Khám Lớn Sài Gòn

KHÁM LỚN SÀI GÒN Số 1, ở Ðường Lagrandière – năm 1952 là Ðường Gia Long – Ảnh năm 1930.

Sài Gòn có hai Nhà Tù được gọi bằng cái tên Khám Lớn. Khám Lớn Sài Gòn Số 1 – hình đi cùng bài viết này – được người Pháp xây ở giữa  thành phố Sài Gòn, Khám ở Ðường Gia Long, cạnh Dinh Gia Long, đằng sau Khám là Ðường Lê Thánh Tôn, nơi có nhiều tiệm giầy của Sài Gòn. Trước mặt Khám là Toà Án. Khi xây Nhà Tù ở chỗ này, chính quyền Pháp muốn có sự tiện dụng: khi đưa người tù trong Khám ra tòa, lính giải tù chỉ cần đưa người tù đi bộ qua đường là vào được tòa án bằng cổng bên hông tòa. Người tù bị giam để thẩm vấn ở Bót Catinat có thể bị còng tay đưa đi bộ sang Khám Lớn, không cần có xe đưa.

Nhưng sau năm 1940 nhiều căn nhà ở đường Lê Thánh Tôn – trước năm 1945 tên là Ðường D’Espagne – Ðường Ðét-banh – lên thêm tầng lầu. Từ những căn lầu này người ta có thể nhìn vào sân Khám Lớn. Thêm nữa Nhà Tù nằm ngay giữa thành phố coi bộ không đẹp mắt, chính quyền Pháp tính chuyện xây một nhà tù mới ở ngoại ô Sài Gòn. Khám Lớn Thứ Hai của Sài Gòn là Khám Chí Hòa, đến nay vẫn còn được dùng.

Những người Sài Gòn ra đời sau năm 1950 không biết Nhà Tù Khám Lớn Gia Long, Sài Gòn, vì năm 1953 Nhà Tù này bị đập bỏ. Thay vào đó là toà nhà Thư Viện Quốc Gia, một trong những Thư Viện tối tân nhất của Ðông Nam Á Châu.

Bánh xe tị nạn đưa tôi sang Xứ Kỳ Hoa, tôi được đọc Hồi Ký “Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo” của Nhà Văn An Khê, Người Viết Tiểu Thuyết nổi tiếng một thời của làng báo Sài Gòn. Tôi không ngờ anh An Khê – An Khê Nguyễn Bính Thinh – người viết tiểu thuyết rất hiền lành tôi từng được biết – lại viết một Hồi Ký Ngục Tù Hay đến như thế.

Nhà Văn An Khê bị Mật Thám Pháp bắt vì tội chính trị khoảng năm 1940, từng nằm ở Poste Catinat, Khám Lớn Gia Long và Nhà Tù Côn Ðảo. Ðây là đoạn Nhà Văn viết về Khám Lớn Sài Gòn Số 1:

Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo. Tác giả AN KHÊ. Nhà Làng Văn xuất bản ở Canadanăm 1993. Trang 69/70/71/72. Trích:

Khám Lớn Sài Gòn!

Cái địa danh ấy, cái thế giới kinh hoàng rùng rợn ấy, dù chỉ bốn tiếng gọi, dù chiếm một diện tích nhỏ hẹp ở trung tâm thành phố – Số 69 đường Lagrandière – vào những năm trước 1953 là nơi ít có người dân nào dám tưởng nghĩ hay nhắc nhớ đến. Ðấy là sầu thành khủng khiếp tọa lạc giữa đường phố nhộn nhịp của Sài thành, nơi được gọi là Hòn Ngọc Viễn Ðông, với bốn bức tường thành cao vọi có truyền điện cao thế, với những dãy nhà lầu ba tầng, với một hệ thống canh phòng chặt chẽ sau lớp song sắt kiên cố, nơi là nấm mồ kín đáo bao lấp biết bao cơ man uất hận của hàng vạn con người mang thân chim lồng, cá chậu, trong thời kỳ dân Việt bị Thực Dân Pháp đô hộ kéo dài 80 năm.

Số tội nhân thường trực của khám vào khoảng 3,000 người, có kẻ ở lâu đến vài ba năm, có người bị giam một thời gian rồi chuyển đi nơi khác. Thường phạm có, chính trị phạm có, già trẻ bé lớn, cả vị thành niên và phụ nữ. Trong khám người tù có cuộc sinh hoạt riêng, nhọc nhằn và khổ cực, chết thảm. Tất cả xảy ra trong vòng thành chỉ cách một con đường với cảnh người ta tự do qua lại của thành phố.

Trong sầu thành ấy, bao kiếp người đã nhiều đêm trằn trọc ao ước sống dưới trời tự do, thèm  một hơi thở sảng khhoái của kẻ ở bên ngoài. Những đêm không ngủ, tai nghe vẳng tiếng cười nói vui nhộn của trai thanh, gái lịch dạo phố, hồi tưởng đến thời bay nhẩy không vướng mắc của mình đã qua, lòng gậm nhấm sâu sắc nỗi sầu hận mà người xưa thường nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Rồi những đêm mưa sầu rả rích, đố ai từng nằm trùm manh chiếu rách bên song sắt phòng tù, bụng đói nao nao, nghe tiếng chị bán chè dưới đường rao lanh lảnh: “Ai chè đậu xanh, đường cát, bột khoai, bún tàu hông..!” mà chẳng nhớ nhà day dứt, sầu nẫu cả ruột gan.

Ngày 8 tháng 3, năm 1953, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, thời Cựu Hoàng Bảo Ðại, trong Ngày Lễ Quốc Khánh, cầm búa phá viên gạch đầu tiên của Khám Lớn Sài Gòn, cốt chứng tỏ là người Việt đã giành lại được quyền tự trị. Trước đó, năm 1942, chúng tôi ngồi tù Khám Lớn đã nghe nói đến việc Nhà nước đang xây cất Khám Chí Hoà to lớn hơn, kiên cố hơn, để dời tù ra khỏi thành phố. Vì tuy bưng kín đến đâu, Khám Lớn Sài Gòn vẫn gây nhiều ồn ào khiến dư luận và báo chí ta thán về sự hà khắc của nhà cầm quyền. Vòng thành tường ngục bị phá đi rồi, mãi đến ngày 3 tháng 7, 1956 nơi đây mới có một lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Trung Tâm Văn Hoá và Thư Viện Quốc Gia.

(.. .. ..)

Tội phạm trong nhà tù không ngớt moi sáng kiến để cuộc sống tù túng được đôi phần thoải mái. Ðã lâm cảnh sa rọ, nếu cứ buồn rầu nhớ nhà, nhớ vợ con, dễ bị mất tinh thần. Ở tù mà mất tinh thần thì nguy lắm. Chúng tôi cố giữ vững tinh thần cho nhau. Chế độ cai tù khi ấy khắc nghiệt vô cùng: cấm không cho tù nghe tin tức biến động bên ngoài; cấm một mảnh giấy báo nhỏ, dù tờ giấy báo gói đồ đã cũ xì, tin xưa hằng một, hai năm trời. Nhưng người ta càng bị áp bức càng quật cường. Càng bị cấm đoán càng vi phạm.

Trong khám chúng tôi có cả sách, giấy viết, bút mực, bút chì. Sách là sách chép tay bằng mực lợt mầu tím của thuốc tím rửa ghẻ, hay là mầu đỏ của thuốc đỏ sát trùng, giấy làm bằng vỏ bao thuốc lá đóng lại thành quyển sổ nhỏ. Ngòi viết hoặc bằng tre, hoặc bằng cọng kẽm chì. Cán viết thường là cọng chổi. Bút chì lấy nơi ngòi chì của cây bút chì được phát cho tù viết thư.

Mỗi tuần có hai ngày, tù trong khám được viết thư về nhà. Một người tù ở cửa rôn đem giấy, bút lên phát cho tù salle, sau khi anh tù này đã cởi bỏ quần áo bên ngoài và bị khám xét để không thể dấu cái gì khác. Mỗi bên song sắt vào hôm phát thư, được phát từ tám lá thư đến mười hai lá và một đoạn bút chì dài cỡ hai phân. Tất cả giao cho cặp-rằn hai phòng giam hai bên song sắt canh chừng và chỉ dẫn cho anh em tù viết. Thư in sẵn một mặt có tên, địa chỉ Khám Lớn, chỗ để thự danh tội phạm, số đính bài, số salle và nơi điền tên họ, địa chỉ của người nhận thư. Nội dung lá thư viết về nhà không ngoài việc kể sức khỏe tốt của mình và xin tiền nhà gởi cửa rôn để mua quà căn-tin.

Với đoạn bút chì ngắn ấy, tù phải viết khéo, chớ đè gẫy đầu chì. Nếu gẫy, anh tù cửa rôn chỉ chuốt lại cho một lần bằng đồ chuốt viết chì mà anh có quyền đem vào khám. Thành thử anh cặp-rằn phải canh chừng cho anh em chỉ được quyền đè mạnh đầu chì cho gẫy vào hai thư cuối cùng, nếu không thư trắng sẽ bị thu hồi không cho ai viết nữa. Mỗi phòng có hàng trăm người tù, mỗi khi cho viết thư chỉ hạn chế ít như thế, tránh sao cho khỏi sự tranh giành. Cặp-rằn phải làm danh sách trên tường, rồi tuần tự phát giấy, bì thư theo danh sách. Và số người làm gẫy đầu chì cũng phải được sắp xếp. Ðầu chì bị gẫy tí xíu ấy được giấu ngay và về sau mới tỉ mỉ gắn vào cọng chổi, biến thành cây bút chì. Nhờ thế, thi sĩ Bùi Ái Quốc có một tập thơ viết bằng mặt sau bao thuốc lá rất dày. Ðến phiên anh Quốc viết thư, anh biên cả một bài thơ gửi cho vợ. Anh em tù thấy vậy trách anh phí của, chưà bao nhiêu khoảng trống. Anh cười hì hì:

“Tao viết cho vợ tao, nó thích là được rồi.”

Ái Hương, vợ Bùi Ái Quốc, tuy thất nghiệp, ôm con nhỏ xong vẫn cố chạy luật sư bào chữa cho chồng. Thỉnh thoảng ông luật sư người Pháp vào Khám Lớn, gọi Quốc xuống phòng kín hỏi han. Khi được trả về khám, anh em cằn nhằn sao không xin thuốc hút của ông luật sư, Quốc nói ông luật sư đã già, đâu có hút thuốc, vợ Quốc biết chồng không hút thuốc nên đâu có lén gởi luật sư nhét vào tay anh một, hai điếu. Tuy nhiên anh em cũng mừng cho Quốc có người vợ lanh lợi khéo chọn được ông luật sư sốt sắng. Có thiếu chi người  gia đình có thuê luật sư mà có ông nào thường lui tới thăm hỏi can phạm như vậy đâu. Chắc sau này ra toà, ông sẽ cãi hùng hồn lắm, gỡ tội dễ dàng cho thân chủ. Nhưng Quốc nói riêng cho mình tôi nghe:

“Ông có hỏi han tao gì đâu. Ông nhét vô tay tao khúc bánh mì thịt hay cái bánh pa-tê nhân thịt, hay bánh kem rồi hối tao ngồi núp dưới chân ông ăn lè lẹ. Ông cằn nhằn vợ tao đưa tiền xe ít quá, song ổng thương mà giúp vậy thôi.”

Trong việc viết thư về nhà, mặc dầu cặp-rằn nhắc nhở chớ có viết gì khác, trong phòng chúng tôi cũng có hai anh cãi lời, lén ghi nơi cuối thư một hàng nhắn vợ, khiến vợ hai anh bị liên lụy. Ðấy là trường hợp anh Lương Văn Có, một tay chơi ngoài đời,  viết trong thư gửi vợ anh:

 “..Cái đồ của tao để đâu mầy đừng đụng tới. Ðể tao ra khám, tao xài.

Thư của anh bị cai tù kiểm duyệt rồi chuyển sang Bóp Catinat. Lính kín đến nhà anh Có, bắt vợ anh Có, điều tra chị đến nỗi mấy tháng sau chị còn bầm tím nửa mặt. Chị có biết ất giáp gì. Ðến khi đem chị đến đôi chối với chồng, té ra đây là khẩu súng anh chồng chôn lén ở ngoài vườn. Chị vợ về sau được thả ra. Trường hợp thứ nhì là anh Xê, viết thư dặn vợ ở Cầu Bông, Thị Nghè:

Món đồ quí của anh em rán giữ gìn, đừng để thằng khác xâm phạm. Anh sẽ về không lâu.”

 Thế là vợ anh Xê bị bắt, bị điều tra xem đồ quí đó là đồ gì! Anh chồng có âm mưu vượt ngục hay sao mà biết ngày về không lâu? Chị vợ Xê nào biết gì, bị đánh quá, chị kêu trời như bộng. Lính kín cho hai vợ chồng gặp mặt để chị vợ không cách chối cãi. Anh Xê không ngờ vì một chút đó mà vợ anh mang họa, nổi sùng la lên:

“Mấy người muốn hỏi món đồ quí của tôi hả? Nè, hai món quí ở ngực vợ tôi nè, một món nữa ở bụng nè, biết hông? Sao không hỏi tôi, lại đánh vợ tôi như vậy? Mấy người thông minh lắm há, bí mật nào cũng bảo khám phá được hết mà không biết cái bí mật đó.”

Bị anh Xê xài xể, bọn lính kín không giận mà tức cười. Thì ra anh chồng ghen, nằm khám rồi mà còn sợ mất vợ, căn dặn quá kỹ.

Trong khám, chúng tôi thường tổ chức những lớp học tập thể. Cứ vào mỗi tối, sau khi cửa khám bên ngoài đóng chặt và chắc chắn, thằng Xếp khám đã đi tìm bạn tán dóc, chúng tôi mới quây quần lại một góc, viết vẽ dưới nên hắc ín các đề tài thuyết trình. Hoặc về lịch sử, hoặc về địa dư. Ai biết gì, cứ đứng ra nói. Cùng học chung nhau. Vừa học vừa lắng tai nghe nơi cửa chánh. Có động tĩnh gì, anh em vội tan hàng, nơi viết, vẽ không kịp xóa thì trải chiếu nằm lên, giả bộ ngủ. Nhưng tổ chức được ít lâu, bị mật báo, Xếp khám để ý khám xét, chúng tôi đành phải  ngưng ngang chương trình. Ban ngày, chúng tôi kể chuyện lịch sử hoặc dậy những người mù chữ, tối lại diễn kịch giải trí chung vui. Anh Nguyễn văn Lợi, hồi trẻ có đi gánh hát Quốc Gia Ca Kịch Ðoàn, đứng ra lập gánh hát Bầu Lỳ. Trước khi bật đèn 15 phút trong salle, anh nhóm những ai tình nguyện tham gia để nói cho nghe cốt tuồng hát, và phân vai, ai đóng vai ông già, bà lão, trai gái ..v..v.. Tuồng hát cương, kép hát cũng cương, song không ai để ý sự vụng về mà trái lại vừa tấm tắc khen, vừa ôm bụng cười. Có một số tuồng giễu cợt bọn lính kín, bọn Xếp khám, diễn viên vừa diễn vừa lấm lét nhìn ra cửa sắt.

Vở kịch được tù ưa thích nhất là vở kịch Tù Bót Catinat nổi loạn, bắt giết tên Cò Bazin. Hồn của hắn bị quỷ vô thường dẫn xuống Ðịa ngục, bắt quì lạy trước mặt Diêm Vương

Giả Diêm Vương đập bàn – bàn giả như có – điểm mặt gã hung thần ác sát nọ, quát mắng:

- Thằng kia, mày có phải là thằng Cò Chánh Bazin ở bót lính kín Catinat không?  Mày có biết tội ác của mày như non, như biển không?

Giả Cò Banzin run rẩy chối lia lịa:

- Bẩm lậy Diêm Vương, tôi hổng có làm gì nên tội. Tôi hiền lương, chuyên hốt bạc cắc và dẫn đầm non đi dạo phố thôi.

- Hay cho thằng Bazin ngoan cố, dám chối tội trước mặt ta. Thư ký ta đâu.., uả mà phán quan đâu, xét sổ xem nó phạm những tội gì!

Giả Phán Quan, mang cặp mắt kiếng bằng dây chì, giả bộ lật sổ xem:

- Dạ.. Thưa Diêm Vương, thằng Cò Bazin này là thằng Cò ác ôn nhất thế gian. Nó bắt những người yêu nước đánh thấy mồ tổ. Già bằng cha nó, nó cũng đánh. Ðáng kính như thầy nó, nó cũng đập. Cả đàn bà, con gái nó cũng cho chạy điện tàn nhẫn. Nó bắt tôi lộn mề gà, cho bọn đàn em nó đập tôi muốn lòi con trê. Thằng này tội đáng đầy xuống 18 tầng địa ngục. Ngưu đầu, mã diện đâu! Lôi nó đi dượt một mách sơ sơ thử coi.

Tứ thì có vài Giả Ngưu đầu, Mã diên xông tới, ra tay đánh Bazin tới tấp, Bazin Giả la khóc om trời, cả khám cười vang. Có tối, các diễn viên diễn xuất thần như thật, anh Tù Bazin Giả la dội dội:

- Ê.. Tao giả chứ có phải nó đâu. Tui bay quánh thiệt, đau quá.

- Ai biểu mày giả bộ giống nó quá, tụi tao ghét nó, không đánh thật sao được.

Cả khám cười rộ.

Có ông Bảy Hốc Môn, đã gần bảy mươi tuổi mà bị lính kín bót Catinat tra tấn đến gãy một xương sườn, cười hề hà nói:

- Quánh cho chết thằng Cò Bazin đi. Giá mà sự thật được như vậy thì sướng quá, hẻo mấy chú em? Mấy chú em diễn kịch hay quá, như thiệt. Mà mấy chú em còn trẻ, biết yêu nước, thương nòi mà phải tù bộng như vầy là tốt lắm. Ta ở Hốc Môn, kiểng họ đông, cháu gái nhiều lắm. Tụi nó đều học trường Marie Curie, Couvent des Oiseaux. Có chú em nào chưa vợ, khi được tự do, lên Hốc Môn ta gả cháu gái ta cho. Khỏi cần bằng cấp cao, khỏi cần chức tước ngoài đời, tư cách dám làm cách mạng và tề chỉnh trong tù của mấy chú em được ta chấm điểm cao.

Lời nói của ông tưởng chừng rồi qua đi với thời gian. Thế nhưng có một anh tên Khanh, chúng tôi thường gọi là Khanh Nhà Báo vì anh hay loan tin vịt báo hại anh em cả tin, khi ra tù Khanh Nhà Báo đã tìm đến Hốc Môn và được ông Bảy gẫy ba sườn nọ thực hiện lời hưá: ông gả cháu gái cho Khanh. Ở trong khám, anh em thương mến nhau, thường hưá gả em gái hoặc sẽ làm mai cho người chị hãy còn son trẻ để kết thêm tình thân giữa bạn đồng chí với nhau. Có một số giữ đúng lời hẹn.

( .. .. .. )

Cuộc la ó phản đối Paul Hiền hôm ấy thấu đến tai những người tù ở lầu hai bên trên cửa rôn. Ðấy là hai người Pháp, bị giam ở khám gọi là Khám Tây, nơi giam giữ những quan chức và công dân Pháp. Từ bên trong song sắt chúng tôi nhìn lên, trông thấy khám ấy. Vào mỗi chủ nhật, nơi ban-công khám ấy vui vẻ, náo nhiệt. Những bà đầm già, những cô đầm trẻ mang những hộp bánh ngọt đắt tiền của những hiệu bánh danh tiếng nhất Sài thành vào thăm thân nhân. Tù giam ở đấy ngủ giường sắt, nằm nệm êm, có quạt máy, có bồn nước, phòng tắm vòi hoa sen. Vợ con, thân nhân nuôi đều đều, quà cáp đầy đủ. Thân nhân gặp nhau, cười nói tíu tít, hôn hít lia chia. Ở tù như họ, sung sướng thấy mà ham.

Một hôm có hai người tù Pháp lần mò đến Préau 7 trò chuyện với chúng tôi qua song sắt. Trong hai người ấy, một người là chủ nhà sách Tây lớn nhất Sài Gòn ở đường Catinat, Nhà sách này – Nhà  Sách Albert Portail – về sau bán lại cho người Việt đổi tên hiệu là Nhà Sách Xuân Thu. Hai người Pháp nọ thuộc phe Kháng Chiến của Tướng De Gaulle, người đang cầm đầu những lực lượng của nước Pháp Tự Do đánh lại Trục Phát-xít Ðức-Ý-Nhật. Phe Toàn Quyền Decoux, theo Pétain, thân Nhật, bắt giam những người Pháp Tự Do nên họ mới có mặt ở Khám Tây và chứng kiến cảnh chúng tôi chống đối Paul Hiền. Họ xuống trò chuyện với chúng tôi hai lần, thân mật nói :

« Công việc các anh làm đây, hiện nay ở nước chúng tôi, những người Pháp yêu nước đang làm.  Các anh sẽ không bị mất tự do lâu đâu. Chúng ta là đồng minh cùng tranh đấu cho tự do của con người và đất nước mình. Tướng De Gaulle và Ðồng Minh đang thắng. Nước Pháp sẽ được giải phóng. Tướng De Gaulle sẽ nhìn nhận nền độc lập của xứ sở các anh. »

(.. .. ..)

Lãnh quần áo và thẻ bài xong, chúng tôi bị lùa ra khoảng sân trên con đường giữa nhìn thẳng vào khám đường chánh cao sừng sững ba tầng lầu, có cưả vòng cung sâu thẳm như mệng con ngáo ộp chỉ có nuốt vào chứ không có nhả ra, có lầu trống, có gác chuông canh gác nghiêm nhặt. Cứ mỗi ngày, từ 6 giờ  chiều đến 6 giờ sáng hôm sau, sự canh phòng cẩn mật bắt đầu lên tiếng cho mọi người nhớ đó là tường đồng, vách sắt không dễ gì trốn nổi. Nơi bốn góc tường thành có bốn chòi gác. Cứ 15 phút, tên lính canh nơi chòi gác thứ nhất phải hô to: «  Veilleur Un.» ( Tên gác thứ nhất). Kế đến tên lính canh vọng gác thứ hai phải hô tiếp theo: « Veilleur Deux. » ( Tên gác thứ hai) Và liên tiếp như thế đến tên gác thứ ba, thứ tư. Hô không đủ lớn hay hô trễ là có người kiểm xoát đến ngay chỗ xem vì sao. Hai lần hô và đếm như thế là nửa tiếng đồng hồ. Lầu trống đánh trống thì thùng ba tiếng, báo hiệu việc canh phòng diễn ra tốt đẹp. Bốn lần hô là một giờ, gác chuông đánh ba tiếng kẻng, chứng nhận việc canh phòng diễn ra đúng phép trong vòng một giờ đồng hồ vừa qua. Trống đánh 24 lần, kẻng gõ 12 lần là xong một đêm.

Ngưng trích Hồi ký An Khê.

CTHÐ: Anh An Khê là một người viết tiểu thuyết Phơi-ơ-tông nổi tiếng trong làng báo Sài từ năm 1960 đến năm 1970. Anh là tác giả truyện « Người Vợ Hai Lần Cưới.»Truyện được làm thành phim khoảng năm 1961 với cái tên «  Hai Chuyến Xe Hoa. »

Tôi – CTHÐ – được gặp anh An Khê nhiều lần ở những tòa báo nhưng không biết nhiều về anh. Nhà Văn An Khê không ngồi cả nửa ngày ở những quán cà phe đấu chuyện với ký giả, không nhậu nhẹt, không chửi thề. Nghe nói trước năm 1954 anh là quân nhân trong quân đội Pháp, anh từng đánh trận giao tranh lớn ở Ðèo An Khê, trên đường Pleiku-Qui Nhơn. Anh bị thương trong trận đánh này. Khi viết truyện, anh lấy bút hiệu An Khê. Tôi có nhìn thấy vết sẹo dài trên cánh tay trái anh khi anh bận áo sơ-mi cộc tay.

Anh kẹt lại ở Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Anh và gia đình sang Pháp khoảng năm 1985. Anh viết Hồi ký «  Từ Khám Lớn đến Côn Ðảo »  ở Pháp. Anh từ trần trên đất Pháp.

Năm 2010, tôi  đọc được một đoạn Hồi ký của Nhà Văn Nguyễn Ðạt Thịnh. Trong hồi ký này Nhà Văn Nguyễn Ðạt Thịnh kể chuyện khoảng năm 1952 ông là Trung Úy một Tiểu Ðoàn Khinh Quân dự trận đánh lớn ở Ðèo An Khê. Tại đây Trung Úy Nguyễn Ðạt Thịnh gặp Trung Úy Nguyễn Bính Thinh. Trung Úy NB Thinh là sĩ quan một Tiểu Ðoàn Khinh Quân khác.

Phụ đề Việt ngữ: “..Cái đồ của tao để đâu mầy đừng đụng tới. Ðể tao ra khám, tao xài.

Những năm 1940 nhiều ông chồng Nam Kỳ xưng hô “mày tao” với vợ tỉnh queo.

Món đồ quí của anh em rán giữ gìn, đừng để thằng khác xâm phạm. Anh sẽ về không lâu.”

Ở tù, dặn vợ giữ gìn là đúng. Bọn Cai Tù Tây nghi ngờ là bậy.

Suốt đêm, cứ 15 phút, bọn Gác Khám ở bốn góc Khám lại đánh kẻng, lại hô: “Vây-ơ Ooong.. Vây-ơ Ðơ..” Người ở những nhà dân đường Lê Thánh Tôn nghe rõ những tiếng trống, tiếng hô ấy, nhưng nghe riết rồi quen, người nghe vẫn ngủ.

About these ads

One Response

  1. Bác Hòang Hải Thủy ơi, vào đây mà xem chúng nó chửi nhau nè . Thằng chủ tịch chửi thằng thủ tướng , vơ vét tiền viện trợ, tiền vay mượn của IMF tòan là tiền tỷ đô chứ không phải vài trăm triệu nửa . Thật là khủng khiếp .
    http://www.quanlambao.blogspot.com

    Thằng thủ tướng chửi lại thằng chủ tịch :

    http://4sang.blogspot.com/2012/07/tom-tat-ly-lich-cua-truong-tan-sang.html

    Thằng nào cũng chửi thằng kia là tay sai của Tàu Cộng .

    Có lẻ cả lò nhà nó đều là tay sai của Tàu Cộng rồi bác ơi .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 106 other followers

%d bloggers like this: