịm dần rồi tắt thở trên tay đồng đội. Năm ấy ông 23 tuổi.

CTHÐ: Chuyện Tào Lao Ngu Dzốt. Chuyện ghi trong “Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam” do Nguyễn Quang Thắng biên soạn, xuất bản năm 1999 ở Sài Gòn. Anh Tào Lao nào viết đoạn truyện Tào Lao Cù Chính Lan đã Ngu, anh làm sách Nhân Vật Lịch Sử Tào Lao  Nguyễn Quang Thắng Ngu theo.

Lô-cốt: từ tiếng Blockhaus; xây bằng bê-tông ở những đồn quân của Pháp trong chiến tranh Việt Pháp, binh sĩ giữ đồn ở trong những lô-cốt ấy bắn ra.

o O o

Chuyện Tào Lao Nô-ben Dzờ Dzoạc

Nhà thơ, dịch giả Dương Tường tâm sự:

“Ở Việt Nam, nếu có một người xứng đáng được nhận giải Nobel thì người đó là Trần Dần.

“Trần Dần là một người khổng lồ, không dưới 30 tập thơ, ba tiểu thuyết, không kể những bản thảo bị mối mọt hay thất lạc … Còn phải nhiều năm nữa người ta mới đánh giá được kho tàng văn học do Trần Dần để lại”.

Trần Dần từng kêu gọi “Phải chôn Thơ Mới” ….”phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của tiền chiến.”

“Tệ” hơn, ông còn đòi “chôn” cả Nguyễn Du:

Ông đòi hỏi nhà văn phải là:

“Kẻ viết đạp đổ chân trời? Xổng xích các chân mây?” (Sổ bụi – 1985).

CTHÐ: Chuyện Tào lao và Bốc Phét.

Thi phẩm “Trần Dần. Thơ” có thể để tên là “Thơ Jờ Jọaxc, 491 trang chỉ có toàn là “jờ joạxc truồng sẹo. Trích vài đoạn:

Trần Dần. Thơ. Trang 225:

tôi thíc sướng

tôi cái sẹo jữa vết xước nước ấm mét jạch lược bí

tôi cái thân chai vuông vai ngồi nhai joài joài 1 toạc jách 1 lạch juýp 1 jịp vú 1 nụ nóc 1 jạc sử kí

tôi thích thịt

dây nịt thít mít một jờ mật thạch thật nún nút mút kiss đèn đồng hồ mờ

tôi thíc thỏa

1 ngọa cắn 1 nắn mím 1 thím nách 1 jạch phím 1 jim núm 1 jụm sách 1 lạch joác 1 xoạc bóc

tôi thán phục cái miệng hết vắt ve lăn thăn jờ thủy tạ

tôi xin cư trú thơ ca jọc jọc thì jờ truồng-vệ-xinh-công-cộng nữ

TRẦN DẦN. THƠ, trang 232:

CHÙM âm 13

con nữ tô tô jao cấu jăng nhọn chiếc ca pốt cao su jính thịt lăn thăn vứt sẹo jọc ngày

giộb

hột

lựu

o O o

Chuyện Tào Lao Thuốc Tễ Dzê

“Gió O.com,” phỏng vấn.

Trần Mạnh Hảo: Những kỷ niệm này tôi có hàng nghìn vạn, là những kỷ niệm đẹp mà buồn đã làm nên tâm hồn tôi sau này trong văn học. Ngoài hình ảnh me tôi, ông nội của tôi (nay là nấm đất ở Nam Cali Hoa Kỳ) cũng cho tôi bao nhiêu hình ảnh đẹp thơ mộng trước năm 1954 (năm ông bà nội và các cô, các chú thím di cư vào Nam). Con đê sông Ðáy dài loằng ngoằng như rắn cuốn, nắng nõn chuối và mây cánh buồm, sông au au má đỏ, gió the the hương bưởi hương cau, một giờ yên ả không có tiếng súng, tiếng bom, tiếng tầu bay đầm già của Pháp ò ò trên đầu, tôi chạy theo ông nội qua đò, sang nhà thờ Phát Diệm đi lễ. Ông đi trước, tôi làm chiếc đầu rau chạy theo sau, vừa chạy vừa nhặt thuốc tễ ai đánh rơi đầy mặt đê. Từng viên thuốc tễ tròn tròn, to hơn đầu đũa, màu nâu sậm, ông tôi thỉnh thoảng vo viên phơi trên tầu lá chuối khô, nay ai vứt bừa trên đê, nhiều vô kể. Tôi sung sướng vô cùng, hơn bắt được vàng, nhặt thuốc tễ cho vào hai túi áo căng phồng, tiếc rẻ, bỏ 3 viên vào miệng nhai nuốt trửng. Ông quay lại hỏi, kinh ngạc bảo tôi khạc ra:

“Không phải thuốc tễ, cứt dê đấy, nôn ra ngay !”

Tôi sợ quá, khóc rống lên, không thể nôn ra được nữa rồi ông ơi ! Ông bắt tôi uống nước sông thật nhiều để dạ dày không trúng độc! Quê tôi không ai nuôi dê, cả đời tôi có trông thấy món “Thuốc Tễ Cứt Dê” này bao giờ đâu! May mà nhờ Chúa, tôi không bị đau bụng, vì đã nhai nuốt 3 viên cứt dê trong sự lầm lẫn trẻ thơ. Lịch sử, đôi khi cũng chỉ là đứa trẻ con đi theo ông nội, đã bốc nhầm thuốc như tôi ngày nào chăng ?

Ngưng trích Thuốc Tễ Dzê.

CTHÐ: Năm ông Trần Mạnh Hảo 10, 11 tuổi, ông thấy những viên phân dzê tròn tròn, nâu nâu ở bờ đê, ông tưởng đó lá Thuốc Tễ, ông ăn mấy viên, ông bỏ túi cả chục viên đem về nhà ăn dần.

Thảo hèn khi lớn lên ông thông minh, tài hoa quá đỗi.

o O o

Trích Hồi Ký Mỹ Du của Nhà Văn Tiêu Dao Bảo Cự,

Ông Toàn đưa chúng tôi về nhà chơi. Ông cho biết ông sắp nghỉ làm việc trực tiếp ở tòa soạn, chỉ ở nhà viết bài. Phòng làm việc của ông ở tòa soạn ngoài sách báo còn là nơi ông trưng bày các loại ống điếu, nay sắp dọn về nhà. Ông luôn ngậm tẩu và sưu tầm khá nhiều loại ống điếu. Ông tặng tôi một chiếc tẩu và một gói thuốc hiệu 79 làm kỷ niệm. Vườn nhà ông có cây bóng mát, ông treo võng, đặt ghế để đọc sách và làm việc khi trời tốt. Ông Toàn có phong thái tự tin, đĩnh đạc, hiểu rất rõ tình hình trong nước nhờ có nhiều thông tin trực tiếp và thường viết những bài chính luận kịp thời, sắc sảo. Tình cờ ông Phạm Phú Minh ghé chơi cũng trò chuyện với chúng tôi một lúc. Ông Minh đã biết về tôi vì từ trước ông ở trong ban biên tập của nhà xuất bản Thế Kỷ, nơi xuất bản cuốn sách đầu tiên của tôi ở Mỹ.

Người bạn cũ linh hoạt của tôi ngày xưa bây giờ chậm rãi, đạo mạo. Nguyễn Ðức Tùng cao lớn, mang kính trắng, có vẻ rất “bác sĩ”. Ðỗ Quyên thấp người nhưng lại có bộ râu quai nón oai phong, nói năng nhanh nhẩu và giọng “đặc Bắc kỳ”. Lena Sương thon thả, xinh như người mẫu. Mọi người chụp hình kỷ niệm trước khi chia tay. Chúng tôi thật sự cảm động về chân tình của các bạn. Dù mới quen hay quen đã lâu, hay chỉ biết nhau qua mạng, đã có một sự đồng cảm nào đó trong tình người, tình yêu văn chương và tình cảm bè bạn vô tư trong sáng, làm cho người ta cảm thấy gần gũi và ấm áp.

Vài ngày sau khi từ Nam Cali về, chúng tôi có chuyến đi đến bang Colorado. Ðây là chuyến đi khá bất ngờ theo lời mời của một người quen qua Internet. Mấy năm trước người này có vài bài viết phản bác các bài viết của tôi trên mạng chung quanh nhận định về cuộc chiến tranh Việt Nam trước đây cũng như tình hình sau này. Tuy khác quan điểm và đôi khi khá gay gắt nhưng nói chung anh tranh luận một cách trí thức, tôn trọng và cũng thể hiện có đôi chút cảm tình với người đối thoại. Anh và tôi có liên lạc email đôi lần nhưng chỉ ở mức độ xã giao. Qua bài viết, tôi biết anh từng là lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ngoài ra tôi không biết gì hơn về anh.

Lần này nghe tin tôi sang Mỹ, đột nhiên anh gởi mail mời tôi sang chơi nơi anh ở thuộc bang Colorado. Anh gởi cho chúng tôi hai vé máy bay hạng nhất của hãng Frontier Airlines.

Anh đón chúng tôi ở sân bay Denver, cùng đi với một người bạn. Vừa gặp nhau anh đã đề nghị chụp hình cho chúng tôi ở sân bay. Mấy tấm hình mà sau này xem lại chúng tôi rất ưng ý. Anh đã lên chương trình cho chúng tôi trong mấy ngày ở đây, thông báo trước qua mail và thực hiện ngay lập tức khi rời sân bay. Ðúng là phong cách nhà binh.

Qua chuyện trò chúng tôi được biết thêm anh vốn là sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, cấp bậc cuối cùng đại úy, là một sĩ quan tác chiến dày dạn trận mạc, đã từng bị thương nặng, vỡ đầu gối. Hèn chi thấy anh đi cà nhắc và lúc đi lên dốc Red Rocks Park anh không đi lên cao được mà đứng dưới đợi. Qua đây anh viết văn, đã xuất bản mấy tác phẩm thuần viết về các cuộc chiến đấu của lính Nhảy Dù mà anh tặng tôi sau này, trong đó có cuốn đầu tay khá nổi tiếng.

Ngưng trích Hồi Ký Tiêu Dao Bảo Cự.

CTHÐ: Trong một bài trước về Tiêu Dao Bảo Cự Mỹ Du, tôi viết :

“Nhà văn Phan Nhật Nam, năm ấy ở Denver, mời Nhà Văn Tiêu Dao Bảo Cự đến Denver chơi ba, bốn ngày.”

Nhà Văn Ðại Úy Nhẩy Dù năm 1975, viết văn, mà năm 2009 ở Denver, Colorado, thì chắc hơn bắp Nhà Văn ấy là ông Phan Nhật Nam chứ còn là ai nữa.

Hôm nay đọc lại đoạn văn, tôi thấy rất có thể ông Nhà Văn Cựu Ðại Úy Nhẩy Dù mời ông bà Nhà Văn TD Bảo Cự đến Denver chơi không phải là ông Phan Nhật Nam. Theo tôi biết Ðại Úy Phan Nhật Nam bị đạn thù bắn vào bụng, ông không bị bắn vỡ đầu gối, ông không đi khập khiễng. Tôi đã làm chuyện Tào Lao khi viết: “Ông Nhà Văn Phan Nhật Nam mời…”

Nhưng cũng rất có thể ông Nhà Văn ở Denver mời ông bà TD Bảo Cự đến chơi là ông Phan NhậtNam. Không lẽ ở Denver cùng một lúc có hai ông Sĩ Quan Nhẩy Dù viêt văn?? Có thể ông TD Bảo Cự tả ông Nhà Văn Denver bị thương ở đầu gối, đi khập khiễng là không đúng chăng???

o O o

Chuyện Tào Lao Cuối Cùng:

Trên WEB có tin một viên Tướng Bắc Cộng “chửi” bọn Văn Nô Công An VC:

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng về loạt bài trên tuần báo An ninh Thủ đô: Bọn  phóng viên láo xược

Ðọc báo An ninh Thủ đô ngày 11 và 12 Tháng Tư 2012, tôi không quan tâm đến việc nhóm phóng viên báo này moi móc đời tư của chị Bùi Thị Minh Hằng; thực hư thế nào ai mà biết được! Tôi chỉ quan tâm đến cái “tít” trên báo gọi chúng tôi – những người đã ký tên đề nghị với đại biểu Quốc hội Phạm Quang Nghị đối thoại với chúng tôi về nhiều vấn đề, là “những kẻ cơ hội”. Tôi cho rằng “nhóm phóng viên” này quả là láo xược; và không biết cái gì là tốt, cái gì là xấu.

 Những người ký tên trong kiến nghị có nhiều giáo sư, tiến sĩ, những trí thức, nhà văn có tên tuổi, có những lão thành Cách mạng mà tôi là một. Nếu không có các lão thành cách mạng vào sinh ra tử, không quản tra tấn tù đầy, máy chém góp phần làm nên Cách mạng Tháng Tám và thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến thì liệu có “nhóm phóng viên” được an toàn, ăn lương nói hàm hồ như hiện nay không? Nếu không có những nhà trí thức có tên tuổi, có tâm huyết từng tham gia kháng chiến và góp phần xây dựng đất nước thì chắc gì đã có “nhóm phóng viên” an nhiên tự tại ăn theo, nói theo này?

“Nhóm phóng viên” này có công lao đóng góp gì cho đất nước mà láo xược gọi chúng tôi là “những kẻ cơ hội”?

Nguyễn Trọng Vĩnh,
Lão thành Cách mạng, 96 tuổi đời, 73 năm tuổi Ðảng, 75 tuổi Cách mạng, đã từng bị tra tấn tù đày

CTHÐ: “Nhà lão thành cách mạng” dửng dzưng với chuyện “bọn nhà báo láo xược” bới móc đời tư người chúng bắt đăng lên báo, nhưng khi “bọn nhà báo láo xược” viết đụng đến bọn ông, ông “Tác-dzăng nổi giận” liền một khi.

Bọn ký giả VC trong những tờ báo Công An là bọn bất lương Số Một trên cõi đời này. Là Công An, chúng giữ hồ sơ của những người bị chúng bắt giam, những vụ án giết người, chúng độc quyền khai thác những vụ này để bán báo. Báo Công An là báo lưu hành nội bộ – chỉ để nhân viên công an đọc – không nước nào trên thế giới có bọn công an làm báo bán cho dân để kiếm lời, riêng bọn Công An Cộng Việt có tới 4, 5 tờ tuần báo bán cho dân. Như tuần báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh. Người ta mua tờ Công An để đọc những vụ giết người ghê rợn, những vụ cướp táo bạo, những vụ hiếp dâm tàn nhẫn. Do đó tờ Công An Thành Hồ bán chạy. Không biết nhục, anh Công An Huỳnh Bá Thành, khi làm Tổng Biên Tập tuần báo Công An Thành Hồ, hiu hiu tự đắc khoe:

“Báo Công An bán rất chạy. Ðồng bào rất thích đọc báo Công An.”

Tào Lao Phi-ní Lô Ðia!

Advertisements

2 Responses

  1. Thưa ông CTHD

    câu nầy theo hiểu biết hạn hẹp của tui là từ thành ngữ phát âm theo tiếng Trung Hoa Quan thoại là tao tao qian yan. Hán việt là thao thao thiên ngôn. Thao nghĩa là overflow , thiên nghĩa là ngàn. ngôn nghĩa là lời.

    pmg sydney

    • Rung Phong Ngay 24/4/2012. Cam on ban Gioan. Nho ban, toi duoc biet thanh ngu ” thao thao chi ngon.” CTHD

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: