• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ai Thắng Ai?

Tháng Tư năm 1975, Cộng Sản Bắc Việt chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Chúng thẳng tay tàn phá tất cả những tôn giáo từ 20 năm được tự do phát triển trong quốc gia dân chủ non trẻ này. Những việc đầu tiên bọn Bắc Cộng làm sau ngày chúng vào được Sài Gòn là bắt đi tù tất cả những viên chức chính phủ, những sĩ quan Quân Ðội VNCH. Cùng lúc chúng bắt tù những vị lãnh đạo hai tôn giáo lớn là Phật Giáo và Thiên Chuá Giáo.

Linh mục Nguyễn Văn Vàng, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn, bị Việt Cộng giam tù đến chết.

Sống trong cảnh bị khủng bố đến tận cùng, có thể nói tất cả những công dân Quốc Gia VNCH đều sợ hãi, không còn ai để ý đến việc những vị lãnh đạo tôn giáo của họ bị bắt. Thượng Tọa Thích Thiện Minh, nhân vật Phật Giáo nổi tiếng quyền uy, bị bọn CS bắt ngày nào không ai hay, cũng không ai biết Thượng Toạ bị giam ở đâu, ông chết ngày nào. Người ta chỉ biết ông chết nhiều năm sau ngày ông chết trong tù. Linh mục Nguyễn Văn Vàng bị bắt ngay trong năm 1975, ông bị giam mãi cho đến ngày ông chết. Không sao kể hết những cái Chết trong Tù thê thảm.

Những năm 1980, say men chiến thắng, cuồng điên vì giết người, bọn Ðầu Xỏ Bắc Cộng huynh hoang đặt câu hỏi:

“Ai thắng Ai?”

Ai đây là Duy Vật và Duy Tâm, Vô Thần và Hữu Thần.

Bọn Vô Thần Duy Vật  trong những năm 1980 tự cho là chúng chiến thắng.

o O o

Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị bọn CS giam tù 13 năm. Mời quí vị đọc một đoạn Hồi Ký  của Linh Mục Nguyễn Văn Thuận.

Ðến ngày 23-4-1975 tôi làm Giám mục đã được tám năm tại Nha Trang, Trung phần Việt Nam, Giáo phận đầu tiên Toà Thánh trao cho tôi. Tôi đã sống những ngày tháng hạnh phúc ở đó và Nha Trang vẫn chiếm  một chỗ đặc biệt trong quả tim tôi. Ngày 23-4-1975, Ðức Phaolô V1 đặt tôi làm Tổng Giám mục phó Sài Gòn. Khi Cộng sản đến Sài Gòn họ bảo rằng:

“Việc bổ nhiệm một Giám mục một tuần trước khi chúng tôi đến Sài Gòn là một âm mưu giữa Vatican và đế quốc, nhằm tổ chức chống Cộng sau này.”

Ba tháng sau, ngày 15-8-1975, tôi được mời vào Dinh Ðộc Lập lúc 2 giờ trưa và bị bắt ở đó.

Ðêm đó, trên đường dài 450 km, xe công an chở tôi về nơi quản thúc. Bao nhiêu tâm tình chung lẫn trong đầu óc tôi: lo lắng có, cô đơn có, mêt mỏi có, sau mấy thángt căng thẳng.. nhưng trong trí tôi, một quyết định sáng tỏ đã đánh tan mây mù. Tôi nhớ lời Ðức Cha John Walsh, một Giám mục Truyền giáo gốc Mỹ, đã nói lúc ngài được tự do sau 12 năm tù ở Trung Cộng:

“Tôi đã mất nửa đời người để chờ đợi.”

Rất đúng! Tất cả mọi tù nhân, trong đó có tôi, phút giây nào cũng mong đợi tự do. Suy nghĩ kỹ, trên chiếc xe Toyota trắng, tôi đã đặt cho mình một quyết định:

“Tôi sẽ không đợi chờ. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương.”

Ðây không phải là một cảm hứng đột xuất, nhưng là một xác tín đã ấp ủ suốt đời tôi từ chủng viện. Tôi nghĩ: “Nếu tôi mất thì giờ đợi chờ, không làm gì hết, biết đâu những điều tôi đợi sẽ không bao giờ đến. Chỉ có một điều, dù không đợi cũng vẫn đến, đó là Sự Chết.”

Ðêm 2-5-1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt giáo dân và giáo phận Nha Trang, tôi đã khóc nhiều. Ðó là lần độc nhất tôi khóc thổn thức trontg tám năm tôi sống ở Nha Trang – khóc vì thương nhớ, nhưng tâm hồn tôi bình an, vì tôi vâng lời Ðức Thánh Cha.

Tiếp đến là gian khổ thử thách tại Sài Gòn, là việc tôi bị bắt, bị đưa trở lại Nha Trang, nơi tôi bị biệt giam khắc nghiệt nhất. Ở Nha Trang, nơi tôi bị giam không xa Toà  Giám Mục của tôi. Sáng tối tôi nghe tiếng chuông nhà thờ chánh toà vẳng đến, tiếng chuông như xé nát tim tôi. Ðêm đến tôi nghe tiếng sóng biển rì rào.

Từ Nha Trang tôi bị đưa trở lại Sài Gòn, tôi bị giam ở Trại Thủ Ðức, vùng Tam Hà, ngày đêm tôi nghe không biết bao nhiêu tiếng chuông nhà thờ vẳng đến từ những nhà thờ trong vùng. Ðêm 1-12-1975 cùng với 1.500 bạn tù đói mệt, vô vọng, bị còng tay hai người một Còng số 8, bước xuống hầm tầu Hải Phòng đậu tại bến Tân Cảng gần cầu xa lộ, để ra trại cải tạo Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phú, trong thung lũng núi Tam Ðảo, mùa đông hai năm 1976-1977 rét 2 độ C.

( .. .. .. )

Ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh, tôi bị giam trong một phòng không có cửa sổ, phải đi qua 3 lớp cửa trong một hành lang tối mới ra đến ngoài trời. Vào đó nóng cực kỳ, tôi ngột ngạt và cảm thấy trí óc mất sáng suốt dần dần, cuối cùng là mê man. Có lúc người ta để đèn sáng như ban ngày, lúc khác lại nằm nhiều ngày đêm trong tối đen. Phòng giam vừa nóng vừa ẩm đến nỗi tôi phải xuống nằm dưới nền phòng, còn nấm thì mọc lên trắng cả chiếc chiếu của tôi. Lúc nằm trong tối, tôi thấy có một lỗ dưới chân vách, ánh sáng bên ngoài lọt vào, tôi lết đến, kê mũi vào lỗ đó để thở. Khi trời mưa, nước ngập bên ngoài, những con trùng bò qua lỗ đó vào phòng, giun nhiều nhất, một lần có con rết dài. Dù thấy chúng nhưng tôi yếu mệt không làm gì được, tôi cứ để cho chúng bò quanh, khi nước rút, chúng lại bò ra.

Sau này hai linh mục bị giam cách tôi hai lớp cửa thuật lại cho tôi biết:

“Một hôm, cô Thanh, cấp dưỡng, mở cửa phòng giam cho chúng con đến nhìn Ðức Cha nằm dưới đất, cô ấy nói:

– Cho hai anh nhìn ông Thuận lần cuối, ông ấy sắp chết!”

Nhưng trong cơn cơ cực này, Chúa đã cứu tôi.

Có lúc Chúa dùng giáo dân để dạy tôi cầu nguyện. Thời gian bị quản thúc ở Giang Xá, có ông lão nhà quê, tên là ông Quản Kính, từ giáo xứ Ðại Ôn lẻn vào thăm tôi. Tôi không bao giờ quên được lời ông khuyên tôi:

“Thưa cha, cha không  hoạt động tông đồ được thì xin cha cầu nguyện cho Hội Thánh; ở trong tù cha đọc một kinh giá trị hơn một nghìn kinh cha đọc lúc  cha sống tự do.”

Ðức Mẹ sử dụng cả người cộng sản để nhắc tôi cầu nguyện. Ông Hải là người được công an cho vào tù cùng phòng với tôi, ông có nhiệm vụ dò hỏi tôi về những chuyện công an cho là bí mật  của tôi. Nhưng ông lại trở thành người bạn tốt của tôi. Trước ngày ra khỏi phòng tù, ông hưá với tôi:

“Nhà tôi ở Long Hưng, cách La Vang 3 km, tôi sẽ đến Nhà thờ La Vang cầu nguyện cho anh.”

Tôi tin ở lòng thành thật của anh bạn, nhưng tôi hoài nghi làm sao một người cộng sản mà đi cầu nguyện Ðức Mẹ ban ơn cho người tù của chế độ như tôi!

Sáu năm sau, đang lúc tôi ở biệt giam,  tôi được một thư của ông Hải. Ông viết:

“Anh Thuận thân mến, tôi đã hưá với anh tôi sẽ đến cầu nguyện Ðức Mẹ La Vang cho anh. Mỗi chủ nhật khi nghe tiếng chuông nhà thờ La Vang, tôi lên xe đạp đi đến nhà thờ – nhà thờ nay chỉ còn Tượng Ðài Ðức Mẹ vì bom đạn đã phá nhà thờ – tôi cầu nguyện thế này:

“Thưa Ðức Mẹ, tôi không có đạo, tôi không thuộc kinh nào cả, nhưng tôi đã hứa tôi sẽ đến đây cầu nguyện Ðức Mẹ cho anh Thuận, nên tôi đến đây. Xin Ðức Mẹ biết anh Thuận cần gì thì cho anh ấy.”

Tôi hết sức cảm động. Tôi đọc đi, đọc lại rồi đặt thư xuống, nhắm mắt lại, tôi thưa với Ðức Mẹ Maria:

“Lậy Mẹ, Mẹ đã dùng anh cộng sản này để dậy con cầu nguyện, chắc Mẹ đã nhậm lời anh ấy xin cho con nên hôm nay con mới còn sống đây!”

Mẹ Maria Vô Nhiễm không bỏ quên tôi. Mẹ đã đi bên tôi trên con đường gập ghềnh đen tối của lao tù. Trong những năm tháng thử thách triền miên ấy, tôi đã cầu xin Mẹ cách đơn sơ mà đầy tin tưởng:

“Lậy Mẹ, nếu Mẹ thấy con không còn có thể phục vụ Hội Thánh được nưã thì xin Mẹ cho con đặc ân được chết ở trong tù, cho con được hy sinh trọn vẹn đời con. Nếu Mẹ thấy con còn phục vụ Hội Thánh được, xin Mẹ cho con một dấu chỉ: Xin Mẹ cho con ra khỏi tù trong một ngày lễ của Mẹ.”

Một hôm trời mưa, tôi được ra khỏi phòng giam để tự  nấu bữa ăn trưa trong bếp của nhà tù. Khi đang ở trong bếp, tôi nghe tiếng chuông điện thoại  trong phòng chiến sĩ trực gác. Tiếng chuông điện thoại làm tôi nghĩ:

“Biết đâu lại chẳng có tin gì cho mình? Hôm nay là Ngày Lễ Ðức Mẹ dâng mình vào Ðền Thánh, Ngày 21 Tháng 11.”

Năm phút sau, anh chiến sĩ trực đến cửa bếp, anh hỏi tôi:

“Ông Thuận ơi, ông ăn cơm chưa?”

“Chưa ạ, tôi đang thổi cơm.”

“Ăn xong, ăn mặc đàng hoàng, đi gặp lãnh đạo.”

Tôi hỏi:

“Thưa lãnh đạo là vị nào ạ?”

“Tôi không biết, tôi chỉ được biết thế thôi. Chúc ông may mắn.”

Lúc 3 giờ chiều, tôi được đưa đến Nhà Khách Chính Phủ bên Hồ Ha-le. Ở đây tôi gặp ông Mai Chí Thọ, Bộ Trưởng Nội Vụ (Bộ Công An). Sau lời chào hỏi xã giao, ông Bộ Trưởng hỏi tôi:

“Ông có nguyện vọng gì không?”

Tôi trả lời:

“Thưa có.”

Và không đợi hỏi, tôi nói ngay:

“Tôi muốn được tự do.”

“Bao giờ?”

“Hôm nay.”

Ông Bộ Trưởng có vẻ ngạc nhiên vì lời nói của tôi. Tôi tin chắc tôi được ra khỏi tù hôm nay vì tôi đã xin Ðức Mẹ cho tôi ra khỏi tù vào một Ngày Lễ của Ðức Mẹ. Hôm nay là Ngày Lễ của Mẹ. Ðể làm tan sự ngạc nhiên và bối rối của ông Bộ Trưởng, tôi nói:

“Thưa ông, tôi ở tù đã lâu lắm, đã qua ba đời Giáo Hoàng:  Phaolô VI, Gioan Phaolô 1 và Gioan Phaolô II. Về phiá xã hội chủ nghĩa, tôi đã ở tù qua bốn đời Tổng Bí Thư Liên Xô: Brezhnev, Andropov, Chernenko và Gorbachev.”

Ông Bộ Trưởng cười, nói:

“Ðúng. Ông nói đúng.”

Ông quay qua bảo người bí thư:

“Hãy liệu đáp ứng nguyện vọng của ông đây. Cho ông ấy về trong ngày hôm nay.”

Lòng tôi vui mừng tạ ơn Mẹ Maria. Không những Mẹ cho tôi được tự do mà Mẹ còn cho tôi cả dấu chỉ của Mẹ. Lời xin của tôi được Mẹ nghe và cho.

Ngưng trích Hồi ký của Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận.

Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, tù cấm cố 13 năm.

CTHÐ: Tôi theo Ðạo Chúa khi tôi gặp Tình Yêu. Vợ tôi đạo Thiên Chuá. Khi yêu nhau tôi hưá theo Ðạo, làm lễ rửa tội, làm hôn lễ ở nhà thờ, nhưng tôi quên lời hưá. Năm 1977 trong căn nhà nhỏ của chúng tôi,  một buổi sáng tôi nhìn thấy dưới hai mắt vợ tôi có ánh lên hai quầng thâm. Bóng đen ấy chỉ thoáng hiện, thoáng biến, nhưng tôi nhìn thấy rõ. Hai lần bóng đen hiện lên. Tôi không nói cho vợ tôi biết anh vừa thấy dưới hai mắt em có hai bóng đen, vì tôi nghĩ tôi  nói  chỉ làm cho vợ tôi sợ. Và tôi nghĩ có thể có tai họa đến với các con tôi.

Tai họa đến với tôi. Hai, ba ngày sau, bọn Công An đến nhà tôi, còng tay tôi đưa vào Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Khi ghi tên tôi vào sổ Tù, anh công an hỏi tôi:

“Anh đạo gì?”.

Tôi trả lời:

“Tôi không có đạo nào cả.”

Xét túi áo tôi anh công an thấy tấm hình Ðức Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp, anh quăng tấm hình lên bàn:

“Anh giữ cái này mà anh nói anh không có đạo.”

Anh có vẻ khinh tôi vì tôi chối Ðạo.  Trong những ngày ấy, tôi linh cảm chuyện tôi có thể bị bắt, nên tôi xin Ðức Mẹ Maria bảo vệ tôi, tôi giữ tấm ảnh Mẹ trong túi áo ngực, túi áo bên trái trên trái tim tôi. Trên xe đạp đi lang thang trong thành phố, tôi cầu nguyện Ðức Mẹ, tôi xin Ðức Mẹ cứu tôi, tôi xin Ðức Mẹ cho tôi không bị bắt. Tôi đã bị bắt. Sự quan trọng là Ðức Mẹ vào nhà tù cộng sản với tôi. Lần ấy Ðức Mẹ không cho tôi ơn tôi xin nhung tôi vẫn một trái tim tin tưởng Ðức Mẹ không bỏ tôi.

Tôi nói tôi không có đạo vì  khi ấy tôi chưa phải là tín hữu Công Giáo. Tôi quá thành thật. Tôi không nói cho anh công an Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu biết tại sao tôi có ảnh Ðức Mẹ Maria mà tôi lại nói tôi không phải là người Thiên Chúa Giáo.

Những năm 1980 công dân Quốc Gia VNCH bị bắt khi phải khai lý lịch đều bị hỏi: “Ðạo gì?” Người nào trả lời: “Phật giáo,” bọn công an ghi là “Không có đạo.” Lý lịch còn câu hỏi: “Dân tộc nào?” Trả lời “Dân tộc Việt” là không được, phải là “Dân tộc Kinh.”

Hoà Thượng Quảng Ðộ – ảnh những năm 1980 ông bị an trí nơi làng quê ông ở miền Bắc.

Những tháng cuối năm 1957 tôi chỉ có một chỗ làm là Tuần báo Kịch Ảnh, lương tháng của tôi là 5.000 đồng. Vợ chồng tôi vừa có cháu Kiều Giang, con thứ hai của chúng tôi. Hai vợ chồng, hai con nhỏ, nhà mướn, tháng chỉ có 5.000 đồng, chúng tôi thiếu tiền để sống. Và làm xong số báo Xuân năm ấy, tuần báo Kịch Ảnh tự đình bản. Báo không bán được. Tết ra, tôi không có sở làm, một ngàn đồng một tháng tôi cũng không có.

Tết ấy ông bà nhạc tôi lên Ðàlạt ăn Tết, ông bà đi xe ô tô nhà, vợ chồng  tôi được đi theo. Tôi ở Ðàlạt ba ngày Tết mà lòng tôi như bị lửa đốt. Tôi không nhìn thấy công việc làm ở đâu hết. Về Sài Gòn tôi không biết tôi phải làm sao để có thể sống.

Trên xe về Sài Gòn, qua khu Gia Kiệm, Hố Nai, nhìn thấy những nhà thờ hai bên đường, tôi thưa với Ðức Mẹ Maria:

“Xin Mẹ cho con có việc làm. Cứ mỗi nhà thờ bên đường, con xin dâng Mẹ 3 Kinh Kính Mừng. Con cám ơn Mẹ.”

Tất nhiên tôi thưa thầm, tôi đọc kinh thầm. Vợ tôi ngồi bên không biết tôi đọc kinh. Gia Kiệm, Hố Nai là khu đồng bào công giáo di cư vào Nam năm 1954. Khu có rất nhiều nhà thờ. Dường như mỗi ông linh muc di cư có một xứ đạo, mỗi xứ đạo có một nhà thờ. Chỉ vài trăm mét là có một nhà thờ. Nhà thờ bên phải đường, nhà thờ bên trái đường. Thấy một nhà thờ, tôi chưa đọc hết 3 Kinh tôi đã thấy hai, ba nhà thờ khác. Tôi bấm đốt ngón tay ghi số nhà thờ tôi thấy. Ðọc hết 3 Kinh, tôi lùi lại một đốt ngón tay. Trong khoảng hai giờ đồng hồ tôi đọc đến 100 Kinh Kính Mừng.

Hôm xưa ấy tôi không nói cho vợ tôi biết tôi xin Ðức Mẹ Maria cho tôi có việc làm.Từ Ðàlạt về Sài Gòn ngáy Mồng Bốn Tết, khoảng 9 giờ sáng Ngày Mùng Sáu Tết, có người gọi tên tôi trước cửa căn nhà chúng tôi ở số 78/5 đường Mayer, đường mới đổi tên là đường Hiền Vương. Tôi nhìn ra. Ang Ca đến. Anh ngồi trên xe gắn máy, bảo tôi:

“Bà Bút Trà đăng báo mời Toa đến toà soạn. Toa biết chưa?”

Mười một giờ trưa tôi đến toà báo Sàigonmới. Ðúng hơn là tôi trở lại toà báo. Tôi đã là ký giả-phóng viên Sàigonmới năm 1954, lương tháng 3,000 đồng. Mới lấy nhau, vợ chồng tôi phải ở nhà riêng, không còn ở nhờ nhà bố mẹ được nữa. Tôâi đòi lương tháng 4.000 đồng, bà Bút Trà không đáp ứng, tôi bỏ Sàigonmới, tôi đi làm thư ký Sở Mỹ USOM – United States Operation Mission, tiền thân của USAID Sở Viện Trợ Mỹ – rồi tôi bỏ USOM để trở về với nghề ký giả và việc Viết Tiểu Thuyết. Năm 1957 khi tôi không có việc làm, chỉ vài ngày sau buổi chiều trên đường Gia Kiệm – Hố Nai – Sài Gòn tôi xin Ðức Mẹ Maria cho tôi có việc làm, bà Bút Trà đăng báo gọi tôi trở về tòa soạn nhật báo Sàigònmới.

Trở về tòa báo xưa, gặp lại bà chủ nhiệm sau hai năm, bà Bút Trà bảo tôi:

“Trước đây biết là anh có tài mhưng báo bán yếu quá, không có tiền trả anh. Nay báo bán khá rồi, chúng tôi mời anh về. Anh ra nói chuyện với Sáu Khiết, nay chúng tôi để cho các em phụ giúp chúng tôi.”

Năm Thành, Sáu Khiết là hai anh con ông bà Bút Trà, hai anh nay là hai Thiếu chủ của tôi. Thoả thuận tiền lương với Sáu Khiết xong, tôi ký bông lãnh ngay nửa tháng tiền lương. Sàigònmới có lệ trả lương nhân viên theo các nhật báo Pháp: nhân viên lãnh lương trước, làm việc sau, Mồng Một đầu tháng lãnh lương đến ngày 15 trong tháng, ngày 15 lãnh lương đến ngày 30. Tôi trở lại là nhân viên tòa soạn Nhật Báo Sàigonmới, tờ nhật báo có số bán cao nhất một thời.

Nhân đọc chuyện Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được Ðức Mẹ Maria ban ân, tôi kể với bạn chuyện tôi: tôi xin, tôi được Ðức Mẹ Maria ban ân năm 1957.

Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận nói về “Nghệ Thuật Sống An Bình trong Gian Khổ.”

Trong gian khổ có mấy điều con nên tránh:

Ðừng tìm biết tại sao, tại ai. Hãy cám ơn dụng cụ nào đó Chúa dùng để thánh hóa con.

Ðừng than thở với bất cứ ai. Chuá và Ðức Mẹ là nơi con tâm sự.

Chuyện đã qua đừng nhắc lại, đừng trách móc hận thù. Quên đi, không nhắc lại bao giờ. Và nói “Alleluia.”

Hãy nghe nhiều hơn nói.

Suy nghĩ trước khi nói.

Không nói khi lòng sao xuyến, bối rối, lo sợ.

Ðừng bao giờ nói lời phản bác người khác.

Luôn nói đến cái Tốt của người.

Không tự bào chữa, không minh oan.

Lúc nào cũng khiêm tốn.

Không bao giờ nói trái Sự Thật.

Thận trọng trong lời nói.

Ðừng bao giờ tự buông thả nói theo hứng.

Im lặng khi xúc động.

Không bao giờ nói theo kiểu “trút hết gan ruột ra.”

Không tò mò chuyện người khác.

Không phàn nàn, không chê trách, không chỉ trích ai, không than thở số phận mình.

Không nói về mình và những chuyện riêng của mình.  

Im lặng là Hay nhất.

Im lặng trong mọi trường hợp vừa ý cũng như trái ý, vui sướng cũng như đau khổ.

CTHÐ: Tôi vẫn sống theo những Lời Ðức Tổng Giám Mục khuyên, nhưng tôi không theo lời khuyên: “Không chê trách, không chỉ trích ai.”

Từ ngày đến Mỹ – đã 17 năm – tôi có viết chê trách, chỉ trích một số người. Tôi chê trách họ vì những việc họ làm, tôi không bới móc đời tư của họ. Khi tôi bị người lôi đời tư ra chửi, tôi im lặng, tôi không cay cú trả đũa.

Tôi không bao giờ Viết, Nói trái Sự Thật.

Tôi vẫn còn than thở, oán trách những khi tôi gặp tai họa, khi tôi  đau buồn,  thất vọng, tôi thường viết về tôi và kể lể những chuyện riêng của tôi, tôi vẫn viết theo kiểu “trút hết gan ruột” ra, tôi vẫn viết phản bác những người cùng thời khi họ nịnh bợ bọn Cộng, khi họ xúc phạm đến những chiến sĩ nước tôi đã chết để cho họ được sống.

Theo lời Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, từ nay tôi chỉ than tôi khổ với Chuá Ky-tô và Ðức Mẹ Maria.

o O o

Từ năm 2000, em nhỏ lên ba cũng biết bọn Vô Thần Duy Vật đã thua những người chống Cộng Sản.

Advertisements

8 Responses

  1. ký giả nằm vùng cho cộng sản. Tôi không biết chắc miền Nam trước 30 tháng 4 1975 có bao nhiêu ký giả nằm vùng cho cộng sản, tôi chỉ nhớ có mấy người. Có người tôi quen thân, cũng có người tôi chỉ gặp một vài lần mà không quen. 
    Người tôi quen thân nhất là Nguyễn Ngọc Lương vì Lương cùng làm đài phát thanh Saigon với tôi nhiều năm, lại cùng quê Nam Ðịnh. Lương ở Hải Hậu, tôi ở ngay tỉnh lỵ. Vì tình đồng hương, chúng tôi dễ thân nhau. Hồi mới gặp Lương, tôi không ngờ ông lại là một cán bộ cộng sản được gài vào Nam theo cuộc di cư năm 1954. Ông có vẻ nhà quê và ít hiểu biết. Vào cuối thập niên 1950, thuốc chữa bệnh lao phổi rất hiệu nghiệm là Streptomycine, thế mà Lương không biết. Khi tôi sang thăm ông bên Thị Nghè, thấy ông gầy và xanh xao. Tôi ngạc nhiên hỏi ông có ốm đau gì không, thì ông cho biết bị lao phổi và đang uống thuốc Bắc. Tôi rất ngạc nhiên về sự kém hiểu biết của ông. Vậy mà cũng là biên tập viên phòng bình luận đài phát thanh Saigon. Tôi liền nói :
    “Trời ơi, sao cậu lại uống thuốc Bắc ? Cậu phải đi bác sĩ hoặc vào nhà thương ngay. Thuốc Bắc làm sao chữa được ho lao.”  
    Quả nhiên sau một thời gian nằm bệnh viện Saint Paul, Lương khỏi bệnh. Con người như thế, ai có thể ngờ là một cán bộ cộng sản nằm vùng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, ông bị công an bắt. Không phải một lần mà nhiều lần. Tôi không hiểu sao công an bắt rồi thả mà không giam giữ luôn trong tù hoặc đưa ra tòa nếu biết chắc ông hoạt động cho cộng sản ? Không những thế, ông tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyến Thanh còn vào khám thăm Lương. Nhưng rồi ông không làm đài phát thanh nữa mà ra mở báo riêng, một tờ nguyệt san (tôi quên tên tờ nguyệt san này). Tòa báo ở đường Phạm Ngũ Lão và bút hiệu ông là Nguyễn Nguyên. Như vậy, chính quyền miền Nam quá khoan dung.  
    Sau 30 tháng 4 năm 1975, Lương lộ nguyên hình là một cán bộ cộng sản trong lãnh vực báo chí. Ði đâu ông cũng ôm kè kè một chiếc cặp da đầy các bài viết. Ông thường hôi thúc tôi viết cho ông, nhưng không nói rõ sẽ đăng ở báo nào. Một hôm, Ông mở cặp lấy ra hai bài viết của hai tác giả nổi tiếng miền Nam (tôi xin phép được dấu tên hai tác giả này vì một người đã qua đời và một hiện sống ở Úc). Tôi tò mò đọc lướt qua hai bài viết. Cả hai đều bị Lương sửa bằng bút đỏ, như thầy giáo sửa bài luận văn của học trò. Thật ra, tôi cũng chưa bao giờ sửa bài học trò quá đáng như vậy. Tôi rất ngạc nhiên về sự sửa chữa ấy. Dù sao họ cũng là những tác giả đã nổi tiếng trước 1975.   
    Sau nhiều lần bị Lương hối thúc, tôi đành viết một truyện ngắn, tên là “Tiếng Hát Trương Chi” với mục đích bênh vực các nhà văn miền Nam cũ, cho rằng họ là những người có tài, nhưng bị chế độ mới ruồng rẫy, ghét bỏ. Khi tôi viết xong, tìm Lương thì không thấy ông đâu. Có người cho biết lúc đó ông phải về quê Hải Hậu, Nam Ðịnh, để xác nhận lại đảng tịch và cấp bậc thượng tá. Khi tôi đưa các con tôi vượt biên thì ông vẫn chưa trở lại Saigon.
    Sau khi được định cư ở Mỹ, tôi lại liên lạc được với Lương qua những lá thư gửi bưu điện. Tôi biết tin ông không còn được đảng và nhà nước cộng sản trọng dụng nữa. Ngay cả vợ ôg cũng đã bỏ ông. Bà là em gái ông Ngô Vân, chủ nhiệm nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội trước năm 1954. Bà làm cho sở Mỹ, đáng lẽ được Mỹ bốc ra khỏi Việt Nam trước 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng vì chồng bà là cán bộ cộng sản nên bà bị Mỹ bỏ rơi.
    Cuối cùng Lương qua đời vì bệnh ung thư.  
    Người thứ hai mang tiếng nằm vùng hay thân cộng là Vũ Hạnh. Tôi quen Vũ Hạnh từ hồi cùng làm báo Ngày Nay của nhà văn Nguyễn Họat tức Hiếu Chân, Rồi sau đó lại cùng dạy ở một trường tư. Vũ Hạnh tên thật là Nguyễn Ðức Dũng, người Ðà Nẵng (hay Hội An ?). Theo ông Vũ Ký, một giáo sư của trường Pétrus Ký, cũng là một nhà văn, cùng quê với Vũ Hạnh, thì Hạnh đã bị chính quyền tỉnh Ðà Nẵng (hay Hội An ?) nọc ra giữa sân tòa tỉnh trưởng để đánh đòn về tội thân cộng, rồi thả ra mà không bắt giam. Quả thật tôi không biết chuyện này thực hư ra sao nhưng thắc mắc nếu đã biết Hạnh là cộng sản nằm vùng mà không bắt giam, chỉ đánh đòn thôi ? Không lẽ chính quyền miền Nam chống cộng một cách…ngây thơ như vậy ?
       
    Dù nhiều người không ưa Vũ Hạnh, nhưng ai cũng phải công nhận ông viết văn hay. Nhiều lần ông đề nghị ông và tôi xúat bản một tờ báo lấy tên là “Ði Về Hướng Mặt Trời”. Tôi đứng tên chủ nhiệm, ông chủ bút. Tôi hiểu thâm ý của ông nên cương quyết từ chối.
       
    Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chính quyền cộng sản tổ chức một buổi họp mặt các văn nghệ sĩ Saigon ở tòa đại sứ cũ của Ðại Hàn, Hạnh và mấy cán bộ nàm vùng, như Thái Bạch, Nguyễn Ngọc Lương đều đeo súng lục bên hông. Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn nửa đùa nửa thật nói với Hạnh :”Anh em văn nghệ chỉ quen dùng bút, chư có biết chơi súng đau.” Hạnh lườm xéo Tuấn rồi bỏ đi.
    Nhưng mấy tháng sau đó, tôi tình cờ gặp Hạnh ở giữa đường. Tôi chưa kịp hỏi thăm, ông đã lắc đầu nói nhỏ :”Totalement decu !” (hoàn toàn thất vọng). Tôi không dám có ý kiến gì vì khi ở với cộng sản, ta không thể tin bất cứ ai trừ những người thân trong gia đình. Sau đó ít lâu, một người bạn giầu có của tôi cho biết anh cộng tác với Vũ hạnh để mở một gánh hát cải lương. Tôi không quan tâm mấy nên không hỏi thêm điều gì, vì lúc đó vợ tôi đang ốm nặng. Dường như gánh hát thất bại nên ít lâu sau lại nghe tin Hạnh lập xưởng làm xà bông. Tất nhiên cũng phải có người bỏ vốn. Tôi thắc mắc tại sao Hạnh thân cộng, nằm vùng mà sau khi chiếm được miền Nam cộng sản không dùng Hạnh khiến ông long đong phải làm hết việc này đén việc khác để kiếm sống ? Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi tôi đang tìm đường vượt biên, một hôm tôi tình cờ gặp Trần Phong Giao ở nhà bưu điện Saigon. Giao là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ nguyệt san Văn trước năm 1975. Giao và tôi ngoài tình bạn văn nghệ còn có tình đồng hương nữa. Chúng tôi cùng sinh trưởng ở Nam Ðịnh. Vì lâu không gặp nhau, chúng tôi ngồi ngay xuống bậc thềm nhà bưu điện để nói chuyện. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, cuối cùng tôi thì thầm cho Giao biết tôi đang tìm đường vượt biên. Ông liền hỏi tôi có biết Vũ Hạnh cũng đang tìm đường vượt biên không ? Tôi ngạc nhiên hỏi :
    ”Nó mà cũng vượt biên ?”
    Giao lắc đầu và cho biết Hạnh tìm đường cho các con Hạnh thôi. Rồi Giao cười, nửa đùa nửa thật :
    “Thằng ấy mà ra khỏi nước thế nào cũng bị người ta quẳng xuống biển.”
    Rồi Giao nói thêm :
    “Ngay cả việc giới thiệu cho con nó đi thôi cũng không dám, lỡ nó tố cáo với công an tổ chức vượt biên thì mệt lắm.”
    Có một điều rất ngạc nhiên là từ khi ra khỏi nước, sống ở hải ngoại, tôi không hề nghe ai nhắc tới Vũ Hạnh nữa, kể cả những bạn văn nghệ còn sống ở Việt Nam. Cho đến nay tôi không hiểu Hạnh còn sống hay đã chết ?
    Nhà văn thứ ba bị coi là nằm vùng cho cộng sản là Ngọc Linh. Khi viết truyện cho nhật báo Hồa Bình, cứ hai ba hôm tôi lại phải ghé tòa báo để đưa bài. Lần nào tôi cũng gặp Ngọc Linh. Ông làm thường trực trong ban biên tập, đồng thời viết cả truyện dài cho báo. Ông là một nhà văn có nhiều độc giả hâm mộ. Ông có truyện đã được đưa lên sân khấu cải lương và quay thành phim, như truyện “Ðôi Mắt Người Xưa”. Một hôm tôi ghé tòa soạn Chính Luận để đưa bài, một nhân viên tòa soạn hỏi tôi có biết Ngọc Linh là cộng sản nằm vùng không ? Tôi hơi ngạc nhiên vì quả thật tôi không bao giờ nghĩ rằng Ngọc Linh lại có thể là một cán bộ cộng sản. Ông có một cuộc sống rất sung túc và rất…tiểu tư sản. Ông đi xe hơi Nhật mới toanh, là chủ một phòng tập dưỡng sinh (không rõ là Tai chi hay Yoga ?) Truyện ông viết rất ướt át đày tình cảm. Ông biết rõ lập trường chống cộng của tôi mà vẫn thân mật với tôi. Ông đã giới thiệu nhà xuất bản in sách của tôi.
    Rồi chỉ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông mới tỏ ra thân cộng. Ông tích cực họat động cho hội Văn Nghệ Sĩ cộng sản. Một hôm, tôi tình cờ gặp ông giữa đường, lúc đó ông không còn lái xe hơi nữa mà đi xe đạp, tôi vui vẻ chào ông mà ông ngoảnh mặt làm ngơ như chưa từng biết tôi là ai. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng hiểu ra ngay. Tôi không buồn mà cũng chẳng giận ông. Ít lâu sau thì nghe tin ông bị tai biến mạch máu não và qua đời.
    Trong giới văn nghệ Saigon, người ta cũng đồn nhà văn Sơn Nam nằm vùng. Tôi không thân với Sơn Nam, chỉ thỉnh thoảng gặp nhau ở tòa báo Chính Luận khi cung đến đưa bài. Chúng tôi lạnh nhạt chào nhau một cách xã giao. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tôi thấy ông cũng không có gì thay đổi.
    Người cuối cùng nằm vùng trong làng báo Saigon mà tôi biết là Thái Bạch. Tôi chỉ gặp Thái Bạch có hai lần. Lần thứ nhất ở tòa báo Tự do vào năm 1955, rồi ông mất tích luôn. Sau 30 tháng 4 năm 1975, trong buổi họp các văn nghệ sĩ Saigon ở tòa đại sứ Ðại Hàn cũ, ông xuất hiện và có đeo súng lục bên hông với vẻ mặt vênh váo.
    Tổng số những nhà văn nhà báo nằm vùng cho cộng sản hay thân cộng, tôi chỉ biết có thế thôi. Nhưng tôi thắc mắc về hai chữ “nằm vùng”. Theo tôi hiểu thì “nằm vùng” là có hoạt động cho cộng sản, chống lại chính quyền quốc gia miền Nam. Ngay cả Nguyễn Ngọc Lương là người được cộng sản gài theo dân Bắc di cư vào Nam và có cấp bậc thượng tá và là đảng viên đảng cộng sản, tôi cũng không thấy có hoạt động gì có lợi cho cộng sản. Không những thế, ông còn làm trong phòng bình luận của đài phát thanh Saigon. Nhân viên của phòng này có nhiệm vụ viết những bài ca tụng hoặc giải thích mọi việc làm của chính phủ. Một biên tập viên của chính phòng đó một hôm nói đùa với tôi rằng họ làm công việc “mẹ hát con khen hay”. Lương cũng phải viết những bài theo lập trường đó, không thể viết ngược lại được. Người ta chỉ biết ông là cộng sản khi ông bị công an Saigon bắt mấy lần.
    Ðối với những người “nằm vùng” hay thân cộng, tôi không được đọc một bài viết chống chính phủ quốc gia hay ca tụng cộng sản nào. Như vậy, có thật họ nằm vùng hay chỉ ngấm ngầm thân cộng thôi ? Nếu chỉ là thân cộng hay có cảm tình với cộng sản thì tôi dám nói rằng trước 30 tháng 4 năm 1975, đa số người Nam có cảm tình với cộng sản vì nhiều gia đình có thân nhân tập kết ra Bắc. Rồi chỉ sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm miền Nam và giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam họ mới vỡ mộng. Vào cuối năm 1975, một hôm nhà văn Phan Nghị đến thăm tôi. Khi tôi ra mở cửa, ông toe toét cười nói oang oang : “Mày biết không ? Bây giờ miền Nam hết người mù rồi.”
    Tôi chưa hiểu ý ông định nói gì thì ông đã tiếp :
    “Chúng nó sáng mắt rồi, mày ạ.” TQK (6-2012)

    • Cám ơn bác tam đã viết lại những mẩu chuyện thật, nhắc nhở lại làng báo thời buổi nhá nhem đó. Chuyện của những kẻ nằm vùng, những kẻ trở mặt hay những người sáng mắt đều là những chuyện chứng nhân cho lịch sử của miền Nam Tự Do. Nhắc đến báo Chính Luận lúc nào cũng làm cháu xao xuyến, nhớ đến các chú các bác của làng báo thời đó, nhất là chú Đậu Phi Lục, chủ bút và tòa soạn Chính Luận.

  2. CTHÐ: Tôi vẫn sống theo những Lời Ðức Tổng Giám Mục khuyên, nhưng tôi không theo lời khuyên: “Không chê trách, không chỉ trích ai.”
    Con giống Bác ở điểm này,nếu ai giữ được như lời TGM nêu trên thì sẽ là Thánh.
    Đức TGM có lẽ đã thành Thánh.

  3. 17/6/2012

    Ối giời đất ơi, CIHĐ đưa ra cái đề mục cũ quá đi mất của năm xửa năm xưa; nhưng nghĩ lại cũng vui vui, nhớ hồi còn đi học, ngồi đến rách cả đít quần mà thảo luận “Ai thăng ai”, phái chi bọn bắc cộng với bọn mặt trận phỏng dế nói mẹ nó ra là chủ nghĩa mác lê là bách chiến bách thắng thì mình đỡ mất thời giờ biết bao, đăng này nó vừa cưỡng hiếp mà lại bắt nạn nhân phải hét lên là sướng quá đi mất, thật là thú tính, quái thai từ mác lê đẻ chúng nó ra. Hồi đầu ’75, bon bắc công có cho SV học hành gì đâu, cứ là họp hành thảo luận chính trị, còn nhớ thằng nguyễn hữu thọ cứ gào lên trong micro là “ta” dân chủ gấp triệu lần thằng mỹ, cái khổ của nó là không nói không được, cả một bè lũ nó sợ lẫn nhau, chúng nó biết bộ mặt thật của cái đảng mafia tất cả, nhưng bố bảo thằng nào dám mở mồm ra, tối đến thằng dũng y tá đến nhà chích cho 1 phát là đi đời nhà ma ngay, đến bây giờ thằng trọng lú với thằng tư sang mặt rỗ cũng còn sợ bị nó chích nữa, chứ đừng nói đến hàng tép riu khác. Nên, nói ai thắng ai bây giờ, có vẻ mơ hồ quá, chỉ có điều hiển nhiên nhất là bạo tàn độc tài giả dạng xhcn đang áp chế ở thế thượng phong đối với mầm xanh dân chủ nhân quyền đang đâm chồi nẩy lộc trên quê hương Việt Nam chúng ta. Trường kỳ đấu tranh, nhất định thắng lợi. Mừng là nay cả nước, không còn ai mù nữa ( Phan Nghị ), kính bái.

  4. nhân ngày 20/7 kính tặng Bác Hoàng và tất cả các Bác vài kịch bản rời tạc, lủng củng, vỡ vụn:

    1. “Bước vào cuộc chiến tranh nầy với vị thế và cách bố trí dàn quân của một đội lính cứu hỏa, người Mỹ đã hối hả chạy đến để cứu giúp căn nhà Việt Nam khỏi bị tàn phá, nhưng lại ít quan tâm tới việc chăm sóc cho các nạn nhân đang bị cháy ở trong nhà. Chỉ sau khi người Mỹ nhận biết rằng các nạn nhân cũng cần được chữa trị và tập luyện trở thành những người lính chữa lửa để tự cứu lấy những căn nhà của chính họ, thì đến lúc đó, người Mỹ mới bắt đầu thực sự quan tâm chăm sóc cho họ. Nhưng thời gian quý báu đã trôi qua mất rồi, đợi đến lúc các nạn nhân cố gắng đứng lên và vừa mới bắt đầu đi được vài bước sau khi hồi phục, thì đội lính cứu hỏa lại nhận được mệnh lệnh phải trở về trụ sở cứu hỏa.” (nhận xét của tướng NQ Trưởng, Nguồn:http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/3773310625/)

    trích cùng nguồn:
    Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN
    “Một Quân Ðội Bị Quên: Anh Hùng và Bội Phản Trong Quân Ðội VNCH”, là một cuốn sách viết về hai người lính và binh nghiệp của họ trong cuộc chiến Việt Nam. Hai người lính – trong trường hợp này là hai sĩ quan – Trung Tá Phạm Văn Ðính và Thiếu Tá Trần Ngọc Huế. Trung Tá Ðính và Thiếu Tá Huế, hai ngôi sao sáng đang lên của quân lực VNCH. Hai người đang xả thân chiến đấu chống lại một chủ nghĩa mà họ thù ghét từ lúc mới lớn. Nhưng vào những giờ cuối cùng trong đời binh nghiệp, hai người chọn hai lối đi khác nhau: Thiếu Tá Huế chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi bị bắt làm tù binh; Trung Tá Ðính, dưới áp lực của địch, đầu hàng để khỏi bị bắt làm tù binh…

    (Việc đầu hàng của một trung tá bị phê phán nặng nề vì cấp trung tá quá nhỏ và xảy ra vào thời điểm … còn vơ vét kiếm ăn được..)

    2. ngày 30/4/75 (xin lưu ý là 2975), trước Dinh Độc Lập, Minh Lú mặc complet nghiêm chỉnh tươi cười đứng đợi LS NH Thọ, KTS HT Phát cũng mặc complet chỉnh tề bước xuống từ T54 tiến đến lịch sự bắt tay GSTS VV Mẫu … sau đó tất cả tươi cười cho phóng viên chụp hình phỏng vấn … ngoài đường các binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan, công chức, viên chức xã ấp các cấp dưới quyền Minh Lú và toàn thể gia đình thân nhân của họ được phe NH THọ chào đón nồng nhiệt um hôn thắm thiết tình đồng bào và TC Sơn đang ca bài… cùng chung giòng máu đỏ da vàng, các ca nhạc sĩ khác đang ca bài … một mai qua cơn mê …

    3. 11g sáng 30/4/2975 Minh Lú được đưa từ nơi trú ẩn khi đào thoát về dinh ĐL trên chiếc xe T54, trên đường đi y bị một sĩ quan tùy viên của TV Trà dùng súng lục bắn chết rồi tuyên bố y đã … ngoan cố tự sát khi tay còn đang bị trói.

    4. Những người lính binh nhì binh nhất, hạ sĩ, hạ sĩ nhất, trung sĩ, trung sĩ nhất, thượng sĩ, thượng sĩ nhất, chuẩn úy mới ra trường …vừa đang nhai gạo sấy uống nước bùn ôm súng canh gác bảo vệ tiền đồn heo hút lạnh lẽo vừa nghe những bài hát … chiều mưa biên giới anh đi về đâu … ta hỏng tú tài ta đợi ngày đi đau lòng ta muốn khóc … em hỏi anh bao giờ trở lại, anh trả lời mai mốt anh về …
    … người chiến sĩ giữa núi đồi, ngày đêm gìn giữ đất trời quê hương, gian lao chẳng quản gió sương, hậu phương phản bội ôi công dã tràng …

    … tạm ngưng, nếu không thấy nhàm chán vớ vẩn ngớ ngẩn … kính mời các bác viết tiếp …

  5. Sau khi Đệ I Cộng Hoà sụp đổ,mặt trận tình báo – phản gián của
    miền Nam hở sườn và xuống dốc “không phanh” vì những cán bộ
    tài giỏi về tình báo bị thủ tiêu và bị vô hiệu hóa nhân danh cái gọi là “bài trừ dư đảng Cần Lao” do một nhóm đấu tranh Phật giáo phát động nhưng thực chất là làm tan rã hệ thống tình báo – phản gián VNCH.Sự đánh phá này kéo dài và đạt đỉnh điểm thành công trong
    “Biến Động miền Trung năm 1966.”
    Như vậy,miền Nam đã thất bại trước hết ở mặt trận gián diệp rồi
    kéo theo cả một chế độ sụp đổ.Sau 1975,người dân miền Nam
    mới biết mặt thật và chân tướng những tên VC.nằm vùng ở bên
    cạnh mình mà không hề biết.Đó là lổ hổng của một nền dân chủ
    chưa có đủ điều kiện để phát triển cho vững chắc nên đã bị Cộng
    Sản miền Bắc lợi dụng cài người vào ở ngay trong nội bộ VNCH.!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: