• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Bây Giờ Tháng Bẩy

Bãi biển Ô Cấp năm xưa.

Bây giờ là Tháng Bẩy Năm 2012, sống những này cuối đời ở Kỳ Hoa Ðất Trích, tôi viết về những ngày Tháng Bẩy Năm 1954 trong đời tôi.

Thời gian qua mau.. 1954-2012.. Gần 60 năm kể từ năm tháng ấy, hôm nay khi nhớ lại ngày xưa để viết những chuyện này, tôi không nhớ đúng ngày tháng những chuyện xẩy ra trong Tháng Bẩy 1954.

Năm 1940 cuộc Thế Chiến Thứ Hai nổ ra, Quân Nhật vào Ðông Dương, đường liên lạc bằng tầu biển từ  Pháp sang Việt Nam bị gián đọan, Pháp bị Ðức chiếm đóng, người Pháp bị thiếu thực phẩm và hoá phẩm tiêu dùng, nguồn hàng hoá của Pháp không còn để tiếp tế cho ba nước Ðông Duơng, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu đủ thứ. Năm 1940 tôi 8 tuổi, khi tôi bắt đầu đủ tuổi để chơi những đồ chơi trẻ con chế tạo ở Pháp, tôi không còn có thể có những món đồ chơi ấy nữa.

Cô bé Bắc Kỳ Di Cư trong ảnh năm 1954 vào khoảng 10 tuổi. Cô vào Nam với ánh mắt vui và miệng cười tươi. Năm nay – 2012 – cô là bà già 65-70 tuổi. Tôi – CTHÐ – mong cô đã được sống yên bình trong Quốc Gia Việt Nam Tự Do. Biết đâu ở một nơi nào đó trên trái đất này, hôm nay, giờ này cô đọc bài viết này, cô thấy ảnh cô năm mươi năm xưa, ngày cô đi vào miền Nam Tự Do. Rất mong như thế.

Năm 1944 tôi đi Hướng Ðạo – Scout: Sì-cút. Ðoàn Ðống Ða – mẹ tôi may cho tôi cái sơ-mi nâu, quần soọc mầu xanh Tầu: đồng phục của Hướng Ðạo Việt Nam – nhưng dù muốn chiều tôi, mẹ tôi không mua ở đâu được cái mũ vải ba múi, mũ của Sì-cút. Tôi khổ sở vì trong đoàn Hướng Ðạo, anh em có mũ, tôi đầu trần. Tôi kể để diễn tả vào những năm 1942, 1943, hàng hoá chế tạo ở Pháp hiếm có ở xứ tôi đến là chừng nào. Cái mũ vải ba múi Si-cút ấy năm đó phải nhập cảng từ Pháp.

Xe ô tô ở nước tôi chạy dầu ma-dzút, gasogene, và tệ hơn nữa là chạy bằng hơi than – mỗi xe có một lò than ở sau xe.

Tôi không diễn tả được cảnh sống của nhân dân Bắc Kỳ những năm 1940, tôi chỉ viết sơ qua để nói lên chuyện năm tôi chưa lớn, cuộc sống quanh tôi thiếu đủ thứ vật phẩm. Những năm trước 1945 tôi còn nhỏ quá, tôi không thể đi chơi xa nhà. Ðó là một trong những lý do làm tôi trước năm 1945 không đến được biển Ðồ Sơn, Sầm Sơn.

Từ năm tôi ra đời đến năm tôi 20 tuổi, tôi không nhìn thấy biển. Rất nhiều thiếu niên Bắc Kỳ lưá tuổi tôi những năm xưa ấy cũng không nhìn thấy biển như tôi. Năm 1947 tôi đi kháng chiến. Tôi đi và sống 4 năm ở những tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, Thái Nguyên. Trong 4 năm ấy tôi đi nhiều nhưng cũng không một lần tôi đến biển để được thấy biển.

Năm 1953 tôi đi lính. Tiểu đội Lính Võ Trang Tuyên Truyền trong có tôi được phái ra phục vụ ở Trại Giam Tù Binh Phú Quốc. Sáng sớm lên Dodge 4 ra đi từ Sài Gòn, 6 giờ tối cùng ngày tiểu đội tôi đến bến sông Rạch Giá. Quân đội VN Ðệ Nhất Quân Khu ngày ấy mướn những ghe máy của người Tầu để chở lính hành quân. Lênh đênh trên sóng biển một đêm, mờ sáng, ghe máy đến đảo Phú Quốc. Ghe máy đậu ngoài khơi, chờ sáng nước lớn mới vào cầu tầu. Tôi lên boong tầu nhìn vào đảo. Mờ mờ trong màn sương là những dẫy đèn điện sáng xa xa ven biển. Những dẫy đèn điện ấy làm tôi nghĩ: “Ðèn điện nhiều  như thế kia là ở đảo có nhiều nhà dân, có hàng quán, có cà phê.” Buổi sáng lên cầu tầu Mũi Cây Dừa tôi vỡ mộng: Những dẫy đèn điện tôi thấy đó là đèn điện trên những hàng rào dây thép gai bao quanh những trại giam tù binh.

Trại Giam Tù Binh Ðảo Phú Quốc năm 1953 giống những Trại Giam Tù Binh Bắc Hàn tôi thấy trên màn ảnh xi-nê thời sự. Gần như tất cả số mấy ngàn người bị gọi là tù binh ở bốn trại này đều bị bắt ở những tỉnh Bắc Việt. Quân đội Pháp hành quân, bắt một số người mà họ nghi là binh sĩ Việt Minh bận thường phục. Họ coi những người đó là tù binh, đưa vào giam ở khu đất trồi ra biển gọi là mũi Cây Dưà Ðảo Phú Quốc. Loại tù binh này bị coi là Tù FDH: Fin des Hostilités, Tù không có án, tù mãi đến khi nào hết chiến tranh.

Năm 1953 tôi sống tám, chín tháng ở giữa biển. Tôi có tâm trạng kẻ bị đi đầy. Tôi hai mươi tuổi, tôi mới theo chúng bạn đặt những bước chân ngỡ ngàng vào những dancing Sài Gòn. Biển không hấp dẫn tôi chút nào. Những buổi chiều ngồi trên tảng đá, nhìn ra khơi thấy những đợt sóng biển như những đoàn xe ô tô từ xa chạy vào bờ cát, tôi nhớ Sài Gòn. Nhớ quá là nhớ. Tôi nghĩ giờ này các bạn tôi đi làm về, tắm, ăn cơm, sửa soạn đi chơi, đi xem xi-nê, đi nhẩy. Các bạn tôi sống ở Sài Gòn vui như thế tại sao tôi lại ngồi đây, trên ghềnh đá này?

Lần thứ nhất tôi thực sự thấy biển và yêu biển  đến với tôi trong Tháng Bẩy năm 1954. Chiến tranh chưa chấm dứt, Hiệp Ðịnh Geneve cắt đôi đất nước chưa ký, nhiều người Hà Nội đã di cư vào Sài Gòn. Trọng, bạn tôi từ thưở hai đứa học Lớp Ba ở Trường Tự Ðức, Hà Ðông, theo một đội Quân Y vào Sài Gòn. Chúng tôi tình cờ gặp lại nhau trong một sáng chủ nhật trên đường Catinat. Ðịnh mệnh cho tôi gặp lại Trọng để rồi từ Trọng tôi gặp người đàn bà là vợ tôi. Nàng là cô con của bà cô của Trọng.

Trọng bằng tuổi tôi, Trọng về ở nhà bà cô ruột của anh, đường Mayer, Sài Gòn, Một hôm Trọng bảo tôi:

“Bà cô tao và cả nhà đi chơi Vũng Tầu, tao đi theo. Mày muốn đi thì cùng đi với tao. Bà cô tao mướn nhà ở Vũng Tầu. Mình không phải ở phòng ngủ.”

Những ngày đầu Tháng Bẩy 1954. Quốc tế họp ở Geneve bàn tính chuyện chấm dứt chiến tranh Ðông Dương. Từ mấy năm nay Lực Lượng Bình Xuyên được Pháp giao quyền làm công an-cảnh sát Sài Gòn và giữ an ninh đường Sài Gòn-Vũng Tầu. Nghe nói Bình Xuyên giao ước mật với Việt Minh nên Việt Minh để cho đường Sài Gòn-Vũng Tầu được thông thương trong hai ngày Thứ Bẩy, Chủ Nhật mỗi tuần. Viết rõ hơn là Việt Minh thuận để cho những xe đò, xe tư nhân được đi lại trên đường Sài Gòn-Vũng Tầu trong hai ngày Thứ Bẩy, Chủ Nhật mà không đặt mìn, không chặn bắn. Chỉ hai ngày ấy trong tuần thôi. Xe từ Sài Gòn ra Vũng Tầu, và ngược lại, chỉ đi lại an toàn trong hai ngày Thứ Bẩy, Chủ Nhật. Người Sài Gòn ra Vũng Tầu sáng Thứ Bẩy phải về Sài Gòn chiều Chủ Nhật, xe về tập trung trước chợ Vũng Tầu, có xe của Bình Xuyên dẫn đường. Ai không về Sài Gòn chiều Chủ Nhật phải chờ đến Thứ Bẩy, Chủ Nhật tuần sau mới có thể về.

Gia đình bà cô của Trọng đi xe nhà, Trọng và tôi ra Vũng Tầu trên chiếc xe car của Bình Xuyên. Vào lúc 11 giờ trưa xe tới chợ Vũng Tầu. Chợ gần biển. Tôi thấy bãi biển Vũng Tầu năm ấy đẹp và văn minh như những bãi biển bên Pháp tôi từng nhìn thấy trên màn ảnh xi-nê: nắng vàng, cát trắng, biển và những hàng cây xanh, những kiosque và những cây dù xanh đo che nắng cho những ghế vải. Biển Vũng Tầu đẹp quá.

Tôi mê Biển từ đó. Từ Tháng Bẩy 1954.

o O o

Tháng Bẩy 1954 người Pháp làm chủ thành phố  Cap Saint Jacques – Vũng Tầu – người Việt gọi tắt là Ô Cấp, ra Cấp đổi gió. Có hai, ba cái Bar Dancing dành cho Lính Pháp. Sàn nhẩy xi-măng, nhạc máy hát. Ðĩa 45 tours. Gần như lộ thiên, người đi đường nhìn thông thống vào sàn nhẩy, nhưng không có trẻ con nào đứng ngoài nhìn xem người nhẩy đầm.

Sáng chủ nhật chúng tôi ăn sáng ở chợ Vũng Tầu. Tôi bảo nàng:

“Anh đi mua tờ báo.”

Sạp báo đầu chợ có tờ Nhật báo Tiếng Chuông. Hàng tít 8 cột trên trang nhất:

“Chiến Tranh Ðông Dương Chấm Dứt.”

“Nước Việt Nam chia đôi!”

Cầm tờ báo trở lại tiệm ăn, tôi nói với nàng:

“Hết chiến tranh rồi. Anh không phải ở lính nữa. Chúng ta có thể tính chuyện sống chung với nhau.”

Không có radio, nước Việt Nam bị chia đôi đã hai, ba ngày sáng nay đọc báo chúng tôi mới biết.

Nhiều năm sau tôi hỏi Nàng:

“Tại sao Em yêu anh?”

“Buổi chiều chúng mình ở bãi biển Long Hải, em nhìn thấy mắt anh nhìn em. Anh không nói, mắt anh nhìn Em làm Em nghĩ: “Nếu mình làm vợ người này, người này sẽ yêu thương mình lắm.”

Lại nhiều năm sau, nhớ lại ngày chúng tôi mới gặp nhau, mới yêu nhau, tôi làm bài Thơ:

Anh nói Anh yêu Em bằng mắt.

Tình Yêu như dòng Suối Ðam Mê,
Suối Tình Yêu đôi ta đẹp nhất.
Ta yêu nhau chẳng một hẹn thề,
Anh chỉ nói  yêu Em bằng mắt.
Anh vẫn nhớ chiều thu xanh ngắt,
Trời thu xanh như tóc Em xanh.
Biển thu xanh, Em đứng bên Anh.
Em nhìn thấy Tình Anh trong mắt.
Kể từ đó cả triệu lần Anh nhắc:
Anh yêu Em, yêu Em, yêu Em.
Em nghe nhiều, nghe mãi thành quen.
Em cảm động khi Anh yên lặng.
Khi Anh nói Yêu Em bằng mắt,
Như lúc này Anh đang nói những lời
Em nhìn lời Anh nói, Em ơi!

o O o

Năm 1961, hay 1962, Tết sắp đến. A. bảo tôi:

“Tết này anh cho em và các con ra Vũng Tầu.”

Những năm ấy quân Mỹ chưa đến Việt Nam, thành phố Sài Gòn còn vắng người, nói chi đến Vũng Tầu. Ngày chủ nhật báo Sàigònmới nghỉ, vợ chồng tôi đưa nhau ra Vũng Tầu hỏi mướn nhà để Tết đưa các con ra ở. Trong thị xã Vũng Tầu ngày đó không có nhiều Hotel, chỉ có vài khách sạn Ba Tầu ồn ào và bẩn. Nhưng Vũng Tầu thời ấy có một số nhà riêng cho mướn. Nhà nào cũng có vườn nhãn chung quanh, phòng ngủ đàng hoàng, đèn điện, máy nước, yên tĩnh, an ninh, ở được nhiều người, thoải mái, gia đình du khách có thể nấu ăn trong bếp.

Vợ chồng tôi đến Vũng Tầu lúc 11 giờ trưa trên chiếc xe Hillman cà rịch cà tang. Mướn nhà xong chúng tôi ra bãi giữa ăn cơm trưa. Ngày chủ nhật mà thành phố vắng ngắt. Chắc du khách Sài Gòn chờ đến Tết đưa nhau ra chơi. Bãi giữa nơi có con đường đá đi ra một lô-cốt nhô ra biển chỉ có một hàng cơm. Trưa ấy vợ chồng tôi là khách duy nhất của hàng cơm.

Ăn trưa xong, chúng tôi xuống biển tắm. Cả bãi biển chỉ có hai chúng tôi. Ðang cùng đứng ở chỗ nước đến ngang ngực, bỗng vợ tôi kêu:

“Anh ơi..!”

Cùng lúc tôi thấy cát dưới chân tôi tuột đi đâu mất. Tôi bị uống nước nhưng tôi đưa tay ra kịp để nắm lấy bàn tay trái của vợ tôi. Tôi nắm bàn tay trái của vợ tôi bằng bàn tay trái của tôi. Chúng tôi bị cuốn ra xa bờ. Tôi biết bơi nhung cả mười năm không bơi, tôi nắm được tay vợ tôi, kéo được nàng vào bờ là may. Số chúng tôi chưa chết. Vào được bờ, vợ tôi kiệt sức bò lên bãi. Vừa bò vừa nôn. Sợ sóng biển lại cuốn nàng ra, tôi cố sức đẩy vào mông  vợ tôi cho nàng lên hẳn trên bãi. Lại hồn rồi, tôi nhìn quanh, thấy từ chỗ chúng tôi để quần áo, xuống biển đến chỗ  chúng tôi lên bãi cách xa nhau đến cả trăm thước.

Tôi kể chuyện năm mươi năm xưa để nói lên tình trạng tai họa đến với con người không một dấu hiệu báo trước. Tai họa đến bất cứ lúc nào. Nếu trưa hôm ấy tôi không giữ được vợ tôi, nếu sóng cuốn nàng ra biển, đưa nàng đi mất tích, tôi sẽ ra sao? Ðời tôi sẽ ra sao?

Mất nàng, làm sao tôi có thể sống? Chưa kể chuyện tôi sẽ bị kết tội là giết vợ. Ai làm chứng cho tôi là vợ tôi bị sóng cuốn đi? Ai tin được  anh.

Về sau tôi nghĩ buổi trưa ấy ở bãi biển Vũng Tầu có cái gọi là Ma Mãnh nó phá chúng tôi. Người ta nói Ma Mãnh hiện ra ở nửa đêm, Ma Mãnh cũng hiện ra ở nửa ngày, tức ở giữa trưa. Nhưng Ma Mãnh không giết được người. Số vợ chồng tôi chưa chết nên Ma Mãnh chỉ làm cho chúng tôi sợ. Tôi tin như thế.

Năm 1948 tôi là nhân viên Ban Tình Báo Ðặc Biệt Gia Lâm. Nói là nhân viên cho oai, tôi làm liên lạc viên chuyên đi đưa thư bằng chân. Ði đất. Một buổi trưa tôi đi qua làng Ðình Bảng. Làng Ðình Bảng là làng giầu nhất vùng Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Làng nằm ngay bên đường vào phủ Từ Sơn. Lũy tre làng cao, dầy, nhiều tre, không xe tăng nào có thể phá nổi. Làng được Việt Minh chọn làm làng chiến đấu. Dân làng tản cư đi hết. Cổng làng đóng chặt, người đi vào, đi ra khỏi làng bằng những đường mòn xuyên qua lũy tre. Ðường đi trong làng cũng bị rào lại, có những lối đi xuyên qua những nhà trong làng. Làng Ðình Bảng năm ấy chỉ được làm thành Làng Chiến Ðấu để tuyên truyền. Không có trận đánh Tây nào ở đấy.

Mỗi lần đi qua làng Ðình Bảng tôi vẫn thích đi vào trong làng. Ði qua làng mất thì giờ nhưng tôi thích thế. Chui từ nhà nọ sang nhà kia trong một làng quê vắng tanh tôi có cái cảm giác lạ lạ không tả được. Một buổi trưa như thế vừa đi vào một sân nhà tôi gặp một cô gái đi ngược lại. Cô gái quê trạc tuổi tôi năm ấy, mười sáu, mười bẩy tuổi. Cô mặc áo cánh nâu, quần đen, chân đi đất như tôi. Khi tôi và cô gặp nhau ở giữa sân vắng không biết một sức mạnh nào làm bàn tay tôi vỗ đánh bốp vào bụng cô.

Tôi là con nhà có giáo dục, tính tôi lại không ngổ ngáo, nhát, cô gái có cho tôi vỗ cô tôi cũng không vỗ, đừng nói đến chuyện tôi làm hành động thô bỉ là vỗ bậy cô, nhưng một Ma Mãnh nào đó giữa trưa hôm đó đã làm cho bàn tay tôi vỗ vào bụng cô gái.

Cô gái buông ra ba tiếng:

“Ðồ khốn nạn.”

Cô đi luôn, tôi cum cúp đi thẳng. Ra khỏi làng rồi tôi chưa hết sợ. Nếu buổi trưa ấy có anh trai làng Ðình Bảng nào thấy tôi vỗ bậy cô gái làng, có thể tôi đã bị trận đòn nhục nhã.

Tôi kể hai chuyên để nói với các bạn sự việc Ma Mãnh có thể hiện lên quấy phá người vào nửa đêm, giữa trưa, nhưng dù ác độc, Ma Mãnh không thể giết được người.

o O o

Bãi trước Vũng Tầu nhìn ra hướng Tây. Những buổi chiều vợ chồng tôi nằm trên ghế vải ở biển nhìn ra biển, tôi thấy mặt trời vàng ối, lớn như cái nong, từ từ chìm xuống biển.

Những năm 1970 chúng tôi hay ra Vũng Tầu. Sáng chúng tôi ra bãi, vợ tôi ăn hai con cua nướng – mỗi con 20 đồng – tôi làm chai 33, tôi xuống biển tắm. Khoảng 11, 12 giờ chúng tôi vào ăn trưa trong quán Hoà Bình. Quán ở ngay trên bãi biển. Ông chủ quán là công chức Toà Thị Chính, bà chủ quán thường hỏi vợ chồng tôi về các món ăn của quán:

“Ông bà thấy có được không ạ?”

Một hôm bà nói với chúng tôi:

“Ông bà có tuổi mà hạnh phúc quá đi.  Chúng tôi ít thấy có cặp vợ chồng nào yêu thương nhau như ông bà. Mấy em trong nhà tôi nói chúng mong  được như ông bà.”

Quán Hòa Bình có hai, ba cô trên dưới hai muơi tuổi. Khi bà chủ nói với chúng tôi như thế, một cô nói:

“Chúng em mong mai sau chúng em cũng được như ông bà.”

Vợ tôi nhìn tôi với ánh mắt muốn hỏi:

“Tại sao mình yêu thương nhau mà người ta lại biết?”

Người ta biết dễ thôi.

Những cặp vợ chồng yêu thương nhau để lộ tình yêu trong mắt nhìn nhau, trong vẻ bình yên khi ở bên nhau. Vợ chồng yêu thương nhau không cần nói yêu thương nhau người ta cũng biết. Những cặp vợ chồng thù ghét nhau để lộ sự thù ghét trong mắt nhìn nhau, trong vẻ bực dọc khi gần nhau, người ta cũng nhìn thấy.

Trưa ấy, tôi nói lời khuyên cô gái:

“Muốn được như chúng tôi bây giờ, cô phải yêu ngay từ năm cô còn trẻ. Cô chọn một người, hết lòng yêu thương  người ấy. Có thể cô sẽ được như chúng tôi.”

Về sau nghĩ lại tôi thấy lời khuyên của tôi không trọn vẹn, không chỉ không trọn vẹn, nó còn là lời khuyên lảng nhách: Yêu một người, hy sinh cho người ấy cũng chưa chắc đời có hạnh phúc. Mình yêu nó, mình hy sinh cho nó, chắc gì nó đã yêu mình? Ở đời thiếu gì người yêu hết lòng mà vẫn bị đau khổ. Người mình yêu phải yêu mình. Ðó là điều kiện quan trọng để đời mình có hạnh phúc.

Vợ tôi thích núi, nàng thích lên Ðàlạt, tôi thích biển. Nhũng năm 1971, 1972 tôi không làm trong một toà báo nào, tôi chỉ viết tiểu thuyết, tôi sống bằng tiền bán tiểu thuyết. Không có gì bắt buộc tôi phải sống ở Sài Gòn. Tôi muốn ra sống luôn ở Vũng Tầu. Tôi sẽ mướn một căn nhà nhỏ ở Bãi Dâu, nhà ven sưòn núi, có điện nước, chỉ đi qua đường là xuống được biển. Tôi mang máy chữ, TiVi, radio, cassette, những quyển tiểu thuyết Pháp Mỹ và một số thuốc Mỹ Philip Morris Vàng, Lucky Strike, Pall Mall Ba Hàng Chữ For Export Only ra đó với tôi. Số thuốc điếu đủ cho tôi hút trong 15 ngày. Những năm 1970 tôi hút mỗi ngày 50 điếu thuốc lá Mỹ, tiền mua thuốc lá của tôi gấp ba tiền gạo vợ chồng tôi và ba con chúng tôi ăn. Mỗi ngày 50 điếu chưa kể sì-gà, pipe. Sống trong căn nhà ven biển đó ngày ngày tôi xuống tắm biển, ngày ngày tôi viết truyện. Mười lăm ngày tôi mang tiểu thuyết về Sài Gòn giao cho nhà báo, nhà xuất bản, lấy tiền nhuận bút, tiền bản quyền, đến nhà sách tìm mua những tiểu thuyết Âu Mỹ mới nhập, quan trọng nhất là mua một số thuốc điếu Mỹ đủ hút trong 15 ngày, và trở ra Cấp.

Không bao giờ giấc mộng “Sống và Viết ở Cấp” của tôi thành tựu. Nhưng..

Nếu Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà của tôi không bị tiêu vong, rất có thể hôm nay, một Ngày Tháng Bẩy năm 2012, tôi là người viết tiểu thuyết già sống bình yên trong một căn nhà ven biển Ô Cấp.

Một buổi chiều năm 1972, hay 1973 nhân viên Toà Thị Chính Vũng Tầu có tiệc ăn ở Nhà Hàng Hoà Bình. Vợ chồng tôi được ông Thị Trưởng mời vào dự tiệc. Toàn những người lịch sự, học thức.

Ðầu năm 1976 nhớ Cấp quá, vợ chồng tôi trở ra Cấp. Ô Cấp 1976 tiêu điều. Chúng tôi trở lại Quán Hoà Bình. Ông chủ quán là Trưởng Ty, bị đi tù. Người khác nay làm chủ quán. Lúc 6 giờ tối đám bộ đội Bắc Cộng vào đầy trong quán. Họ không vào quán để ăn, họ vào đứng nhờ trong sân xi-măng của quán, họ đứng đó nhìn ra biển.

Tôi ngậm ngùi nhìn mặt trời vàng cam, lớn như cái nong, chìm dần xuống biển. Vẫn là biển xanh xưa, vẫn vầng mặt trời hoàng hôn năm trước. Vẫn là vợ tôi và tôi.

Tim tôi đau nhói.

o O o

Năm 1954 tôi bị Công An VC bắt đi tù lần thứ hai – Tội gửi bài viết tố cáo chế độ tàn ác ra nước ngoài – lần này tôi nằm phơi rốn 5 năm trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu và Lầu Bát Giác Chí Hoà. Năm 1988 tôi ra toà, lãnh án 6 năm. Năm 1989 tôi theo anh em tù từ Nhà Tù Chí Hoà lên Trại Tù Cải Tạo Z30 A. Năm năm trời bị nhốt trong phòng tù, buổi sáng thứ nhất tôi đứng trong sân trại Tù nhìn Núi Chưá Chan xa kia mờ mờ trong sương sớm, Thơ đến với tôi:

Bình minh ngắm Ðỉnh Chưá Chan
Tưởng như trời đất bạt ngàn hoa bay.
Ðến đây đoạn cuối Tù Ðầy
Năm năm xa ước một ngày bên nhau
Ai về tôi nhắn đôi câu
Nhớ Em anh đợi bên cầu Ái Ân….

Từ Nhà Tù Chí Hoà tôi lên  Z 30 A Núi Chưá Chan ngày 20 Tháng Giêng Ta – Ngày 20 Tết – mùa xuân trời còn lạnh. Cùng đến Z 30 A trên chuyến tù xa với tôi là khoảng 40 anh em tù, toàn tù chính trị, trong số có nhiều người Tầu Chợ Lớn – đến Z 30 A chúng tôi được tương đối tự do, được viết thư nhờ những người Sài Gòn đến trại thăm chồng, thăm bố, thăm con, đem về Sài Gòn đưa dùm đến tận nhà. Như nhiều anh em, tôi viết năm, bẩy lá thư nhờ năm, bẩy người cầm về Sài Gòn. Gửi nhiều thư, nhờ nhiều người đưa cho chắc ăn.

Tiếng ai dậy đất, vang trời:
“Em lên Xuân Lộc, em ơi, anh chờ.”

Vợ tôi đến Z 30 A. Năm giờ chiều Nhà Khách vắng tanh. Vợ chồng tôi rủ rỉ bên nhau. Năm năm rồi tôi mới gặp lại vợ tôi. Nhà Khách có cái giếng, tôi bảo nàng:

“Anh xách nước vào nhà tắm cho em tắm nhé.”

o O o

Bốn mươi năm sống với nhau ở Sài Gòn, trong số có 20 năm thương xót nhau trong căn nhà nhỏ Cư Xá Tự Do. Một sáng trong căn nhà tối ấy – năm 1976 – tôi nhìn tôi trong gương, thấy tôi gầy, đen, người chỉ còn da với xương, như con trâu già, tôi làm mấy câu tự tả:

Anh gầy, em lại gầy hơn.
Thương ơi, da thịt chỉ còn xương da.
Trước gương lặng ngắm đôi ta
Ai hay thân phận ta ra thế này.
Một ngày hai bữa cơm chay
Lấy gì em mượt, em dầy, hỡi em.

Lại 20 mùa thu sống bên nhau ở Kỳ Hoa Ðất Trích. 20 mùa thu lá bay cuối đời. Trong 80 năm cuộc đời, chúng tôi đã sống với nhau, đã yêu thương nhau 60 năm.

Bấy giờ Tháng Bẩy 1954.

Bây giờ Tháng Bẩy 2012.

Advertisements

2 Responses

  1. “… Ma Mãnh có thể hiện lên quấy phá người vào nửa đêm, giữa trưa, nhưng dù ác độc, Ma Mãnh không thể giết được người.… Tôi là con nhà có giáo dục, tính tôi lại không ngổ ngáo, nhát, cô gái có cho tôi vỗ cô tôi cũng không vỗ, đừng nói đến chuyện tôi làm hành động thô bỉ là vỗ bậy cô, nhưng một Ma Mãnh nào đó giữa trưa hôm đó đã làm cho bàn tay tôi vỗ vào bụng cô gái…”
    Cám ơn bài viết của bác Hoàng, những năm xưa tôi cũng có vài lần làm chuyện ngu ngốc mà không hiểu tại sao mình có thể làm việc đó lúc đó, nay đọc bài bác viết tôi giật mình ngộ ra, thấy đúng như bác nói … tuy tôi không đổ lỗi cho ma mãnh để trốn trách nhiệm nhưng quả thật tôi không thể nào giải thích được hành vi của mình …
    “…Về sau nghĩ lại tôi thấy lời khuyên của tôi không trọn vẹn, không chỉ không trọn vẹn, nó còn là lời khuyên lãng nhách: Yêu một người, hy sinh cho người ấy cũng chưa chắc đời có hạnh phúc. Mình yêu nó, mình hy sinh cho nó, chắc gì nó đã yêu mình? Ở đời thiếu gì người yêu hết lòng mà vẫn bị đau khổ. Người mình yêu phải yêu mình. Ðó là điều kiện quan trọng để đời mình có hạnh phúc…”
    Tôi không muốn nịnh bác Hoàng nhưng đọc mấy giòng này, tôi bái phục bác Hoàng quá, tâm phục khẩu phục, không thể có câu nào đúng hơn được, hoàn toàn đồng ý với bác, hạnh phúc lứa đôi phải là con đường hai chiều, người nào đó đã nói … sống với nhau phải “ biết điều” … một ông bạn lớn tuổi có nói … “ở đời có ba việc do số mệnh an bài sẵn, mình không thể chọn lựa, thứ nhất là công việc làm, thứ hai là căn nhà mình ở, thứ ba là người bạn đời” may nhờ rủi chịu, việc gì đến sẽ đến, que sera sera …
    Vũng Tàu ngày nay tuy có mở rộng nhiều nhưng không đẹp và sạch như những ngày bác tả, có lẽ tại đông người quá, đông người thiếu ý thức …

  2. Cảm giác đi trong làng hay phố thị không có người lai vãng em cũng thấy là một cái thú. Em nhớ hồi xưa theo ông già đi vượt biên lò mò 2, 3 giờ sáng thức dậy đi ra bến xe đò đợi xe thấy thành phố buồn thiu và vắng ngắt không có một bóng người.

    Ông già em đi trước. Em theo sau. Thỉnh thoảng em lại nhìn xung quanh trong lòng bỗng thấy sợ hãi tưởng như cả thành phố đã chết hết người chỉ còn lại có 2 bóng ma là em và ông già đang đi thất thểu.

    Trong các trò chơi điện tử có loại tên gọi là survival horror khi chơi cũng làm cho người ta có cảm giác này. Thường là cả thành phố bị bệnh dịch hay quái thú giết hết cho nên trở thành hoang tàn, đổ nát. Người chơi phải xách súng chạy loanh quanh tìm lối thoát. Sợ nhưng mà vui!

    Đầu tuần em giới thiệu với các bác hai phim xem rất noir, phim Love Crime (http://en.wikipedia.org/wiki/Love_Crime) và phim The Killer Inside Me (http://en.wikipedia.org/wiki/The_Killer_Inside_Me_(2010_film)). Hai phim này có nhiều plots và twists y hệt như các truyện như Nụ Hôn Tử Biệt, Đen Hơn Bóng Tối, Không Tìm Thấy Mộ …

    Chúc các bác một tuần vui vẻ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: