• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Việt Nam Thế Kỷ 20

VIỆT NAM Thế kỷ 20, tác phẩm Biên Niên Sử do Dương Kiền biên soạn, 186 trang, Nhà Xuất Bản Tiếng Quê Hương ấn hành ở Hoa Kỳ Tháng 10, 2005.

Ðây là lời Dương Kiền viết về VIỆT NAM Thế kỷ 20:

Tác phẩm Biên Niên Sử của DƯƠNG KIỀN

VIỆT NAM THẾ KỶ 20 được biên soạn theo phương thức biên niên sử, tóm tắt các sự kiện quan trọng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội tại Việt Nam trong 100 năm qua.

Thế kỷ 20 có lẽ là một thế kỷ cho đến nay để lại nhiều tự hào và đau thương nhất cho dân tộc, với rất nhiều khẳng định lẫn hoài nghi. Vẫn còn nhiều thế hệ người Việt bước vào thế kỷ 21 mang dấu tích những biến động của thế kỷ trước, và khó lòng để tâm hồn thanh thản nhìn lại các sự kiện có chính mình trong đó, với mất mát có, thành công có, thất bại có, tủi nhục có.

Chính vì thế nhiều sự kiện bị vùi lấp không phải bởi thời gian mà bởi chính con người. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, vấn đề là khởi sự đi tìm.

Cuốn sách nhỏ này chỉ là một khởi sự, một phác thảo mà lẽ ra nó chưa nên ấn hành vì còn quá đơn giản, nhiều thiếu sót và sai lầm. Con đường ngắn nhất để bổ sung, sửa chữa là nhận được sự phê phán rộng rãi, đó là lý do nó ra đời, trông mong vào sự rộng lượng của độc giả để có cơ hội nhận được sự phê phán.

Con đường tuy còn dài nhưng nếu có nhiều người đồng hành, chúng ta tin rằng chúng ta sẽ đến được với lịch sử như là chính sử.

Tháng 6 năm 2005

Tác giả

Ðêm cuối năm, Kỳ Hoa Ðất Trích trời lạnh dưới Zê-rô độ. Ðúng ra thì không nên tả cảnh “Ðêm cuối năm..” – tức là đêm mùa đông – “..trời Mỹ Quốc lạnh dưới 0 độ.” Viết câu đó là thừa, là dài dòng lẩm cẩm, bởi vì từ ngàn xưa, từ thưở văn huê là thưở khai thiên, lập địa, từ khi vũ trụ thành hình, mùa đông nào Hoa Kỳ cũng lạnh như thế, không phải vì vợ chồng chàng Công Tử Hà Ðông bánh xe lãng tử đến Kỳ Hoa Ðất Trích làm cho ngày mùa  đông những năm vàng, tháng võ cuối Thế kỷ 20, đầu Thế kỷ 21 trời Hoa Kỳ mới lạnh dưới Zê-rô độ..

70 năm xưa Thi sĩ Nguyễn Bính từ Nam Ðịnh, Hà Nội, Bắc Kỳ  lưu lac vào xứ Sài Gòn, Lục Tỉnh, Nam Kỳ, khi thấy mưa Sài Gòn, mưa Rạch Giá, trời Hà Tiên lành lạnh nhữõng sớm mai, những chiều cuối năm, Thi sĩ tự hỏi không biết có phải vì mình từ Bắc vào Nam mà trời miền Nam lạnh hay không?

Mình đi trăm núi, ngàn sông,
Ngờ đâu mang cả lạnh lùng vô Nam…

90 năm trước, Thi sĩ Tản Ðà đêm buồn ở Ngã Tư Sở, ở  Bạch Mai hay ở Phố Huế, ở Chợ Hôm, Hà Nội, Thi sĩ đọc sách và Thi sĩ làm thơ:

Tuyết sương lạnh ngắt sự đời,
Ðốt lò hương hỏi chuyện người ngày xưa..

Thi sĩ Nguyễn Bính có thể nghĩ vì ông vào Nam Kỳ mà trời Nam Kỳ lạnh, Thi sĩ Tản Ðà đêm buồn đốt lò hương nói chuyện với người ngày xưa dễ thôi, tôi, người Việt Nam mất nước, sống nhờ xứ người ở xa tít bên kia biển lớn, tôi, người Việt Nam lưu lạc tha hương tuổi đời Bẩy Bó, khuôn mặt cằn cỗi in hằn những vết roi đời, từ trẻ đến già chưa bao giờ có cái gọi là “hùng tâm, tráng chí ” để mà than đã mất, tôi lại không có mộng công danh nên tôi không thể có tâm sự:

Vèo trông lá rụng đầy sân,
Công danh phù thế có ngần ấy thôi..

Nhưng đêm cuối năm, ở trong nước tôi hay ở xứ người,  tôi buồn u uất, tôi không thể hỏi như Thi sĩ Nguyễn Bính phải chăng vì mình sang Huê Kỳ mà mùa đông Huê Kỳ lạnh thế, tôi không có trầm để đốt lên lò hương mà nằm đọc sách, chuyện trò trên trang giấy với người xưa..

Vèo trông lá rụng Rừng Phong,
Ái ân phù thế long vòng thế thôi..!

 ..Nhưng phải nói tôi buồn là tại tôi buồn, nỗi buồn ở trong tim tôi, không phải xứ Huê Kỳ hay người Hoa Kỳ làm cho tôi buồn, tôi không nên than ngắn, thở dài vì đêm đông tôi được nằm trong phòng ấm, đèn vàng, máy sưởi, yên lặng, tôi không sợ nửa đêm đang ngủ vùi choàng tỉnh, bàng hoàng nghe tiếng đập cửa rồi ngao ngán thấy một lũ đầu trâu, mặt ngựa ập vào nhà còng tay bắt tôi đi tù năm, bẩy mùa lá rụng – tôi đã hai lần bị bọn công an Thành Hổ đến nhà bắt đi  – sống những ngày cuối đời ở xứ Kỳ Hoa này đêm đông tôi có thể:

Tuyết sương lạnh ngắt sự đời
Trên trang sách đọc chuyện người ngày xưa.

Nôm na, huỵch toẹt là đêm cuối năm Gà Rù Kẹt Giỏ –Marque Le Coq là không khá được – những đêm đồng bào tôi gọi là “năm cùng, tháng tận”, Năm Gà đã ra đến cửa, Năm Chó đã đến đầu ngõ – ở Kỳ Hoa Ðất Trích tôi nằm đọc tác phẩmVIỆT NAM Thế kỷ 20 của DƯƠNG KIỀN. Chỉ 184 trang nhưng tác phẩm làm tôi cảm khái vì trong 184 trang Sử ấy có đến 80 trang ghi về những tờ báo Việt Nam, về cuộc đời và sự nghiệp của những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Có thể gọi VIỆT NAM Thế kỷ 20 là quyển sử về Báo Chí Việt và những Văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam.

Như lời tác giả đã nói: “Cuốn sách nhỏ này chỉ là một khởi sự, một phác thảo (.. ..), quá đơn giản, nhiều thiếu sót và sai lầm..”, tác giả mong được sự phê phán và bổ sung của người Việt ở tám phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, để những ấn bản VIỆT NAM Thế kỷ 20 sắp tới của ông được hoàn hảo, đầy đủ hơn. Tôi, kẻ hàn sĩ sống buồn nơi xứ người, hiểu biết đựng không đầy cái lá đa, cảm vì tác giả có công sưu khảo viết thành tác phẩm, tôi xin gửi đến ông những lời gợi nhớ và gợi ý thô thiển của tôi, thô và thiển nhưng may ra có thể giúp ông được chút nào chăng. Ít nhất những giòng chữ này của tôi cũng có thể làm ông ấm lòng khi ông thấy tác phẩm của ông có người ở góc biển, chân trời đọc, không những chỉ đọc suông mà là đọc kỹ, không những chỉ đọc kỹ mà còn vất vả viết ra những lời góp ý gửi đến ông. Xin nói trước tôi chỉ lạm bàn về những chuyện liên can đến báo chí Việt và các văn nhân, nghệ sĩ Việt. Tôi không kể lại, không bàn loạn gì về những sự kiện lịch sử khác được ghi trong VIỆT NAM Thế kỷ 20..

Trang 1, VIỆT NAM Thế kỷ 20 ghi:

1901 – 01 – 08 – 1901: Nông Cổ Mín Ðàm, tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên do người Việt Nam sáng lập, xuất bản tại Nam kỳ. Số cuối ra ngày 4 – 11 – 1924

Như vậy là Nông Cổ Mín Ðàm, tờ báo Việt thứ nhất – không biết là nhật báo hay tuần báo – sống được  24 năm!  Tuổi thọ của tờ báo Việt 24 năm là dài lắm, có thể là thọ nhất lịch sử báo chí Việt. Từ ngày Việt Nam có báo – nhật báo, tuần báo, nguyệt báo, tạp chí, đặc san – tôi không thấy có mấy tờ báoViệt  sống được 20 năm. Trước năm 1945, thường gọi là thời “tiền chiến”, Tạp chí Nam Phong sống được 17 năm, sau năm 1945 thì hình như báo Việt sống được 15 năm cũng không có tờ nào, nếu có chỉ là một, hai tờ, nhưng đến ngày 30 Tháng Tư 1975 Ðen Hơn Mõm Chó bọn Bắc Cộng chúng vào được Sài Gòn chúng cũng cho ngủm củ tỏi, tức chúng cho chết hết. Chỉ có tờ Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, số 1 ra  năm 1956, sống cho đến Tháng Tư 1975, được chủ nhân đem sang Hoa Kỳ, cho sống lại nơi xứ người, xuất bản đều đến hôm nay, Tháng Giêng 2006, Văn Nghệ Tiền Phong vẫn còn sống. Nếu tính từ Số 1 năm 1956 tới năm nay, 2006, Tuần Báo Văn Nghệ Tiền Phong đã sống được 50 năm, 20 năm xuất bản ở Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, 30 năm ở Kỳ Hoa Ðất Trích.

Ðến đây, tôi kể thẳng vào những chuyện được ghi trong sách. Xin nhắc lại: tôi chỉ kể những chuyện ghi về báo chí, văn nghệ sĩ:

– 29 – 01 – 1907: Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương qua đời.

– Năm 1907: Huỳnh Tịnh Của còn gọi là Paulus Của qua đời.

–  Ðông Dương Tạp Chí xuất bản do Schneider sáng lập, đến năm 1913 mới do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút.

– 1909: Nguyễn Khuyến qua đời, thọ 75 tuổi.

-1917 – Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác sáng lập Nam Phong Tạp Chí, xuất bản liên tiếp từ Tháng 7 năm 1917 đến Tháng 12 năm 1924 thì đình bản, tất cả được 17 năm với 210 số báo.

1925: Tố Tâm, tiểu thuyết của Song An Hoàng Ngọc Phách xuất bản, mở màn cho phong trào thơ văn lãng mạn.

– Quả Dưa Ðỏ, lịch sử tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Thuật (1883 – 1940) được giải thưởng của Hội Khai Trí Tiến Ðức.

1932: Phan Khôi (1887 – 1969) khởi xướng phong trào Thơ Mới. Bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng Thơ” và bài thơ Tình Già của ông đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn do chính ông làm chủ bút.

Công Tử Hà Ðông góp ý: Sơ xuất chút síu: ở những trang dưới, đến năm 1959, tác giả ghi “Phan Khôi từ trần ở Hà Nội năm 1959”. Trong đoạn về Phan Khôi trên đây, sách ghi:“Phan Khôi ( 1887 – 1969)  

1933: Nhất Linh, Khái Hưng và một số nhà văn, nhà thơ thành lập Tự Lực Văn Ðoàn.

1938: Nguyễn Nhược Pháp (1914 – 1938 ) qua đời tại Hà Nội khi mới 24 tuổi. Ông là con trai của Nguyễn Văn Vĩnh, làm thơ, viết báo từ khi 16 tuổi, tác phẩm Ngày Xưa (1935) trong có bài thơ Ði Chùa Hương để lại tên tuổi của ông.

1939 – 17 – 06 – 1939: Nguyễn Khắc Hiếu bút hiệu Tản Ðà, qua đời.

31 – 10 – 1939: Vũ Trọng Phụng (1911 – 1939 ) qua đời, chỉ mới 28 tuổi. Ông là nhà viết phóng sự nổi tiếng nhất trong thập niên 1930, tác phẩm của ông phơi bày những mặt xấu xa trong xã hội. Ông cũng là nhà tiểu thuyết có tài, phản ánh xã hội mà ông đang sống.

Chỉ trong mười năm, ông bắt đầu viết năm ông 18 tuổi, ông để lại gần 20 tác phẩm giá trị, tiêu biểu là những cuốn Kỹ Nghệ Lấy Tây, Số Ðỏ, Cơm Thày, Cơm Cô, Giông Tố.

11 – 11 – 1940: Nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912 – 1940 ) tên thật Nguyễn Trọng Trí qua đời ở Qui Nhơn. Tác phẩm Gái Quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1944)

Ông mắc bệnh nan y (bệnh phong) nên lời thơ da diết trong nỗi đau khổ vì bệnh tật nhưng ông nổi tiếng không phải chỉ vì thế mà chính là vì những bài thơ rất giầu nhạc điệu và hình ảnh, mau chóng đưa ông lên nhà thơ hàng đầu trong phong trào thơ mới vừa hình thành.1942.

 – 28 – 06 – 1942: Thạch Lam, tên thật Nguyễn Tường Lân (1910 – 1942 ) qua đời tại Hà Nội. Ông là em của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Hoàng Ðạo Nguyễn Tường Long, cùng cộng tác trong các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Ông nổi tiếng về truyện ngắn, tùy bút. Tác phẩm: Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1939), Sợi Tc (1942 ), Hà Nội băm sáu phớ phường (1942).

1942 – Nhạc sĩ Ðặng Thế Phong ( 1918 – 1942 ) qua đời. Những nhạc phẩm nổi tiếng: Giọt mưa thu, Ðêm thu, Con thuyền không bến, Sáng trong rừng.

1943 – 18 – 04  – 1943: Nguyễn An Ninh (1900 – 1943 ) qua đời tại Nhà Tù Côn Ðảo. Ông đậu Cử Nhân Luật tại Paris năm ông 18 tuổi, về nước làm chủ báo La Cloche Fêleé ( Tiếng chuông rè, 1923-1934 ) chống chế độ thực dân Pháp. Ông được coi là người theo chủ nghĩa cách mạng của Trostki, thường gọi là Ðệ Tứ Quốc Tế, vì thế có thuyết cho rằng ông bị cán bộ của Ðệ Tam Quốc Tế giết trong tù.

1945 – 18 – 08 – 1945: Tạ Thu Thâu (1905 – 1945 ) bị Việt Minh bắt tại Quảng Ngãi, sau đó (không rõ ngày nào) bị giết tại bờ biển Mỹ Khê.

Ông là nhà cách mạng chống Pháp, xuất bản tờ báo La Lutte, tranh thủ độc lập cho xứ sở và thợ thuyền lao động, được coi là thuộc nhóm “Ðệ Tứ Quốc Tế.”

1946: Lan Khai, không rõ năm sinh, tên thật là Nguyễn Lan Khai, bị Việt Minh thủ tiêu. Ông là nhà văn chuyên viết lịch sử tiểu thuyết và truyện đường rừng, tác phẩm: Ai lên Phố Cát, Gái thời loạn, Chiếc ngai vàng, Tiếng gọi của Rừng Thẳm, Truyện Ðường Rừng.

1947: Nhà văn Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu.

Công Tử Hà Ðông góp ý: Trang 28 Việt Nam Thế kỷ 20trong đoạn về Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp Chí, có ghi “Năm 1945 ông bị thủ tiêu.” Nhưng ở những trang ghi những sự kiện xẩy ra năm 1945, 1946 không thấy ghi việc “Phạm Quỳnh bị Việt Minh giết.”

Vừa cướp được chính quyền, bọn Việt Cộng giết ngay các ông Phạm Quỳnh, Ngô Ðình Khôi, Nguyễn Bá Trác, tác giả bài Thơ Hồ Trường, ở miền Trung, giết ông Cung Ðình Vận ở miền Bắc – chúng hành động theo những bài bản chúng được bọn Nga Cộng truyền dậy, chúng có ban ám sát chuyên giết những người những đảng phái yêu nước, chống Pháp khác đảng của chúng – Chúng giết mấy ông quan lại ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ để trấn áp giới quan lại, những ông quan lại khác sợ, im re, thấy mình không bị lôi ra đập chết là mừng – Ở Nam Kỳ bọn Việt Minh giết những nhà trí thức Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Thạch, Dương Văn Giáo.. và nhiều ông khác. Sách sử ghi ông Tạ Thu Thâu bị Việt Cộng giết, sách sử không nên quên những ông sống và bị Việt Cộng sát hại cùng thời ông Tạ Thu Thâu.

Trong Con Rồng A Nam, Hồi ký của Cựu Hoàng Bảo Ðại, có đoạn ông Bảo Ðại kể ông hỏi Hồ chí Minh về việc tại sao Việt Minh giết ông Phạm Quỳnh, Hồ chí Minh trả lời y không biết những chuyện đó. Hồ chí Minh chối tội như vậy là hèn, láo.

Trích tiếp VIỆT NAM Thế kỷ 20:

– 20 – 08 – 1949: Nhượng Tống, tên thật là Hoàng Phạm Trân (1897 – 1949) bị ám sát tại Hà Nội. Ông là một trong những sáng lập viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng, đồng thời là nhà văn, nhà báo, dịch giả có tài.

Năm 1949: Dương Quảng Hàm, không biết rõ năm sinh, qua đời có lẽ vào khoảng năm 1948 hay 1949 tại chiến khu Việt Bắc. Ông là tác giả nhiều bộ sách giáo khoa giá trị : Việt Nam Văn Học Sử Yếu (1941), Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển (1941).

18 – 08 – 1950: Nhà thơ Thâm Tâm, tên thật Nguyễn Tuấn Trình (1917 – 1950) qua đời. Ông nổi tiếng với bài thơ Tống Biệt Hành. Có thuyết cho rằng bút hiệu của ông được ghép trong bút hiệu TTKH không biết của ai, tác giả bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-Gôn gây sôi nổi dư luận một thời.

Tháng 10 – 1956: Tạp chí Sáng Tạo xuất bản, được 31 số thì đình bản, sau ra tiếp 7 số rồi đóng cửa hẳn năm 1962.

21 – 10 – 1957: Thành lập Văn Bút Việt Nam, gia nhập Văn Bút Quốc Tế từ 2-9-1957.

Xin tác giả chú ý: có gì sai chăng? Hội Văn Bút Việt Nam thành lập ngày 21 – 10 – 1957 mà ngày 2 – 9 – 1957 Hội đã gia nhập Văn Bút Quốc Tế?

07 – 11 – 1957: Nhà thơ Quách Thoại, tên thật Ðoàn Thoại (1929 – 1957 ) qua đời. Từ 1955 ông có nhiều thơ đăng trên các báo và được mặc nhiên coi là thành viên của nhóm Sáng Tạo. Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi và chưa có tập thơ nào xuất bản, ông được coi là nhà thơ có tài.

04 – 11 – 1958: Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) tên thật Hồ Văn Trung qua đời. Ông để lại trên 100 tác phẩm đủ loại nhưng được nhớ tới nhiều nhất là các cuốn tiểu thuyết. 

16 – 01 – 1959: Phan Khôi qua đời tại Hà Nội.

25 – 2 – 1964: Nhà văn Lê Văn Trương ( 1906 – 1964 – qua đời tại Sài Gòn.

Ông có lẽ là nhà văn để lại nhiều tác phẩm nhất, trên 200 cuốn, phần lớn là truyện dài, nhân vật thường có tính cách “người hùng”, rất lôi cuốn người đọc thời kỳ tiền chiến.

Chỗ này có sự sơ xuất: đang trong năm 1961 ghi chuyện Nhà văn Lê Văn Trương từ trần năm 1964, sau đó  ghi trở lại những việc năm 1962.

07 – 07 – 1963: Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuộc độc tự tử để phản đối chính phủ Ngô Ðình Diệm.

– Ðêm 30 Tết năm Bính Ngọ (1966). Nhà thơ Nguyễn Bính (1918 – 1966 ) qua đời tại Hà Nội.

Ông là tác giả các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang, Hương Cố Nhân, Mười Hai Bến Nước.

Ông có giọng thơ lục bát của riêng ông, rất gần ca dao, được nhiều người đọc đủ mọi thành phần yêu mến.

Ông bất mãn với chính sách văn nghệ của đảng nên bị bạc đãi, sống nghèo khổ cho đến khi qua đời trong một hoàn cảnh thương tâm (chết trong nhà một mình mấy ngày sau hàng xóm mới biết nên ngày chết chỉ là phỏng chừng, có người cho rằng ông mất ngày 20 – 01 – 1966.)

16 – 04 – 1966: Ám sát Nhà văn Chu Tử, tên thật là Chu Văn Bình, 1917 – 1975), ông bị thương nặng nhưng không chết. Ông nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết lấy tên một chữ: Yêu, Sống, Loạn..Ông là nhà báo có tài, chủ trương các tờ báo có số phát hành cao nhất miền Nam (Sống, Sóng Thần). Ông tích cực chống Cộng nhưng cũng có kẻ thù trong chính quyền, quân đội, vì nhiều người bị ông chỉ trích, châm biếm, cay độc, cũng như một số nhân vật Phật Giáo bị ông đả kích vì những hành động quá khích.

Ðến đây tác giả Việt Nam Thế kỷ 20 quên Ký giả Từ Chung Vũ Nhất Huy. Từ Chung, Tổng Thư Ký Nhật Báo Chính Luận, bị bắn cùng một ngày với Nhà Văn Chủ Báo Sống Chu Tử. Bọn sát nhân, tới nay vẫn không biết rõ ở phe nào, rình bắn ông Chu Tử ở cửa nhà ông đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, lúc 8 giờ sáng, khi ông Chu Tửû từ nhà vào xe ô tô đi đến tòa soạn. Bọn sát nhân chờ bắn Ký giả Từ Chung ở cửa nhà riêng của ông trong Cư Xá Nguyễn Tri Phương lúc 12 giờ trưa khi ông Từ Chung ở tòa báo về. Ông Chu Tử bị bắn vào ót, đạn xuyên ra miệng, bị  thương nặng nhưng không chết, Ký giả Từ Chung từ trong xe hơi bước ra, bị bắn từ sau lưng, đạn xuyên vào bụng, chết ngay.

24 – 08 – 1967: Ðinh Hùng (1920 – 1967 ) qua đời tại Sài Gòn. Ông làm báo, viết truyện dã sử (bút hiệu Hoài Ðiệp Thứ Lang), phụ trách chương trình “Tao Ðàn” chuyên về thi ca và văn học trên đài phát thanh Sài Gòn nhưng được biết tới nhiều hơn cả là nhà thơ với các tác phẩm Mê Hồn Ca (1954), Ðường Vào Tình Sử (1961 ).

VIỆT NAM Thế kỷ 20 có Ðinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Quách Thoại, Vũ Bằng..vv.., thiếu Nhà văn Nguyễn Ðức Quỳnh, Nhà văn chủ báo Phổ Thông Nguyễn Vỹ, Nhà báo Trần Việt Sơn..

19 – 08 – 1976: Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976) qua đời, đúng ngày kỷ niêm 31 năm “Cách Mạng Tháng Tám”. Trước đó ông bị cộng sản bắt ngày 13 – 4 – 1976 mặc dù suốt đời ông chỉ làm thơ và dậy học, trong một chiến dịch rộng lớn khởi đầu ngày 3-4-1976 lùng bắt các nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam cũ. Tác phẩm chính thức: Thơ say (1940), Rừng Phong (1954), Hoa đăng (1959), Tâm sự kẻ sang Tần (Kịch thơ, 1961).

26-06-1980: Nhà văn Hồ Hữu Tường (1910-1980) qua đời. Ông bị cộng sản bắt giam, khi gần chết được chở về trả cho gia đình nhưng chết ở dọc đường từ Phan Thiết về Sài Gòn.

Ông là nhà văn, nhà tư tưởng và chính trị gia từng bị tù dưới thời Pháp thuộc, bị kết án tử hình dưới thời chính phủ Ngô Ðình Diệm. Tác phẩm tiêu biểu Phi Lạc sang Tầu (1950)

07 – 09 – 1984: Nhà văn, nhà báo Vũ Bằng (1918 – 1984 ) qua đời. Tác phẩm chính: Món ngon Hà Nội, Món lạ Miền Nam (1970), Thương nhớ mười hai (1972).

22-12 – 1984: Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) qua đời. Tác phẩm của ông rất đa dạng, phần lớn về văn minh, văn hóa, lịch sử Trung Quốc.

Ông cũng khảo cứu về ngôn ngữ, triết học, viết về gương danh nhân, viết du kí, dịch tiểu thuyết..

02 – 06 – 1985: Nhà văn Thanh Nam, tên thật là Trần Ðại Việt (1931 – 1985) qua đời tại Hoa Kỳ.

Ông đã xuất bản trên 48 cuốn tiểu thuyết và thơ, trong đó tập thơ Ðất Khách (1983) xuất bản ở hải ngoại thường được nhắc tới.

VIỆT NAM Thế kỷ 20, trang 144, ghi những sự kiện năm 1975: “Cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Trần Chánh Thành.. tự vẫn..” Tôi không nhớ có thời gian nào ông Trần Chánh Thành, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin, chính phủ Ngô Ðình Diệm, làm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao hay không? Hay ông Trần Chánh Thành kiêm nhiệm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao sau khi ông Bộ trưởng Vũ Văn Mẫu từ chức? Chuyện này xin tác giả kiểm lại.

Những trang sau VIỆT NAM Thế kỷ 20  ghi ngày từ trần ở Sài Gòn của những văn nghệ sĩ: Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, mất ngày 01-08-1995, Nhà Khảo Cổ Vương Hồng Sển, 09-12 – 1996, Nhạc sĩ Lê Thương, tên thật Ngô Ðình Hộ, từ trần ngày 18 – 09 – 1997, những văn nghệ sĩ từ trần ở Pháp, Hoa Kỳ : Nhà văn Duyên Anh Vũ Mộng Long, qua đời tại Pháp, ngày 06-02-1997, Nhà Văn Mai Thảo, tên thật Nguyễn Ðăng Quí, mất ngày 10-01-1998 ở Hoa Kỳ, Nhà Thơ Nguyên Sa, tên thật Trần Bích Lan, qua đời ngày 18-04-1998 ở Hoa Kỳ. Sách thiếu Nhà Văn Vũ Khắc Khoan.

Tôi vừa điểm sơ lược tác phẩm VIỆT NAM Thế kỷ 20. Từng ấy trang, từng ấy văn nghệ sĩ trong sách đã đủ làm tôi hài lòng với tác phẩm. Tôi gửi bài này đến Tác giả Dương Kiền, tôi cám ơn ông đã soạn một quyển sử trong có nhiều nhân vật Nhà Văn, Nhà Báo, Nhà Thơ, Nhạc sĩ, Họa sĩ. Còn thiếu nhưng tôi tin chắc những lần tái bản tác phẩm sẽ đầy đủ hơn.

Khi tái bản VIỆT NAM Thế kỷ 20 xin ông tác giả cho thêm vài trang về tình trạng những văn nghệ sĩ Việt Nam bị bọn cầm quyền bách hại trong Thế kỷ 20. Xin gợi ý: năm 1946, hay 1947, ba ký giả Nam Quốc Cang, Lư Khê, Ðinh Xuân Tiếu bị bắn chết trong một quán cóc cà phê trên vỉa hè đường Frère Louis, thời chúng ta là đường Nguyễn Trãi, gần tiệm Phở 79. Ba ký giả chết vì những bài báo của họ. Ký giả Nam Quốc Cang viết báo Việt, báo Pháp, đả kích kịch kiệt bọn Tây thực dân vừa trở lại Ðông Dương. Bọn Sureté Tây bắt ông nhưng bị dư luận những người Pháp dân chủ phản đối, chúng phải trả tự do cho ông, chúng bắn ông trong buổi sáng ông ngồi quán cóc với hai ông Lư Khê, chủ nhiệm Nhật báo Ánh Sáng, và ký giả Ðinh Xuân Tiếu. Năm 1971, hay 1972, Ký giả Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, chủ nhiệm Nhật báo Ðông Phương, buổi trưa ngồi ăn trưa với mấy ký giả bạn trong tiệm cơm trước Nhà In Nguyễn Bá Tòng, tòa soạn Nhật Báo Ðông Phương đặt trong nhà in này, bị kẻ lạ đến sát bên cạnh, kề súng vào đầu, bắn chết.

Vài dòng viết về Uyên Thao, người chủ trương Tủ SáchTiếng Quê Hương: Sống trong lòng Sài Gòn bị cộng sản chiếm 24 năm, trong số có 12 năm trong ngục tù cộng sản, sang Mỹ mới 5 năm, Nhà Xuất Bản Tiếng Quê Hương của Uyên Thao, đến tháng 10 năm 2005, đã xuất bản được 21 tác phẩm.

Tôi sẽ viết về Nhà Xuất Bản Tiếng Quê Hương trong một bài khác.

Advertisements

3 Responses

  1. Trang blog Vanhoavn.blogspot,về thân thế sự nghiệp Ls Trần Chánh Thành ghi : “1970 : Tổng trưởng Ngọai giao VNCH “.

  2. Những Chuyện Trời Ơi
    Tác Giả: K2 Nguyễn Thừa Bình   
    Thứ Năm, 26 Tháng 7 Năm 2012 21:35
    Bài viết nầy không nhắm trực tiếp vào ai cũng không hồ đồ chi tiết cho riêng ai.
                    NHỮNG CHUYỆN TRỜI ƠI
       Ở trên đời có những chuyện tréo cẳng ngỗng một cách chướng tai, gai mắt. Người ta thích nịnh hơn nói thật, nói thẳng. Ai cũng tỏ ra ta đây hơn người, khoe những cái hay (không có), che những cái dỡ (dẫy đầy) mà làm những việc đáng phiền hà. Khi khen thì vỗ tay rần rần. Khi chê thì “ngậm máu phun người”. Làm sao mà tiến bộ!? Nói một đường làm một nẽo. Nói chống Cộng thì y như rằng, làm lợi cho Việt cộng. Nói lương thiện, y như rằng làm chuyện bất đạo. Mới dưới tượng Chúa xưng tội, dưới tượng Phật sám hối bước ra, thì vẫn cứ mưu tính chuyện vô lương. Những kẻ huênh hoang nhất là những kẻ ti tiện nhất. Chúng tôi xin đơn cử vài mẫu chuyện mắt thấy tai nghe dẫy đầy trong thành phố nhỏ nhoi của chúng tôi, thành phố Kansas City của tiểu bang Missouri, thấy mà không nói thì không chịu được!
       – Có một tiệm, tôi chỉ nói có một tiệm buôn bán DVD, CD ở đây cứ sang lậu các dĩa DVD, CD của các trung tâm, của các nhà làm phim, của các ca sĩ…mà bán. Và bà con ta có những người thuộc loại keo kiết cứ kiếm các dĩa dvd, cd sang lậu đó mà mua. Mua mua, bán bán…các trung tâm sản xuất đóng cửa, các ca sĩ, nghệ sĩ giải nghệ. Một, hai năm nữa, khắp nơi trên thế giới, chỗ nào có người Việt thì có từng đống, từng đống nhạc “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” bán rẻ 1 đồng, 5 cắc cũng mua nghe cho đỡ ghiền, rồi thành Việt Cộng hồi nào không hay. Lương tâm đâu!? Ðạo đức đâu!? Người Việt Quốc Gia đâu!? Những kẻ bần tiện, làm những chuyện bất nhẫn, bất nhân, bất nghĩa như vậy cứ vênh vênh cái bản mặt tự đắc, tự kiêu có bao giờ thấy tội trước Phật, trước Chúa…vễnh to lỗ tai nghe người ta chửi, rủa đến ba đời tổ tiên mình?         
        – Việt Nam mới qua, thấy cái gì cũng ham, cũng hám:
            * Thấy mấy xe mua hàng ( shopping cart ) ở các cửa tiệm mạ kền bóng lộn khoái quá, quen thói “chôm chỉa” ở Việt Nam, bèn lén lút đẩy về nhà dấu làm kỹ vật ăn cắp. Một chiếc rồi hai chiếc để chật nhà. Không giống ai. Nửa đêm thậm thà thậm thụt, vợ chồng xấu hổ quá, rủ nhau đem bỏ ngoài đường. Xóm làng nói nhau: “đồ thứ tham lam”.
            * Thấy sự mua đi trả lại dễ quá, bèn cứ mua máy chụp hình, máy quay phim, áo quần, giày dép…thật tốt thả giàn. Sinh nhật xong, đám cưới xong, đi chơi xa xong, đem trả lấy tiền lại, có sao đâu? Có chết thằng Tây trắng, thằng Tây đen nào đâu? Có là có người ta chửi cha, chửi mẹ mình; có là có Bề Trên bắt tội là “đồ gian giảo”, sau khi chết, theo Ðạo Thiên Chúa xuống địa ngục; theo Ðao Phật vào cõi súc sanh ngạ quỷ.
             * Cứ mặc đồ xấu vào tiệm bán đồ cũ ( thrift store ), thản nhiên mặc đồ tốt vào, đi ra không thèm trả tiền cho ai, tênh hếch cái bản mặt cướp cạn! Vào các tiệm, tráo đổi hay quăng bỏ những barcode đi rồi tự nhiên như người Hà Nội bỏ vào túi ra cửa hay ra cashier tính tiền rẻ. Bị bắt sẽ bị tội ăn cắp hàng ( shop lifting ). Lúc đó đứng kêu trời, trời cũng không giúp được cái thứ mánh mung, hôi của, cướp vặt.
       Vào Chùa không để lạy Phật, nghe Pháp, đọc Kinh mà để “ăn giành ăn giựt” lấy,  dấu thức ăn thiện nam tín nữ cúng, đem về cho vợ, cho chồng, cho con, cho cháu “nuốt cho bội thực”… mặc kệ ai làm lễ xong, ra không còn gì. Dẫu có hiền cách mấy, cũng phải la lên “đồ cô hồn đói”. Mấy đứa nhỏ vì cha mẹ chúng không biết dạy, không nói chi. Mấy người lớn còn tệ hại hơn, tư cách đâu mà dạy với không dạy. Sống chỉ một mình hay hai vợ chồng già, cũng ôm đồm “hốt” được chừng nào hay chừng nấy về ăn… cho chết.
       Trong hảng xưởng giành làm over time để lấy tiền “one and one-half” mà gây lộn nhau, chửi lộn nhau. Ðàn ông thì cung tay chửi thề. Ðàn bà thì vỗ bành bạch. Người ta đứng cười mà thấy “mắc cỡ” hết sức người Việt Nam. Cũng vì lòng tham đồng tiền, bạn bè ta đi tìm cái nhục.
      Mướn hội trường của người ta làm tiệc cưới, thấy những cây Golf Club để ơ hờ một góc đẹp quá, mấy đứa nhỏ con cái nhà ai đã âm thầm rủ nhau “mượn” đem về nhà dấu làm kỷ niệm. “Một là đền 40,000 đô, hai là bị đưa ra tòa”. Tham lam, có cái giá của nó. Giá mất tiền đã đành. Giá mất danh giá gia đình, giòng họ mới nhục. Tội hai gia đình cô dâu và chú rể đau hết sức là đau bỏ ra 40,000 đô la để khỏi “bị đưa ra tòa”!
       Hay cũng bắt chước. Dở cũng bắt chước. Rủ nhau bắt chước… ra tiệm Nail cho nhiều, phá giá từ full set 70 đô, 100 đô làm không kịp, giờ 20 đô, 15 đô cũng không có khách mà làm. Chết là cái chắc! Dễ mà! Qua Mỹ từ năm 1975 cũng Nail. Mới đầu hôm sớm mai qua Mỹ cũng Nail. Học cao cũng Nail. “I-tờ-rí” cũng Nail. Già cũng Nail. Trẻ cũng Nail. Có bằng Nail cũng Nail. Không bằng Nail cũng Nail. Nail và Nail “xà nẹo” nhau dẹp tiệm!.
       Qua Mỹ hưởng cuộc sống văn minh đủng đỉnh, bỏ sau lưng đời khốn nạn, bèn phát biểu một cách vô tư rằng thì là “nhờ Việt Cộng mà gia đình tôi được qua Mỹ”. Vợ và con gái người ta bị cỡi trần truồng hãm hiếp trước mặt. Thân nhân người ta bị chết thảm phải quăng xuống biển. Có nhớ sự nghiệp còn cái quần xà loỏng đóng khố…và cô độc sống lủi thủi, ăn mày trên xứ lạ…có “nhờ Việt Cộng” không!? Lạ! Câu nói đó lại từ miệng anh Trung Úy Chiến Tranh Chính Trị của VNCH đi Diện HO. Lạ! Câu nói đó lại từ miệng chị lấy chồng Mỹ đi Diện Con Lai. Câu nói đó không từ miệng bất cứ bà con nào đi Diện Vượt Biển, Vượt Biên. Họ không nói “nhờ Quân, Dân, Cán, Chính của Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu đánh Việt Cộng cho họ còn sống đến ngày hôm nay qua Mỹ, con có đứa Bác sĩ, Luật sư…và mình đời hết khốn nạn như thời ở cái nước gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!
       Ở Mỹ vài năm có chút tiền, mua được nhà, mua được xe, có người toét loét cái miệng than: “khổ như trâu” và trở mặt phản phúc: “Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng”. Khổ như trâu chắc không bằng người Sài Gòn đêm đêm làm chuột, lủi xuống ống cống nước kiếm ăn!? Khổ như trâu chắc không bằng mấy đứa nhỏ đói xác đói xơ tìm sống trên đống rác? Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng mới có tiền dư mà “áo gấm về làng” ăn chơi đàng điếm. Mình lạy lục xin vào Mỹ. Mỹ đếch mời mình vào!  Hãy để bà Julia Gillard, Thủ Tướng nước Úc “dạy” cho bài học “if you aren’t happy here then leave. We didn’t force you to come here. You asked to be here…”
      Mùa Ðông cũng như mùa Hè, mẹ và đứa con gái đi chợ, lúc nào cũng thùng thình áo quần hai, ba lớp, túi rộng thênh thang. Ðể làm gì? Ðể ăn cắp kẹo. Những Camera đang nhìn trừng trừng. Có ngày “xộ khám” làm sao mà ăn mà nói hỡi Trời!? Không phải nghèo một nhúm kẹo. Không phải đói một nhúm kẹo. Không phải thèm một nhúm kẹo. Vậy thì, tại làm sao? Tại vì “tham”, không còn liêm sỉ, thấy cái gì của ai cũng muốn ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp.
       “Trưởng giả học làm sang”, xênh xang trong nhà vài con chó lớn, chó nhỏ cho nó oai. Mua chuồng cho chó. Hớt tóc cho chó. Sắm áo cho chó. Mua thức ăn cho chó. Mua xương gặm cho chó. Chích thuốc lu bù cho chó… Cả mấy đứa con, trai có, gái có mà để cha ở riêng một mình chết thúi mấy ngày không thằng nào, không con nào hay biết! Vậy mà hở ra, cứ ta là Trung Úy Hải Quân, ta là vợ Ðại Úy Quân Y…nghe mà thúi cả ruột gan cữu tộc!
       Giành giựt nhau lượm lon. Ông A nói; “khu vực đó là của tôi”. Ông B nói: “tôi lượm lon ở đây lúc anh còn ở Việt Nam”. Ông A chửi ông B: “đồ chó”. Ông B chửi ông A: “đồ chó”.Thì ra, hai ông đều “đồ chó” hết trơn như nhà thơ Cao Bá Quát đã nói: “…Bỉ viết cẩu. Thử viết cẩu. Bỉ thử giai cẩu…”
       Ở đâu đâu, hai ông bà của hai gia đình người Huế cũng oang oang cái lổ miệng rủ nhau khua môi, múa mỏ làm người ta nhức cả đầu. Một ông bà rằng thì là “con tôi học Luật Sư, sắp ra Luật Sư” làm như một hiện tượng hi hữu. Một ông bà rằng thì là “con tôi một đứa đã là Bác Sĩ và một đứa nữa sắp ra Bác Sĩ”. Ðể làm gì? Ðể nổ cho người biết, “ta đây”? Lạ gì các anh chị ở Việt Nam, bỏ Huế vào Sài Gòn sống một đời sống lăn lộn ở chợ cầu Ông Lãnh quen thói “đá cá lăn dưa”?
       “Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”. Ðó là “bài thơ con cóc”. Ở đây, ít nhất cũng có một anh học hành chẳng ra gì nhưng ưa khoe tài hay chữ và tài làm thơ dở hơn “thơ con cóc”, bắt người ta nghe muốn “mệt nghỉ”. Người ta bị nghe hoài, người ta nói thẳng: “ông không nghe tụi nó nói, thơ ông là “thơ con cặt” sao?” Người ta mới nghe một lần đã chửi: “đồ thúi như cứt”. Tôi không hiểu tại sao ổng hợm đến mức cứ: “tôi xin đọc bài thơ của tôi cho các anh nghe”.
       Bước vào Chùa, Nhà Thờ, Cộng Ðồng…không đóng góp thì nói có. Ðóng rất ít thì la toáng lên nhiều lắm. Ủng hộ năm, ba đồng thì lúc nào cũng “sao không thấy tên tôi?”. Ðúng là miệng lưỡi kẻ ti tiện. Lén ăn cắp. Lén lấy đem về thì im thin thít. Ðúng là cung cách kẻ bần cùng. Giữ của như Ma Xó, chết rồi cũng trắng tay. Bần cùng, ty tiện, chết rồi cũng thiêu ra tro. Có điều, xú danh con cháu phải mang tiếng nhục đời đời.
       “Chân mình còn lấm bê bê mà cầm bó đuốc đi vê chân người”. Ở đây có nhiều người đàn ông bỏ hết thì giờ ra rình mò chuyện riêng tư của người rồi như đàn bà, ngồi lê đôi mách thêm bớt nói xấu người ta, rằng: “Ông nầy lấy vợ thằng kia”. “Con bé đó bỏ nhà theo trai”. “Thằng nhỏ nọ bỏ học, bụi đời, hút xách” mà không có thì giờ nghĩ đến con mình không đứa nào ra đứa nào. Tại sao vậy!?Tại vì cái thói muốn ai cũng “tệ”, cũng “xấu”, cũng “ hư”, cũng “nghèo”, “cũng “thua mình” để cười cho đả mà không nghe người ta chửi cho!
       Một chị Việt Nam theo chồng người Mỹ về nước Mỹ từ 1972. Sống trong xã hội Mỹ, nhớ người Việt Nam. Khoảng những năm 1985 đến 1990, mừng gặp lại bà con người Việt. Chị, chồng chị và 2 đứa con lai của chị, xúm lại hết lòng giúp đỡ đồng hương của mình đang chân ướt chân ráo, bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Một vài năm sau, đồng hương của mình khúm núm hồi nào, bây giờ làm ăn được, gặp ân nhân, không có một lời hỏi han, còn nói: “đồ thứ Me Mỹ”. Phản phúc! Nghe đứt cả ruột gan!.
       Một người, trước năm 1975 ở Việt Nam trốn lính. Ðến Mỹ bỗng thành Ðại Úy Nhảy Dù. Giả tới giả lui, quen mình là Ðại Úy Nhảy Dù thứ thiệt. Lúc nào, ở đâu anh ta cũng nghêng ngang hách xì xằng, chê lính Sư Ðoàn, chê lính Tiểu Khu, chê lính Cảnh Sát…Người ta vừa giận, vừa tức cười …không cứ gì “thằng điên”. Ảnh qua đây từ những ngày đầu bình minh di tản, khá tiếng Anh, láu tiếng Việt, tốt tướng nên, dễ qua mắt bà con, quên mình sống nghề hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột.
       Người mình nghĩ bằng cái bụng, không nghĩ bằng cái đầu nên, thường làm những chuyện trớt quớt, trời ơi! Cứ suy bụng ta, ra bụng người. Không động não theo lý trí để hành xử làm sao đúng làm sao sai cho người ta khỏi chửi mà, cứ một mực bụng làm dạ chịu tưởng là hay! Thấy người thất bại thì cười. Thấy người nghèo thì khinh. Thấy người giàu thì ghét. Thấy người hay thì chê. Thấy người không chơi với mình thì thù. Thấy người tốt với mình rồi phản. Thấy người trước mặt thì khen, sau lưng thì nói xấu…Bụng dạ không biết đâu mà lường!? Phải chi có chút đầu óc, đỡ biết mấy!!!
      Thấy người nổi hơn mình thì tìm cách đè xuống. Mình không ra cái gì lại muốn nổi lên. Không thích người ta thì đánh phá… Cái dễ đánh phá, dễ đè người ta xuống là cái Nón Cối máu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam úp người ta là Việt Cộng. Có thể, hạng người nầy là thứ Việt Cộng, là thứ ăn bã Việt Cộng, là thứ bất tài háu danh, là thứ tư thù, là thứ ăn hại đái nát. Ðừng đỡ đòn thúi của bọn vô loại, vô loài nầy, vừa dơ tay lại hết thì giờ lo chánh nghĩa. Cứ nhớ: “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn đi” của chính trị gia Pháp Joseph Calliaux “le chien aboie, la caravane passe”. Mong lắm thay!
      Trong hãng xưỡng cứ muốn làm hơn người ta rồi đi “mét” leader, supervisor cái bà đó, cái ông đó làm biếng. Ca trước muốn hơn ca sau; ca sau không chịu thua ca trước. Hơn hơn, thua thua làm “vượt chỉ tiêu” quá trời. Ðược gì? Hãng xưỡng bắt làm nhiều hơn. Các con Mỹ, các thằng Mỹ, các con Mễ, các thằng Mễ chửi liền liền “fuck you”, “fuck you”. Mình có dại lắm không!?
      Hai ông, một Ðại Úy và một không rõ lý lịch, được nghe ổng nói là Giảng Sư Học Viện CSQG ( Giảng Sư lèo ) ngồi “bốc” nhau lên trời xanh. Ông Ðại Úy chê: “Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu không biết làm Tổng Thống, phải chi anh làm thì dân giàu, nước mạnh và mình đâu lưu vong”. “Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cũng là thứ tệ, tôi tin anh làm Thủ Tướng không những hơn ông Khiêm mà hơn cả ông Nguyễn Cao Kỳ nữa”, ông Giảng Sư lèo nói lại. Bốc qua bốc lại, ông Ðại Úy đi tới đâu người ta cũng không muốn gặp; ông Giảng Sư tới đâu, người ta cũng đóng cửa không cho vào.
      Làm trong Station Casino, Ameristar Casino người ta quyên United Way, đã không cho thì thôi lại “cho Mỹ uổng, để cho Việt Nam sướng hơn”. Mình đã quên mình được nhân dân Mỹ cưu mang trăm thứ mới có ngày hôm nay. Người Mỹ có Lễ Tạ Ơn hằng năm. Ta sống một chục năm, hai chục năm, ba chục năm…không phải mắt không có con ngươi hay là kẻ mất trí mà không thấy, không biết. Ông bà mình đâu có dạy những đứa con mình vô ơn vô nghĩa một cách “đểu” như vậy.
      Bà con mình khoái nghe láo hơn nghe thiệt. Cái nhà mua không “down” một xu teng thì nói 70, 000 đồng “cho người ta nể, không thì người ta khinh. Nghèo cũng là một cái tội”. Cặp vợ chồng nầy “thành thật khai báo” với tôi như vậy. Mà thiệt, người ta đã trọng cặp vợ chồng nầy từ khi họ biết nói láo, huyênh hoang. Hèn chi một anh đi hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột đã nói ở trên muốn “con nhái to như con bò” bèn trút lớp áo “cu-li” thành Ðại Úy mà “Ðại Úy Nhảy Dù người ta mới ngán” .
      Ôm một đống school supplies của Don Bosco phát cho mấy em bé con nhà nghèo về, khoe: “nhờ khéo chen, lấn, luồn, lách và còn chút nữa đánh lộn với người ta mới được về sớm thế nầy, chứ tới phiên mình thì còn gì nữa và nắng quá chịu gì nổi”. Chắc vợ chồng ông em bạn nầy đui, điếc và quen lối sống thiếu văn minh dưới cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhiều năm rồi nên hồ đồ một cách mọi rợ!?
      Những cuộc biểu tình của đồng bào Người Việt Quốc Gia chống Cộng ở ngoại quốc, đích thực có giá trị triệt tiêu những manh động của Việt Cộng và tay sai. Có kẻ tanh tưởi phát biểu rằng thì là “không đụng tới sợi lông tụi Bắc Bộ Phủ”. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà Trần Trường phải hạ lá cờ máu và hình Bác của tụi nó bị liệng xuống cống. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà âm mưu Madison Nguyễn không thành. Nhất là tụi Việt Cộng, có đứa nào nghênh ngang ở ngoại quốc và lá cờ máu của chúng cắm lên chỗ nào là bị quăng xuống đất chỗ nấy ngay.  
      Hai ông già cỡ 65 tuổi, một cựu Ðại Úy Không Quân còn vợ, một cựu Trung Sĩ Truyền Tin vợ chết. Ông Ðại Úy nói: “tôi có lấy vợ, vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy”. Ông Trung Sĩ nói: “ngang ngang tuổi tôi cũng được miễn là ăn ở với nhau trọn đời”. Ông Trung Sĩ về Việt Nam rước qua Mỹ một bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được…”; ông Ðại Úy bỏ vợ về Việt Nam cặp kè một con đàn bà nhỏ tuổi hơn con gái út của mình. Thời gian quá ngắn qua đi, bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được” và “vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy” rủ nhau chuồng tuốt luốt để hai ông trơ trọi “ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn”!
      Ai cũng biết, bọn cầm quyền Việt Cộng toàn là thứ thảo khấu, chuyên ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp xương tủy đồng bào mình mà mình có ngu cách mấy cũng thấy, cũng biết chính cả mình cũng là nạn nhân nữa chịu không nổi, phải liều chết ra đi. Ai đời, bây giờ mình lại trở về “xênh xang” cho bọn đầu trộm đuôi cướp nầy sai bảo, làm vui cho chúng hả hê một cách đĩ thỏa!? Tại sao chúng ta lại có những thứ “xướng ca vô loại” được nuôi lớn, vỗ béo từ Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại  cứ “chình ình” cái mặt mo mà “ùn ùn” về Việt Nam kiếm chút “phân” tụi nó toẹt ra? Trách chi người ta cứ lôi ông bà, cha mẹ của họ ra mả chửi: “đồ thứ “thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Ðình Hoa” không biết liêm với sỉ là gì” cũng đúng thôi.
      Người Việt ở đây không bao lăm người mà san sát đã có 3 chùa Sư, 2 chùa Cô rồi. Nay sẽ có thêm một chùa đang xây và một chùa sắp khai trương. Bận nầy, các Sư trẻ măng, các Cô trẻ măng từ Việt Nam qua Mỹ lập chùa đông quá. Chùa, không thấy chùa nào treo cờ Việt Nam Cộng Hòa. Không biết tổ quốc của mấy Sư, mấy Cô đâu nhỉ, chắc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam? Người ta đã nghi, các ổng, các bả là “cán bộ” của cái gọi là Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Một ngày nào không xa, các thầy như Thích Chánh Lạc, Thích Viên Lý, Thích Huyền Việt, Thích Giác Ðẳng, Thích Thông Triết…già đi, viên tịch đi rồi thì “ô hô! ai tai!” các chùa mặc sức Cờ Ðỏ Sao Vàng mà “Hồ Chí Minh Muôn Năm”!?
      Những chuyện nêu trên là những chuyện có thật và được kể thật. Nếu mà kể đủ thì không bao giờ đủ được, không bao giờ hết được, còn nữa và nhiều nữa. Chừng ấy cũng đủ nhức cả đầu, hoa cả mắt. Dĩ nhiên, chúng ta cũng có khối gì những con người làm nên tiếng tốt vẽ vang Người Việt. Nghĩ rằng, những chuyện kể trên sẽ có ít nhất những ai dính dáng vào nên thay đổi để chúng ta cùng nắm tay dẫn dắt con em mình đi trên con đường tươi sáng, hạnh phúc. Những chuyện kể trên ta thấy hằng ngày, nghe hằng ngày nhưng cả nể hay sợ đụng chạm, không ai muốn đả động đó thôi. Mà “nín” như vậy, nghĩ cho cùng, đã là thiếu tinh thần xây dựng cũng như thiếu trách nhiệm tất nhiên. Bài viết nầy không nhắm trực tiếp vào ai cũng không hồ đồ chi tiết cho riêng ai. Dù là sự thực của từng cá nhân một nhưng có tính biểu kiến và chung chung. Nếu có những ai na ná với ai đó mà thấy chính mình ở trỏng cũng nên nghĩ lại mà sống sao cho lương thiện, trong sáng, liêm sỉ để một mai nằm xuống còn hy vọng được Chúa rước về Thiên Ðàng và Phật đón nơi Niết Bàn và ít nhất bây giờ đây đang hiện tiền, sống với nhau một cách chan hòa, thân thương đầy trân trọng…

    • Cáo trạng này nghe sao giống lối hành văn của “Cửu Bình”. Giọng văn vừa mỉa mai châm biếm, vừa tố cáo mạnh bạo, nghe có phần giống như bài “Gì cũng cười” của Nguyễn Văn Vĩnh thì phải?

      Tuy nhiên, bài này phản ánh không ít những điều trung thực trong cuộc sống của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Những ai quan tâm, ắt cũng không tránh được những tiếng thở dài sau khi đọc bài !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: