• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Bây Giờ Tháng Mấy

Tù lần thứ hai 6 năm, trở về mái nhà xưa, 1984 -1990, tôi lại viết ngay trên căn gác nhỏ. Mới tù về người gầy nhưng gân guốc, vẫn hút thuốc lá mỗi ngày 80 điếu, viết bằng máy chữ mới “tậu”: máy Olympia dấu chữ Việt, cái máy chữ Brother nhật báo Tiền Tuyến tặng tôi năm 1968 bị bọn Công An Thành Hồ lấy mất trong lần chúng đến nhà bắt tôi lần thứ nhất, năm 1977.

Lúc “Mắt Em đẹp trời sao..” là lúc anh nhìn thấy Tình Yêu trong mắt Em. Những đêm thu trăng sáng vàng trời, xanh đất Sài Gòn khi chúng ta chung sống vợ chồng năm đầu tiên ở căn nhà số 78 / 5 Ðường Mayer, Tân Ðịnh. Anh chắc Em nhớ hơn Anh những đêm trăng vàng ấy. Ngày đó Anh mới bước chân vào Tình Yêu, Anh là gã con trai lần đầu đặt những bước chân mê đắm đi trên con đường tình ái. Anh đi theo bàn tay dẫn dắt, yêu đương, yêu thương của Em, anh đi theo những bước Em đi trên con đường tình ái một đời của đôi ta. Hơn cả Tình Nhân, chúng ta là Vợ Chồng. Lúc đó Anh vẫn là chàng trai, Em đã là đàn bà, người đàn bà đẹp, đa tình, yêu thương – Ðẹp, đa tình với Anh, yêu thương Anh – Năm ấy đôi ta mới gặp nhau, đôi ta mới yêu nhau, đôi ta mới là vợ chồng..

Trên đây là đoạn mở đầu tập tự truyện BÂY GIỜ THÁNG MẤY tôi viết năm xưa, những năm 1968, 1969, trước hay sau Tết Mậu Thân, đăng báo, sau đó được Nhà Xuất Bản Chiêu Dương in thành sách.

Bây Giờ Tháng Mấy được xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn,  sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng, Bây Giờ Tháng Mấy được in lại ở Hoa Kỳ – một vị nào đó trong cuộc di tản 30 Tháng Tư 1975 đem theo một quyển Bây Giờ Tháng Mấy sang Mỹ –  hôm nay tôi mới có nỗi bồi hồi đọc lại những đoạn văn Bây Giờ Tháng Mấy tôi viết 40 năm xưa ở Sài Gòn, thành phố thủ đô thân thương tôi đã không giữ được, tôi mới có thể trích đăng những đoạn truyện tôi viết 40 năm xưa, như đoạn trên đây.

Hai mươi năm sống dở, chết dở, cùng khổ, cùng đau với đồng bào trong gông cùm cộng sản, trong 20 năm ấy có 8 năm tôi nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hòa, Trại Tù Khổ Sai Z 30 A, chẳng bao giờ tôi mơ có ngày tôi lại nhìn thấy, lại đươc cầm, mở, đọc những quyển truyện xưa của tôi, tôi lại chẳng bao giờ tưởng – tưởng chứ không mơ – có ngày  Alice và tôi sang sống ở Hoa Kỳ – Ðến Mỹ, tôi gặp lại, tôi lại có được gần hết những quyển tiểu thuyết của tôi đã xuất bản trước năm 1975 ở Sài Gòn. Trong Tàng Kinh Các Rừng Phong của Công Tử Hà Ðông bây giờ dễ có đến 20 quyển truyện của Hoàng Hải Thủy, những quyển này đều được in lại ở Hoa Kỳ sau năm 1975.

Vợ chồng tôi đến Mỹ Tháng 11 năm 1994, thời gian biêt xứ qua mau, mười năm sau, đến buổi sáng Tháng 9 năm 2005 ở thành phố Santa Ana, California, khi người bạn trẻ để ra bàn mấy quyển truyện của tôi, tôi mới gặp lại quyển Bây Giờ Tháng Mấy. Khi đến nước Mỹ thấy quyển phóng sự tiểu thuyết Yêu Tiền tôi đã bồi hồi, xúc động, khi thấy Bây Giờ Tháng Mấy, tôi xúc động hơn. Sống ở Mỹ đã 10 mùa lá rụng, tuyết rơi, tôi yên trí trong những số sách của tôi được in lại ở Mỹ không có quyển Bây Giờ Tháng Mấy..

Không phải đến ngày hôm nay, Ngày 4 Tháng Tư 2012 tôi mới có ý định viết lại cuộc đời tôi, tôi đã làm việc ấy từ những năm 1968, 1969, khi tôi viết Bây Giờ Tháng Mấy. Cuộc sống của tôi không có nghĩa lý gì cũng không có gì quan trọng, tôi chỉ là người đã sống, đã làm báo, viết truyện ở Sài Gòn trong thời gian 20 năm, từ 1954 đêm 1975. Tôi coi lịch sử như một dòng sông, mỗi đời người là một giọt nước, những giọt nước góp lại thành dòng sông, chuyện những cuộc đời riêng kể lại làm thành Lịch Sử.

Những năm 1954, 1955, 1956 vợ chồng tôi sống trong căn nhà số 78/5 Ðường Mayer, khoảng sau Nghĩa Trang Mạc Ðĩnh Chi. Nhà mới xây, mới tinh, có sân gác, những đêm trăng mùa thu chúng tôi lên sân thượng ngắm trăng. Tôi ghi lại cảm tưởng của tôi về những đêm trăng Mayer  ấy trong Bây Giờ Tháng Mấy:

Trích Bây Giờ Tháng Mấy:

Anh vẫn nghĩ sẽ có ngày anh viết truyện này, anh chỉ không nghĩ đến việc ngày nào anh viết. Ðêm nay anh viết. Chúng ta trở lại với câu hỏi: Có người nào trên cõi đời này nói là “Tôi yêu, tôi được yêu..” mà lại ngẩn ngơ trả lời: “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy trời sao trong mắt người yêu..” Em đừng sợ anh viết lẩm cẩm. Chỉ cần anh viết ra là truyện có người đọc. Người đọc anh sẽ biết anh muốn viết gì, tại sao anh lại viết như thế.  Những người đọc truyện tình của em và anh là những người đã yêu, đã được yêu, đã sung sướng, đã đau khổ vì Yêu. Những người không yêu và không được yêu không đọc truyện anh viết. Họ đọc quảng cáo House for Rent, Cáo Thị Ðấu Thầu Công Khai và Khẩn Hạn, Bar chỗ thị tứ đang đông khách cần sang, huê lợi nhiều; họ đọc giá vàng lên xuống, tintầu đi, tầu đến, tin cướp, hiếp dâm, giết người, úp hụi, đàn bà đánh ghen..

….. ..

Trong kho tàng kỷ niệm của anh, hình ảnh Em những đêm trăng đó sáng rỡ, sáng như trăng, trong như ngọc, lung linh như pha lê, lấp lánh như kim cương…

Ðêm nay, tháng này, năm nay, anh nhớ lại, anh tưởng như  anh mới thấy những hình ảnh ấy đêm hôm qua. Ðã 12 năm qua. Em nói với anh là em đã sống với anh 12 năm. Thời gian qua thật mau mà cũng thật lâu.

Như Vladimir Dutdinsev viết trong truyện ngắn A New Year Fable: “Thời gian có thể co lại và dãn ra..,, như thời gian qua trong Tình Yêu thật nhanh, thời gian sống không Tình Yêu thật dài.

Ðêm trăng Tân Ðịnh, Sài Gòn, trên sân gác, anh ngồi bên em, anh nằm bên em. Ánh trăng chan hòa trên em như nước. Những lúc ấy anh chỉ biết em. Anh không ghi nhận gì về anh. Cuộc sống của anh qui tụ quanh em, trên em, trong em, trong trái tim, trong hồn, trong thể xác em.

Vũ trụ của anh là da thịt em, là núi ngực, rừng tóc, vai mượt, thung lũng lưng eo, đồi cỏ, mông tròn. Anh chống tay trên em, anh nhìn xuống, anh thấy “mắt em đẹp trời sao..”

(….. .. ..)

Ðể cho em ngủ yên, anh ra bàn ngồi hút thuốc lá. Trong đêm khuya, mình anh ngồi với anh. Tiếng động của thành phố về đêm tắt dần. Thành phố Sài Gòn năm 1954 về đêm thật êm. Anh lặng nhìn vào tương lai đời anh với tiếng thở của em trong giường như tiếng nhạc đệm cho một đoạn phim tình.

Những lời Thơ đến với anh:
Mùa thu mây trắng xây thành
Tình Em mầu ấy có xanh da trời,
Hoa lòng Em có về tươi,
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Ngưng trích Bây Giờ Tháng Mấy.

Cuối năm 1954 khi đất nước Việt Nam đã bị chia đôi, Nguyễn Ngọc Tú, người những năm 1970 là Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather của Mario Puzo, và tôi đi một chuyến ra miền Trung. Tú đi với tư cách là ủy viên Bộ Thông Tin – Ông Bộ Trưởng Bộ Thông Tin  Phạm Xuân Thái – tôi là phóng viên Nhật Báo Sàigònmới. Chúng tôi đi qua những tỉnh Huế, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Trị. Trên đường đi, Tú ghé vào một trại quân ở Lăng Cô thăm bà chị của Tú. Chị Thu. Ông anh rể của Tú năm ấy là Trung Úy Y Sĩ  Trưởng Quân Y Viện ở căn cứ này. Tôi theo Tú đến sống hai ngày  ở nhà anh chị Thu. Tú bảo tôi:

– Tao vừa nghe bà Thu ru con mấy câu thơ mày tặngAlice..Mùa thu mây trắng xây thành..Tình Em mầu ấy có xanh da trời..Bà ấy bảo là ca dao..Tao nói Thơ mày, bà ấy không tin.

Nghe chuyện Tú nói, tôi không ngạc nhiên cũng không thắc mắc gì nhiều. Năm ấy, Tú và tôi rất thân nhau. Tú biết bài thơ ấy của tôi. Tôi chắc Tú ghi mấy câu thơ ấy, bỏ đâu đó, chị Thu đọc được, tưởng là ca dao.

Từ ý bài thơ của tôi, Tú làm hai câu:

Hoa lòng Em có về tươi mãi,
Môi Em có thắm suốt đời không?

Tháng 10 năm 1977, nằm trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, thương nhớ Alice, tôi làm Thơ:

Hoa lòng Em đã về tươi
Môi Em vẫn thắm suốt đời vì Anh! 

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu,
Tình Ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình Ta?
Lòng Em hoa vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai,
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài, nghe Em.
Mặt trời có lặn về đêm
Sáng mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về, trời lại xanh mây,
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu yêu lại càng nhiều,
Nhớ Em Anh nhắn một điều: Yêu Em.

o O o

Bây giờ Tháng Mấy. ÔNG NGOẠI. Trích:

Ông bố tôi trọn đời không một lần đọc Truyện Kiều, cả làng quê tôi  không nhà nào có quyển Kiều. Một quyển tiểu thuyết cả làng tôi cũng không có.

Vậy mà tôi mê đọc tiểu thuyết từ năm tôi mới biết đọc chữ, tức ngay từ năm tôi lên sáu, lên bẩy tuổi. Mười một, mười hai tuổi, tôi đã mơ mai sau tôi sẽ viết tiểu thuyết.

Tôi có ảnh hưởng năng khiếu văn nghệ từ bên ngoại chăng? Có thể lắm. Mẹ tôi có làm Thơ. Ông Ngọai tôi là ông Nghiêm Duy Ninh, từng là Tri Phủ, và là Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông. Sau ngày 9 Tháng Ba năm 1945, Nhật làm binh biến đảo chính Pháp ở Ðông Dương, lần thứ nhất tôi nghe nói đến hai tiếng Ðộc Lập. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, tỉnh lỵ Hà Ðông trở thành thị xã. Ông Ngoại tôi được mời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông.

Ông Ngoại tôi, cụ Phủ Nghiêm Duy Ninh, chỉ làm Thị Trưởng có 4 tháng, từ Tháng Tư năm 1945 đến Tháng Tám năm 1945 khi Việt Minh làm cái gọi là cuộc Khởi Nghĩa Ngày 19 Tháng Tám cướp chính quyền. Bốn tháng thật đẹp trong đời tôi. Tòa Thị Chính Hà Ðông mới được xây, mới tinh, có phòng tắm hai vòi bông sen nước máy. Mùa hè, tối nào tôi cũng theo hai cậu tôi đến Tòa Thị Chính tắm vòi nước bông sen đã đời.

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tại chức có 4 tháng ngắn ngủi, từ Tháng Tư năm 1945 đến Tháng Tám cùng năm, nhưng đã làm được việc đem một số gạo từ miền Nam ra Bắc cứu đói. Lần đầu tiên tôi nghe nói đến “gạo bông”, tức gạo phải mua, gạo được bán bằng sổ – chỉ những người được cấp sổ mua gạo mới được mua gạo bông – số gạo được bán theo số người trong sổ. Các ông Trưởng Khu Phố làm danh sách dân trong khu phố, gửi đến Tòa Thị Chính làm bông mua gạo, các cậu tôi, cả tôi, được dùng trong việc làm bông.

Ông Ngoại tôi hít tô phê. Nghe mẹ tôi nói ông tôi chơi thuốc phiện và nghiện ngay từ thời ông học ở Trường Hậu Bổ. Cậu tôi kể cùng học một khóa với ông tôi là ông Ð. V.H, ông này sau làm Bốù Chánh, trong khi ông Ngoại tôi ra tri huyện, về tri phủ; ông Hiệu trưởng người Pháp, khi kết thúc khóa học, viết trong bản nhận xét về các học viên:

– Le phus laborieux est Ð.V.H, mais le plus intelligent est Nghiêm Duy Ninh.

Người chăm chỉ nhất là Ð.V, H, nhưng người thông minh nhất là Nghiêm Duy Ninh.

Năm 1946, mấy ông chú, ông cậu tôi đến nhà đánh chắn cho ông tôi đỡ buồn. Tôi giữ chân chia bài. Có ông anh tôi từ Hà Nội vào cũng ngồi đánh chắn.

Ông anh tôi bận bộ complet mới may. Một ông cậu tôi khen:

– Bộ com-lê của anh hàng đẹp quá nhỉ.

Ông anh tôi nói:

– Thứ hàng này nó hay lắm ạ. Mình mặc nó, có ngồi bị nhầu hay có nếp, mình đứng lên đi đi, lại lại một lúc nó lại thẳng ra.

Ông Ngọai tôi nói:

– Thành ra nếu có ai hỏi mình.. Sao ông không ngồi yên mà ông cứ đi đi, lại lại như thế? Mình nói: Ấy.. tôi phải đi đi, lại lại để cho bộ quần áo của tôi thẳng ra!

Tôi mới 13 tuổi, nhưng tôi đã thấy Ông Ngoại tôi rất có duyên, rất nhanh trí khi nói câu đó. Mấy lần giỗ ông tôi những năm 1970, 1971, tôi nhắc lại chuyện ông Ngoại tôi nói về bộ com-lê của anh tôi năm xưa, có lần mẹ tôi nói:

– Sao ngày giỗ ông năm nào anh cũng kể lại chuyện ấy?

Tôi nói:

– Con kể lại vì con thấy chuyện ấy rất hay. Ông Ngoại con phải thông minh và có duyên lắm mới nói được một câu hay như thế. Phải thông minh lắm mới nói trêu được người ta mà người bị trêu không nổi giận được.

Nhà ông Ngoại tôi ở trong thị xã Hà Ðông, cùng phố với nhà tôi, Phố Bóp Kèn, tên Tây là Boulevard de la République, hai nhà cách nhau chừng nửa cây số. Trong thời gian ông tôi làm Thị Trưởng, một buổi chiều khoảng 4, 5 giờ tôi đang đứng chơi léng phéng trước cửa nhà ông tôi, tôi thấy ông Sĩ Quan Nhật đi tới. Ông này là vị chỉ huy Lực Lượng Quân Nhật đóng trong tỉnh Hà Ðông, ông ở trong tòa nhà đẹp, lớn nhất tỉnh, tòa nhà trước là tư dinh của Công Sứ Pháp. Thấy ông đeo kiếm, đi bộ, từ phía dinh ông đến, tôi nghĩ rất có thể ông đến thăm ông tôi. Mà lúc ấy ông tôi đang nằm hút thuốc phiện trên lầu. Phúc đáo tâm linh, tôi chạy lên gác, nói với ông tôi:

– Ông ơi.. Ông Sĩ quan Nhật ông ấy đến. Con sợ ông ấy đến thăm ông.

Phòng khách của ông Ngoại tôi có bộ sa-lông Tầu, giường ngủ và cũng là nơi bầy bàn đèn của ông tôi ở ngay bên bộ sa-lông Tầu. Lúc ấy, bà trẻ của tôi, bà vợ ba của ông tôi, bà bằng tuổi mẹ tôi, đang nằm tiêm thuốc, ông tôi đang hút. Nếu vào nhà thăm ông tôi, ông Sĩ Quan Nhật sẽ lên đây, ông ta sẽ thấy ông Ngoại tôi, ông Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông, đang nằm làm cuộc Phi Yến Thu Lâm, nôm na là đang hít tô phe, nôm na hơn nữa là đang hút thuốc phiện!

Thấy tôi chạy lên báo, bà Ngoại tôi nhổm dậy, thổi tắt ngay ngọn đèn, bà bưng cả khay đèn cho xuống gầm giường, lấy cái mền phủ lên, tôi chạy xuống cửa nhà.

Ông Sĩ Quan Nhật đến thăm ông tôi thật. Tôi chạy xuống nhà cúi chào ông, nói mấy câu chào bằng tiếng Nhật tôi mới học được. Khi ông Nhật lên đến phòng khách, ông tôi đã bận áo dài ra chào. Hai vị nói chuyện với nhau bằng cách viết chữ Hán, trò này gọi là bút đàm.

Năm 1949 khi tôi sống trong Trường Huấn Luyện Tình Báo ở Ðại Từ, Thái Nguyên, trong một số báo Cứùu Quốc tôi thấy đăng bài thơ của Ông Ngoại tôi. Thơ Ông Ngoại tôi được Giải Nhì Cuộc Thi Thơ Kháng Chiến của báo Cứu Quốc.

Năm 1976 tôi gặp lại bà Dì tôi, Dì tôi con bà Ngoại Ba của tôi, sinh cùng năm với tôi. Dì tôi đi kháng chiến như tôi, năm 1950 Dì tôi cũng trở về Hà Nội như tôi, nhưng bà khác tôi ở chỗ sống hai năm ở Hà Nội, bà lại trở ra vùng kháng chiến, còn tôi, tôi vào Sài Gòn, tôi đi làm báo ở Sài Gòn. Năm 1954 bà Dì tôi kết hôn với một Thương Binh Trận Ðiện Biên.

Sau năm 1954 bọn Ủy Viên Tỉnh Bộ Việt Minh ở Hà Ðông in một quyển về lịch sử tỉnh Hà Ðông, trong đó dường như chúng có mạt sát ông tôi về cái tội ông tôi có thời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông. Bà Dì tôi kể chuyện ấy cho tôi nghe, bà nói:

– Ông Ngoại anh làm gì nên tội? Chỉ cần Ông phạm cái lỗi nhỏ như cái móng tay, chúng nó cũng làm to như quả đấm. Nhưng chúng nó có kể ra được cái tội gì của Ông đâu. Sẽ có ngày Dì chửi chúng nó. Chúng nó viết: .. Tên Nghiêm Duy Ninh.. Tên Nghiêm Duy Ninh..

Dì tôi đọc cho tôi chép bài Thơ Kháng Chiến Ông Ngoại tôi làm năm xưa, bà nói lẽ ra Thơ Ông Ngoại tôi Giải Nhất, nhưng bọn báo Cứu Quốc không muốn thấy Giải Nhất Thơ tờ báo của chúng về tay một ông cựu quan lại nên chúng để Thơ Ông Ngoại tôi Giải Nhì, nhưng cuộc Thi Thơ ấy cũng không có Giải Nhất. Rất tiếc khi sang Hoa Kỳ, tôi đã bỏ mất bài Thơ của Ông Ngoại tôi. Dì tôi còn đọc bài Thơ Ông Ngoại tôi làm ở làng quê, khi con chó vện của nhà bị người ta bắt mất. Tôi chỉ nhớ được có 3 câu:

Thương thay con Vện nhà ta
Vừa ra khỏi cổng, thế là mất ngay..

.. .. ..

Thôi thì cổ buộc, chẳng thà hồn bay..!

Quê ngoại tôi là làng Hòa Xá, Phủ Ứng Hòa, hay Phủ Vân Ðình, tôi không nhớ đúng, tỉnh Hà Ðông. Ði trên đê Sông Ðáy từ phủ Vân Ðình vào Chùa Hương, làng Hòa Xá nằêm bên phải, trong lòng sông. Tôi chỉ được về quê ngoại hai hay ba lần thời tôi nhỏ tuổi nên tôi không ghi nhớ được gì nhiều về quê ngoại. Ông Ngoại tôi có  cái trại trồng mía, nhãn, vải, trại có nhà ép mía nấu mật. Nhà của Ông Ngoại tôi trong làng là nhà lầu, lớn, đẹp. Sau năm 1954 bọn cộng sản lấy nhà của ông tôi, dùng làm Nhà Khách, nơi nghỉ của bọn khách cái khối gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa khi chúng đến tham quan. Chúng lấy nhà thì cũng được đi nhưng chúng cu-li ở việc nhà ông tôi có hàng số xi-măng ghi năm 1938 là năm xây nhà, chúng đập hàng số 1938, chúng thay vào đó hàng số 1956, ra cái điều là sau năm 1954 chúng xây nên tòa nhà đó.

Nói về toà nhà của Ông Ngoại tôi, Mẹ tôi ngậm ngùi:

– Ông làm cái nhà lớn quá, nền nhà cao hơn nền đình. Ngay khi nhà làm xong, người ta đã nói là không khá được.

Năm 1947 quân Pháp mở cuộc hành quân qua vùng làng quê ngoại tôi. Khi ấy nếu Ông Ngoại tôi ở trong tòa nhà trong làng, có thể đã không có gì bất hạnh xẩy ra, nhưng đúng vào hôm quân Pháp bất ngờ ập đến, Ông Ngoại tôi ở trong căn nhà ở Trại Vải. Ông Ngoại tôi cho đào hầm trong Trại. Có thể Ông Ngoại tôi cho rằng nếu Tây nó đến, nó sẽ vào làng chứ nó không vào trại. Năm ấy chưa người Việt nào ở Bắc Kỳ có kinh nghiệm về việc đào hầm bí mật, ai đời đào hầm trốn Tây mà lù lù như hầm tránh bom máy bay Mỹ. Bọn lính Tây ném tạc đạn xuống hầm, Ông Ngoại tôi, và hai Bà Ngoại tôi, Bà Hai, Bà Ba, cùng chết trong hầm.

Ông Ngọai tôi hiếm con trai, Bà Ngọai tôi sinh liền ba người con gái, Mẹ tôi là con đầu lòng, Bà Ngoại Hai của tôi là em ruột Bà Ngoại tôi. Khi tôi 6, 7 tuổi, Bà Ngoại tôi đã mất, tôi được gặp Bà Ngoại Hai của tôi mấy lần, bà hiền thật là hiền, bà sống ở làng quê, bà cũng lại sinh ra Dì tôi. Thế là hai bà, bốn cô con gái, khi Ông Ngoại tôi nạp Bà Ba ông mới có cậu tôi.

Bà Dì của tôi, Dì Lan, bà con của Bà Ngoại Hai của tôi, những năm còn là con gái ở Hà Ðông, có làm thơ, viết văn. Tôi nghe Mẹ tôi kể thơ, văn của Dì tôi được báo ở Hà Nội đăng. Một hôm có mấy ông nhà báo Hà Nội vào Hà Ðông, đến nhà Ông Ngoại tôi để gặp người viết bút hiệu là Sơn Ca, Dì tôi nói Sơn Ca là chị tôi, chị tôi đi vắng. Những năm 1941, 1942 xẩy ra vụ Dì Lan, bà Thi sĩ Sơn Ca, không biết vì chuyện gì, bỏ nhà vào chùa tu. Ðược tin Dì tôi ở trong một ngôi chùa gần Hà Nội, Ông Ngoại tôi nhờ Ông Bố tôi đến chùa đón Dì tôi về. Rồi Dì tôi lập gia đình, sống bình yên như mọi người. Chuyện Dì tôi đi tu xẩy ra khi tôi còn nhỏ quá, tôi không được biết gì nhiều.

Quê ngoại tôi, làng Hòa Xá, là làng quê của bà Nữ Sĩ Thụy An, người bị bọn Cộng Sản Hà Nội vu là làm gián điệp cho Pháp,  chúng bỏ tù bà 15 năm, bà có họ với mẹ tôi, bà là vai em mẹ tôi.

Bàn đèn thuốc phiện đầu tiên tôi thấy trong đời tôi là bàn đèn của Ông Ngoại tôi, người nằm bàn đèn hút thuốc phiện thứ nhất tôi thấy trong đời tôi là Ông Ngoại tôi. Trong số cháu nội, cháu ngoại của Ông tôi chỉ có tôi là tên làm văn nghệ, văn gừng và là đệ tử của Cô Ba Phù Dung, nôm na và huỵch tẹt là trong số các cháu của ông tôi chỉ có tôi mần thơ, viết truyện, làm báo và hít tô phe. Những năm tôi 40, 50 tuổi, trong những lúc nhớ Ông Ngoại tôi và những ngày sống trong thị xã Hà Ðông hiền hòa, êm đềm, đôi khi tôi nghĩ nếu ông tôi còn sống khi tôi là Hoàng Hải Thủy, khi tôi viết truyện, viết phóng sự vung vít ở Sài Gòn, tôi sẽ được nằm bàn đèn với ông tôi, hai ông cháu vừa đong vừa nói chuyện văn nghệ, văn gừng, chắc ông tôi vui, chắc ông hài lòng vì ông có anh cháu làm thơ văn giống ông.

Advertisements

One Response

  1. Ca khúc Nguyễn Đình Toàn:Tôi đã bám lấy đất nước tôi, bằng sức người vô hạn.
    Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom,
    Tim mang nghìn dấu đạn.

    Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi
    Để mong ở lại đây
    Dù thế nào cũng ở lại đây.

    Nhưng đất đã đỏ, vì bị nung bằng những lời dối trá
    Người bám vào lửa đã đốt cháy tay
    Lửa hờn căm, lửa hiểm thâm, lửa khốn cùng cay đắng
    Người lừa nhau, trời đất còn bưng mặt thảm thương

    Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ ?
    Người giết người, không kịp mở mắt trông
    Ba mươi năm mạng người như rác cỏ
    Giây hóa bình, còn thắt cổ người tin

    Khăn tang nào, che ngang đầu,
    những kiếp người một đời giông bãọ
    Trong binh lửa, giữa oán thù, hằng cầu mong đến khi bình an.

    Ai đâu ngờ, sau tiếng súng, đời lại thêm một thời nát tan
    Non sông buồn, đã điêu tàn, thêm máu lệ chứa chan một lần.

    Khăn tang người như cây rừng, khắp chốn giờ hẳn còn in bóng.
    Đêm oan hồn, đêm điên cuồng, còn chảy tuôn, máu chưa hề quên
    Nửa nước này, đã cố giết một nửa kia, để lập chiến công.
    Ai đau lòng, ai vô tình, ôi sách sử, dấu thiêng anh hùng.

    Tôi đã bám lấy đất nước tôi, bằng sức người đã kiệt
    bằng sức người đã tả tơi ước mơ, tay chân dường rũ liệt
    Tôi cố đợi ngày Việt Nam tái sinh, trong sông biển yêu thương.
    Cho dẫu lòng đã bạc lòng mong.

    Tài Liệu tham khảo: Tập nhạc “Quê Hương Thu Nhỏ” – 23 Ca khúc Nguyễn Đình Toàn – Văn Khoa xuất bản năm 2000

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: