• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Mồm Chó, Vó Ngựa

Bị chửi tàn tệ, Công Tử Hà Ðông và Hoàng Hải Thủy phải bỏ Kỳ Hoa, trở về sống ở Sài Gòn. Ảnh ghi Ngày Một Tháng Tư năm 2012: CTHÐ và H2T ăn tiết canh, thịt cầy ở Chợ Ông Tạ.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 30 Tháng Bẩy, 2012.

Kính gửi quí vị đọc Trang Báo này:

Sáng nay tôi – CTHÐ – thấy bài viết “Hoàng Hải Thủy Aka Công Tử Hà Ðông” trên Trang KBC Hải Ngoại. Bài được tác giả viết  Ngày 7 Tháng Năm 2012, KBC Hải Ngoại đăng Ngày 9 Tháng Sáu 2012. Không thấy có tên tác giả nhưng lời trong bài cho người đọc biết người viết  bài là Nhà Văn Nhật Tiến.  Tôi sao y  bản chính mời quí vị đọc. CTHÐ

HOÀNG HẢI THỦY

Aka Công Tử Hà Ðông

Trong ròng rã nhiều năm, Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Ðông đã mạt sát tôi trong rất nhiều bài viết, mặc dù khi ông còn ở VN, tôi đã ca ngợi hoặc bênh vực những tác giả của tập “Tắm Mát Ngọn Sông Ðào” trong đó có ông, trên báo chí hoặc trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Nam Cali vào khoảng thập niên 80.

Cũng không sao, ông lên đã tiếng mạt sát tôi chỉ vì nhân danh tinh thần chống Cộng là điều có thể hiểu được.

Nhưng tôi thắc mắc là trước khi ông liên tục chửi tôi trong nhiều năm ròng rã như thế, không biết ông đã đọc được bao nhiêu bài viết của tôi để tìm hiểu lập trường chính trị của tôi ra sao trước khi hạ bút xuống?

Tôi lại cũng thực tình không hiểu khi nghe nhà văn Nguyễn Thụy Long tiết lộ rằng trước 1975, ông Hoàng Hải Thủy cũng đã chứa VC trong nhà. Thế thì những lời lẽ chống Cộng của ông còn có được giá trị bao nhiêu phần trăm?

Xin trích lời của nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long:

“Trong đợt đầu văn nghệ sĩ bị bắt bị thâu gom, hắn ta (tức Hoàng Hải Thủy) cũng bị bắt được ít lâu tính theo ngày tháng, hắn được anh ruột, nay là CS lớn, bảo lãnh cho về, tôi không nhớ đầy đủ họ tên ông này, chỉ nhớ tên ông ta là Chất. Hồi thời Việt Nam Cộng Hòa, có một thời gian ông này phải trốn trong nhà Hoàng Hải Thủy thuê tại đường Hồ Biểu Chánh Phú Nhuận, ngay bên cạnh nhà của nhà báo Duy Sinh thời đó, nay cũng ở Hoa Kỳ. Nhiều bạn bè biết chuyện ấy, nhưng tố cáo làm chi, vì nghĩ đó là tình máu mủ ruột thịt thì hắn phải làm việc “chứa VC trong nhà”. Người quốc gia khác người CS ở điểm đó, vì họ không muốn biến thành Công an nhân dân, hay tên chỉ điểm không công.”

(trích bài Mõm Chó Vó Ngựa, tác giả Nguyễn Thụy Long, Báo Việt Express, xuất bản ở Nam Cali- số 11 ngày 15-12-2005)

***

“Chữ nghĩa chống Cộng” của Hoàng Hải Thủy sau khi đã an toàn ở hải ngoại nghe cũng rất kinh. Như ông đã mạt sát tôi bằng những lời lẽ dưới đây, mặc dù tôi đoán chừng là ông chưa hề đọc hay đọc kỹ những gì tôi đã viết, mà chỉ moi móc, cắt xén chỗ này một ý, chỗ kia vài câu để lấy cớ chửi rủa :

“Trong lúc ông bố kêu gọi người Việt ở Mỹ “hoà giải” — đúng hơn là “đầu phục” — bọn Bắc Cộng thì tờ báo của bà con gái ông ta ở Quận Cam, Cali, Mỹ Quốc, lại đăng những chuyện ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, ăn lường, ăn bòn, ăn mót, ăn móc, ăn mút, ăn liếm, ăn đút, ăn khoét, ăn đủ cách đểu giả của bọn đầu xỏ Bắc Cộng. Chúng nó bẩn đến như thế mà ông muốn chúng tôi đầu phục chúng nó ư, thưa ông nhà văn kiêm nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính? Ông cha tôi ngày xưa có câu “xui trẻ ăn cứt gà“, nay ông nỡ lòng nào ông làm cái việc “xúi người già ăn cứt Cộng sản.” Chúng tôi không đến nỗi ngu như ông tưởng đâu, thưa ông. Ai ăn cứt Bắc Cộng thì ăn, chúng tôi, những người Việt ở Mỹ, chúng tôi không ăn.”

Hay một thí dụ khác ::

“Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ vừa mãn nhiệm là ông Michael Michalak. Ông này từng khoe ông học nói tiếng Việt. Ðại Sứ Liên Xô ở Việt Nam Cộng Sản đã học nói tiếng Việt từ năm 1980, tức là trước ông Ðại Sứ Hoa Kỳ xa. Nghe nói Ðại Sứ Liên Xô từng khoe ông nói được tên nữ diễn viên điện ảnh của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà:

“Chị Thâm Thúi Háng..”

Lại nghe nói Ðại Sứ Mỹ Michalak cũng khoe ông nói được bốn tiếng:

“Chị Thâm Thúi Háng..”

Và nay ông Ðại Sứ Shear cũng nói ông sẽ học nói tiếng Việt. Chắc mục đích của ông cũng là để nói được cái tên:

“Chị Thâm Thúi Háng..”

Than ôi… Một loạt những ông Ðại sứ Mỹ “Thâm Thúi Háng..” Trông mong gì ở những ông Ðại Sứ Thâm Thúi Háng này!”

Những ngôn ngữ hạ cấp như ở trên của Hoàng Hải Thủy tức Công Tử Hà Ðông không khiến cho văn giới phải ngạc nhiên, vì mọi người đã biết từ xưa, hồi đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Hoàng Hải Thủy đã viết phóng sự lấy tên là “Tây Ðực, Tây Cái” đăng báo hàng ngày. Tưởng là thâm thúy, có duyên lắm, nhưng một thời gian sau tác giả phải đổi tên lại là “Ông Tây, Bà Ðầm” vì bị công luận lên án là chữ nghĩa có phần nào thiếu tính cách giáo dục.

Tưởng đó là một bài học để đời, nhưng khi ra đến hải ngoại, ngồi ở một nơi an toàn, Hoàng Hải Thủy lại ngựa quen đường cũ, viết lách đến nỗi nhà văn Nguyễn Thụy Long phải than phiền :

“Khi hắn sang được đến đất Mỹ, để tạo ra những câu chuyện làm quà, hắn viết về đời sống của những anh em văn nghệ sĩ còn ở lại Việt Nam, thay vì để người ta còn nhớ những người nghệ sĩ vì lý gì đó còn phải ở lại trong nước, không ra đi được như hắn, hắn lên tiếng chửi bới những người đó, bôi nhọ thân phận những anh em nghệ sĩ phải ở lại không tiếc lời (Như bạn ly dị thì hắn viết là “anh bị vợ bỏ”, không đẹp trai thì hắn viết là “sẹo đầu sẹo cổ”, bạn một cảnh hai quê thì hắn viết “thuyền trưởng hai tầu,”) . Nghe nói hắn còn mang nhân vật lịch sử ra viết lách kiểu này, gọi ông Thi Sách là Thuyền trưởng hai tầu vì bịa ra rằng Hai Bà Trưng là vợ cả vợ bé của ông.”

Quên mình là đã có thời “chứa VC trong nhà”như Nhà văn Nguyễn Thụy Long tiết lộ, Hoàng Hải Thủy còn chửi Cộng bằng thứ ngôn ngữ mà văn giới nghe thấy phải đỏ mặt, như gọi Giải thưởng Nhà Nước VN trao cho nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là “Giải thưởng Nhà Thổ”:

“Ðầu Năm Lợn, Tháng Hai 2007, bọn Cộng Hà Nội trao cái gọi là “Giải Thưởng Nhà Nước” cho 4 Nhà Thơ Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Ðạt vì các tác phẩm mà bọn Cộng gọi là “có giá trị cao về văn học nghệ thuật, ca ngợi đất nước, nhân dân, góp phần xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và bảo vệ Tổ quốc“. Phải gọi cái “Giải Thưởng Nhà Nước Bắc Cộng” này là “Giải Thưởng Nhà Thổ” vì những lý do sau đây…. Nguồn: http://www.gio-o.com

Ðồng ý rằng khi nhà nước CSVN trao giải cho nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là có ý đồ xí xóa mọi tội ác đã gây ra cho biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ VN nên không thể ca tụng loại giải thưởng có tính cách xí xóa này. ( Xin đọc quan điểm của tôi về vụ này ở Hành Trình Chữ Nghĩa, cuốn I, trang 203)

Nhưng khi phê phán một vấn đề thuộc về lãnh vực văn hóa thì cũng phải dùng ngôn từ văn hóa, như thế tiếng nói mới có tác dụng. Chứ phun ra những thứ từ ngữ nhà điếm, nhà thổ thì tôi e rằng chính CSVN sẽ cười lên hô hố mà khuyến khích: “Cứ chửi nữa đi. Càng chửi càng lộ rõ bộ mặt văn chương chữ nghĩa của bọn hải ngoại là những thứ vô học, vô văn hóa.”

Mặt khác, sự nghiệp văn chương của Hoàng Hải Thủy để lại được bao nhiêu so với những tác phẩm mà Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán đã sáng tác trong thời Kháng chiến chống Pháp hay Phong trào Nhân văn Giai Phẩm mà nhiều thế hệ độc giả cho đến nay vẫn còn truyền tụng? Không lẽ chỉ trưng ra được những truyện sáng tác như “Yêu nhau bằng mồm” hay viết lại tác phẩm của người khác gọi là phóng tác như “Kiều Giang” từ cuốn Jane Eyre của Charlotte Bronte ?

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là ta phải quan tâm đến nhu cầu đọc sách báo văn chương tiếng Việt của thế hệ trẻ đi sau.

Không lẽ chúng ta cứ để cho giới trẻ, con cháu của chúng ta, những người trẻ có lòng muốn tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu về văn chương Việt Nam, về văn hóa dân tộc, mầy mò vào Internet để nghiền ngẫm những bài của Nguyễn Hữu Nghĩa (Mõ Làng Văn), Nguyễn Hữu Nhật (Sắc Không), Nguyễn Thiếu Nhẫn hay Lão Móc, Hồ Công Tâm hay Hồ Công Tử, Hoàng Hải Thủy (Công tử Hà Ðông)…v..v…. mà không căn dặn hay lên tiếng với các con cháu một lời cảnh báo rằng “Văn chương chữ nghĩa của các bậc cha, ông không phải là những thứ rác rưởi, cặn bã như thế.”

Phải nói cho ngay, nhiều tuổi trẻ ở thế hệ thứ hai, thứ ba chưa đủ trình độ Việt ngữ để đánh giá một bài văn, vài câu thơ nói chi đến chuyện nhận diện được lòng tự trọng và sự thanh khiết, liêm sỉ của người viết.

Bởi nếu không cảnh báo thì sẽ vẫn còn tiếp tục xẩy ra chuyện “tung hứng” làm vẩn đục môi trường chữ nghĩa.

Văn chương chữ nghĩa kiểu này phải liệt vào hạng hạ cấp tột độ, người Quốc Gia chân chính không bao giờ thèm xài để viết những bài chống Cộng khi chính nghĩa Tự Do, Dân Chủ đã sáng ngời và tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc VN thế nào qua các vụ đấu tố trong Cải cách Ruộng đất hay tham vọng đốt cả Trường Sơn để chiếu cố miền Nam …v..v… thì lịch sử cũng đã làm rõ.

Vậy nếu có vì tò mò mà đọc rồi thì các cháu cũng đừng nên bắt chước thứ viết lách như thế, bởi nó không những làm hủy hoại sự trong sáng vốn có của tiếng Việt mà lại còn hạ thấp tư cách của con người vì đã bộc lộ cho người đọc thấy cái chất tiểu nhân, lươn lẹo, không xứng đáng được gọi là người cầm bút có tư cách.

Phải chăng đó cũng là lý do mà nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long đã phải diễn tả thứ văn chương này là loại văn “Mõm Chó, Vó Ngựa” ý nói Mõm chó sủa càn, Vó ngựa đá bậy.

Thêm một ví dụ nữa về thứ văn chương nham nhở, xúc phạm đến tiền nhân mà Hoàng Hải Thủy gọi ông Thi Sách là “Thuyền trưởng hai tầu” ý nói là làm chồng của cả Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng của toàn thể dân tộc.

Xin trích từ bài “Ðừng Vì Hứng Bút Mà Coi Thường Ðộc Giả Và Hỗn Láo Với Tiền Nhân” – tác giả Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do (tôi tô đậm những chỗ cần nhấn mạnh):

“Hoàng Hải Thủy viết :

“Dzậy thì thưa quý dzị chúng ta nên đi đến kết luận ngắn gọn là trong những truyền thống của ông cha ta có truyền thống cho phép Thuyền Trưởng Lái Nhiều Tàu là tốt đẹp, đáng để ta gìn giữ. Và nếu đám con cháu hèn ngu không giữ được truyền thống cao đẹp ấy đám con cháu ấy đúng là hèn ngu, mà hèn ngu thì ráng chịu.”

…Chuyện làm tôi théc méc là tôi không biết vì sao những vị Nữ Thuyền Phó Mít con cháu Hai Bà Trưng nói chung, và các cụ, các bà, các cô Nữ Sinh Trưng Vương nói riêng các nàng này cũng là những Nữ Thuyền Phó, có nàng còn là Nữ Hải Tặc lận – lại rất quyết liệt trong việc cấm Thuyền Trưởng Chạy Hai Tàu …

Tôi théc méc là bởi vì chính ông cha, chú bác các nàng — mới vài chục niên trước đây thôi — là những Thuyền Trưởng Hai Tàu có Ba-Tăng, có giấy phép Triều Ðình cấp.”

“Lẽ ra là con cháu Hai Bà Trưng các nàng phải tôn trọng cuộc đời tình ái của Hai Bà mới phải. Hai ngàn năm trước thuyền trưởng Thi Sách là Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Ðốc Ðiều Hành Công Ty Hàng Hải Trưng Shipping Company, một mình thuyền trưởng Thi Sách chạy hai tàu viễn dương Trưng First và Trưng Second ngon lành êm ru bà rù….”

……“Nếu thuyền trưởng Thi Sách không chạy hai tàu họ Trưng cùng một lúc và được cả hai Nữ Thuyền Phó hài lòng thì khi Thái Thú Tô Ðịnh tham tàn cho Thuyền Trưởng đi tàu suốt, hai bà đã không căm phẫn.

Nếu Hai Bà đã không căm phẫn thì Hai Bà đã không nổi dậy đánh đuổi bọn quan quân nhà Hán.

Nếu Hai Bà không đánh đuổi bọn quân nhà Hán, không dựng cờ độc lập ‘Lĩnh Nam riêng một triều đình…’ thì biết đâu bây giờ chúng ta đã chẳng xí xố xì xồ mí nhau …”……

“Chúng tôi thiết nghĩ nếu ông Hoàng Hải Thủy trở về với sở trường là phóng tác truyện hay ngoại quốc, như Kiều Giang, Tìm Em Nơi Thiên Ðường, hoặc chỉ dùng lối văn nham nhở để viết các phóng sự đại loại như Nổ Như Tạc Ðạn, Yêu Nhau Bằng Mồm thì ông sẽ vẫn giữ được cảm tình và sự mến mộ của độc giả. Nếu ông cứ tiếp tục dùng lối văn này để viết về văn học, hoặc bàn nhảm về các danh nhân, anh hùng của lịch sử thì chúng tôi e rằng ông sẽ chỉ gây công phẫn và nhận sự khinh bỉ nơi người đọc lớn tuổi, gây độc hại và dẫn dắt lầm lạc các độc giả trẻ, những người muốn tìm hiểu về văn học và lịch sử nước nhà. …

Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do

Ðáng buồn thay, những thứ văn chương nham nhở kiểu này, và còn cả những thứ thâm độc và mạt hạng hơn nữa vẫn còn thấy tiếp tục xuất hiện trong lãnh vực chữ nghĩa, nhiều nhất là trong một số diễn đàn trên Internet.

Chắc chắn những thứ rác rưởi này sẽ ảnh hưởng xấu xa vào sự suy nghĩ, cung cách ứng xử cũng như ngôn từ nói và viết của thế hệ trẻ đi sau, để rồi ra trong một tương lai thấy rõ, làng Văn, làng Báo sẽ xuất hiện một lớp người viết lách vô văn hóa, chỉ biết đối diện nhau để nhe răng múa vuốt.

Cho nên đã đến lúc không thể còn giữ im lặng được mãi. Phải nhổ hết cỏ dại, nấm độc trên sách, trên báo và nhất là trên Internet để khuôn mặt văn hóa của người Việt hải ngoại không bị làm cho lem luốc đi mãi.

Hết bài.

CTHÐ: Quí vị vừa đọc bài viết – không ký tên – của ông Nhà Văn Nhật Tiến. Ông Nhà Văn chửi tôi – Công Tử Hà Ðông Hoàng Hải Thủy – vì tôi đã chỉ trích ông khi ông nói với anh Cán Cộng Trần Văn Thủy rằng “Những người Việt đến năm 2000 còn chống Cộng là bọn người đầu đông đá.”

Mở đầu, ông Nhật Tiến viết:

“Trong ròng rã nhiều năm, Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Ðông đã mạt sát tôi trong rất nhiều bài viết….. .. “

Người đọc câu trên có thể nghĩ “tự dưng anh HHT lôi ông Nhà Văn Nhât Tiến ra mạt sát.” Tôi – CTHÐ – không viết về ông Nhật Tiến “Trong ròng rã nhiều năm..” Tôi chỉ viết về ông  Nhật Tiến một lần trong năm 2005.

Tôi – CTHÐ – không kêu tôi Oan, tôi không kể những lời tôi bị chửi oan, những tội tôi bị kết tội oan, tôi không chửi lại ông Nhật Tiến. Tôi không ưa cái việc “Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.” Từ lâu tôi vẫn kỵ cái việc “Công kích người ta thì được, bị người ta công kích thì cay cú chửi lại, bới chuyện đời tư của người ta ra bêu dziếu.” Tôi không làm cái việc chửi bới đó. Tôi vẫn cố theo lời khuyên: “Khi bị người đả kích, ta hãy xem người đả kích ta những tội lỗi gì. Nếu người đả kích, chỉ trích ta đúng, ta sửa lỗi. Không đúng, ta bỏ qua.” Nhưng vì những bạn đọc có cảm tình với tôi, tôi có bổn phận phải trình bầy với các bạn tôi đã viết gì về Nhà Văn Nhật Tiến. Và tại sao tôi lại viết về ông Nhà Văn Nhật Tiến.

Tôi đăng ở đây một đoạn trong loạt bài “Nếu đi hết biển” tôi viết năm 2005.

Trích Introduction Nếu đi hết biển, người viết Kevin Bowen. Trang 15:

Those interviewed include the esteemed and profound thinkers and writers, a rich diversity of voices. Writers Nhat Tien, Nguyen Mong Giac, Truong Vu, Nguyen Thi Hoang Bac, and Hoang Khoi Phong speak frankly and openly of the once taboo subject of political life in the Diaspora as well as in Vietnam and in its impact on writing.

Lời dịch của Nếu đi hết biển:

Những tác giả phỏng vấn là những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính, với những tiếng nói đa dạng và phong phú. Nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hoàng Khởi Phong, v.v. đã trình bày một cách thẳng thắn và công khai về một số đề tài cấm kỵ (ta-bu) trong sinh hoạt chính trị ở hải ngoại cũng như Việt Nam, và ảnh hưởng của chúng trong lãnh vực sáng tác.

CTHÐ: “Những tác giả được phỏng vấn“, không phải “những tác giả phỏng vấn“. Trong “Nếu đi hết biển” – Nđhb – những “nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính” của Trung Tâm William Joiner chỉ trả lời những câu hỏi của anh VC Trần Văn Thủy. Cũng trong Introduction, Kevin Bowen viết:

– We owe a immense debt to those who have courageously stepped forward to participate in the dialogues…

– Chúng ta mang một món nợ lớn với những cá nhân đã dũng cảm bước tới để tham dự vào những đối thoại này..

Không có “đối thoại” trong Nđhb. Những người “được” phỏng vấn chỉ trả lời những câu hỏi, cũng có người nói vài câu chỉ trích bọn Bắc Cộng nhưng lời lẽ nhẹ hều, nói đến những chuyện hời hợt không đáng gì, như chuyện than phiền bọn văn nghệ sĩ Bắc Cộng bị rọ mõm được đến chơi Hoa Kỳ khi trở về Việt Nam viết bố lếu bố láo về cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, hay chuyện bọn ký giả Bắc Cộng, sau hai mươi mấy năm, vẫn thẳng tay phóng bút nhục mạ nhân dân quốc gia Việt Nam Cộng Hòa trong những bài viết của chúng. Quyển Nđhb không được in và phát hành trong nước Việt Nam, vài lời phản đối, tố cáo, than thở vớ vẩn kiểu mầu mỡ riêu cua không có tác dụng gì cả. Phải chi một trong năm ông, ông Hoàng Khởi Phong, hay ông Nhật Tiến, nói với người bạn Việt Cộng của các ông một câu như vầy thì hay biết bao:

– Anh théc méc về những người Việt sống ở Hoa Kỳ làm gì. Những người Việt bị mất quê hương ấy là những người đáng thương. Những ông già, bà lão Việt Nam sống rất cô đơn ở xứ Mỹ, những người trẻ thì đi cày tối ngày để kiếm sống. Họ sống ở Mỹ mà trái tim họ vẫn ở quê nhà. Mình phải thương đồng bào của mình. Mình phải tôn trọng tâm trạng của họ. Cũng đừng trách đồng bào mình hận thù cộng sản, mình phải đặt câu hỏi “tại sao đồng bào mình hận thù cộng sản?” Họ hận thù cộng sản có đúng không?

Họ hận thù cộng sản vì cộng sản làm họ đau khổ. Tại sao ta lại chê trách họ vì họ hận thù? Cuộc sống của một triệu người Việt sống ở Hoa Kỳ có gì đáng kể so với cuộc sống của 80 triệu người Việt sống trong nước. Các anh nên nghĩ đến chuyện làm sao cho 80 triệu người Việt Nam trong nước được sống có hạnh phúc hơn là hục hặc với một triệu người Việt Nam sống ở Mỹ.

Mấy ông có thể nói như thế này:

– Các anh muốn hoà hợp, hoà giải với người Việt ở Mỹ ư? Các anh có làm được việc ấy hay không là ở các anh, không phải ở người Việt sống ở Mỹ. Muốn hoà hợp, hoà giải với người Việt ở Mỹ, các anh phải làm một số việc, trong đó việc các anh phải làm trước nhất là huỷ bỏ quyền độc đảng của đảng Cộng sản, sửa hiến pháp, công nhận dân chủ, đa đảng, tuyển cử tự do, tự do ngôn luận. Nếu các anh không làm những việc ấy thì đừng mong đợi gì nơi người Việt ở Mỹ. Các anh chẳng có tư cách gì để đòi hỏi bất cứ cái gì ở bất cứ ai. Chủ nghĩa cộng sản của các anh đã tiêu rồi. Ở nước Nga tượng Thánh tổ Lê-nin của các anh đã bị người Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo ra cho nằm ở bãi rác. Bọn đảng viên cộng sản các nước Ðông Âu, Ðông Ðức đàn anh của các anh đã cúi mặt, cụp đuôi đi ra khỏi chính quyền. Ðảng cộng sản của các anh và người cộng sản các anh bị nhân dân cả thế giới khinh ghét, ghê tởm, xua đuổi. Các anh không còn ở cái thời bọn cộng sản hung hăng con bọ xít đòi nhuộm đỏ cả thế giới. Các anh không còn ở cái thời Lê Duẩn huyênh hoang “Chủ nghĩa Mác Lê-nin vô địch bách chiến bách thắng muôn năm.” Rồi các anh cũng phải cụp đuôi ra khỏi chính quyền, dù các anh có không muốn, có cố nắm. Các anh lấy tư cách gì mà đòi nói chuyện với những người Việt ở Mỹ? Nếu các anh còn chút liêm sỉ, dù cái gọi là liêm sỉ của các anh chỉ nhỏ bằng cái tĩ con gà mái, các anh cũng phải thấy nhục vì các anh là đảng viên cộng sản chứ?

Ngưng trích.

Tôi – ( CTHÐ ) chỉ viết như thế cho đỡ phẫn hận thôi, những “nhà tư tưởng sâu sắc” của Trung Tâm William Joiner không thể nói với cán bộ Bắc Cộng những câu như thế. Nửa đêm xứ người, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, tôi ngồi ở bàn viết, trước mặt tôi không là trang giấy trắng đợi chờ với cây bút Bic, mà là màn hình monitor sáng lung linh, lòng tôi buồn rười rượi. Dù sao những người ấy cũng là anh em tôi, họ từng ở phe tôi, bao nhiêu người anh em của tôi trong hai mươi năm đã theo nhau chết cho họ sống. Tôi không muốn thấy họ phản bội những người anh em tôi đã chết, tôi không muốn thấy họ ôm đít bọn Bắc Cộng. Tôi không muốn thấy họ ngoan ngoãn để cho bọn Bắc Cộng xoa đầu, sờ mông, bẹo má, véo tai, cho ăn cháo lú, mớm lời cho họ chửi những người Việt sống ở Mỹ.

Nhà văn Nhật Tiến nói trong “Nếu đi hết biển”:

– Tôi cảm thông tâm trạng của những con người còn duy trì những chủ trương cứng dắn đó, nhưng con đường cứu nước của họ chỉ là một thứ đường mòn vô dụng không đem lại một lợi ích nào cho dân tộc nếu không muốn nói là lại còn làm cản trở bước tiến của dân tộc. Tôi thường nghe rất nhiều lần người ta nhân danh quyền lợi của trên 80 triệu đồng bào ở trong nước để phát động những cuộc đấu tranh theo kiểu như trên, nhưng hầu như họ chẳng hiểu gì về tâm tư hay nguyện vọng đồng bào ở quê nhà. Ổn định và phát triển, theo tôi nghĩ, đó là khuynh hướng chung của thành phần đa số của dân tộc trong hoàn cảnh hiện nay.

CTHÐ: Một triệu người Việt ở Mỹ “chẳng hiểu gì về tâm tư hay nguyện vọng đồng bào ở quê nhà”– Nhà văn Nhớn viết thiếu một chữ, “nguyện vọng đồng bào” là ký gì, phải là “nguyện vọng của đồng bào”– riêng Nhà văn Nhớn hiểu cái tâm tư và nguyện vọng ấy. Vì ông cho rằng ông hiểu, ông biết đồng bào ở quê nhà muốn gì nên ông “hoà hợp, hoà giải” với bọn cộng sản, và ông kêu gọi người khác theo ông “hoà hợp, hoà giải” với bọn cộng sản. Không có lẽ người được Trung tâm William Joiner tôn vinh là “nhà tư tưởng sâu sắc” lại không biết rằng không quốc gia nào bị bọn cộng sản nắm quyền có thể ổn định và phát triển. Nếu cứ để cho bọn cộng sản nắm quyền mà có thể ổn định và phát triển được xã hội, nôm na là làm cho nhân dân được sống ấm no, ấm no thôi, đừng nói gì đến tự do, hạnh phúc, những người Nga, Hung, Tiệp, Ba lan, Lỗ, Ðức đã làm. Nhưng không thể được.

( .. .. .. )

Trong lúc ông bố kêu gọi người Việt ở Mỹ “hoà giải” — đúng hơn là “đầu phục” — bọn Bắc Cộng thì tờ báo của bà con gái ông ta ở Quận Cam, Cali, Mỹ Quốc, lại đăng những chuyện ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, ăn lường, ăn bòn, ăn mót, ăn móc, ăn mút, ăn liếm, ăn đút, ăn khoét, ăn đủ cách đểu giả của bọn đầu xỏ Bắc Cộng. Chúng nó bẩn đến như thế mà ông muốn chúng tôi đầu phục chúng nó ư, thưa ông Nhà Văn kiêm Nhà Tư Tưởng sâu sắc đáng kính? Ông cha tôi ngày xưa có câu “xui trẻ ăn cứt gà“, nay ông nỡ lòng nào ông làm cái việc “xúi người già ăn cứt Cộng sản.” Chúng tôi không đến nỗi ngu như ông tưởng đâu, thưa ông. Ai ăn cứt Bắc Cộng thì ăn, chúng tôi, những người Việt ở Mỹ, chúng tôi không ăn.

Xin nhắc: Tôi – CTHÐ – viết đoạn trên đây năm 2005, khi quyển “Nếu đi hết biển” của Trần Văn Thủy được phát hành ở Hoa Kỳ.

Ðến đây tôi chấm dzứt chuyện “Nếu đi hết biển.”

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích. Ngày 30 July 2012.

12 Responses

  1. đối với bọn Cộng và tay sai của chúng, không thể dùng lý luận để nói chuyện, vì chúng là bọn không phân phải trái, chuyên lừa dối, thay đen đổi trắng, cho dù hiệp định Paris có quốc tế làm chứng, hay thông báo công khai khắp cả nước về việc “học tập 10 ngày…” … đến vụ tàu Việt nam thương tín … tất cả toàn là bịp bợm giả dối lừa đảo … chỉ những kẻ mau quên đến mức ngớ ngẩn mới tiếp tục tin lời bọn chúng, thật đáng thương và cũng thật đáng trách cho những kẻ đến giờ này vẫn chưa … sáng mắt …làm cho lụy đến bác Hoàng già …

  2. Kính Hoàng Lão Công Tử,

    Ðến hôm nay không biết Nhật Tiến đã mở mắt ra chưa.Nếu chưa thì tội nghiệp cho Nhật Tiến quá!Chính như Nguyễn Cao Kỳ mà cũng còn tưởng bở nên đã quay lại chửi những người Việt miền Nam Tự Do đã từng có một thời sẵn sàng chết ngoài mặt trận cho ông ta được làm vua để…ba hoa và làm dáng.
    N.C.Kỳ không bao giờ biết được là khi ông ta vừa chết thì một tờ báo trong nước liền viết bài và gọi ông ta là: Ðứa Con Hư.
    Ðọc bài báo đó tôi cảm thấy đáng tội cho N.C.Kỳ lắm và,riêng tôi,tôi cảm thấy nhục vô cùng.Nhục không thể nào chịu nổi!
    Nếu Nhật Tiến quả là nhà văn mà cái đầu chưa bị đông đá thì khi đọc những gì mà Hoàng Lão Công Tử viết,Nhật Tiến phải im lặng mà đấm ngực ba lần nói: Lỗi tại tôi!Lỗi tai tôi!Lỗi tại tôi mọi đàng! Thì mới đúng là Nhật Tiến của một thời từng được các thanh niên nam nữ miền Nam Tự Do yêu mến.Trong đó có tôi.

    Kính chúc Hoàng Lão Công Tử và Phu Nhân được nhiều Vui-Khỏe & Hạnh Phúc.

  3. đứa nào mà dính vô cộng sản thì sẽ thúi như cộng sản. mình hơi đâu mà để ý tới tụi đó, bác HHT ơi. dạo này nhiều đứa phò thịnh ló đuôi chồn cáo quá bác ạ. chúc bác vui mạnh tay viết phang chết bỏ tụi thèm cộng theo voi hít bã mía!

    hoàng đen

  4. Ông NT lại nằm ngửa phun nước bọt Cho’ sủa mặc chó, hy vọng CTHD đóng góp nhiều bài viết hay hơn về mấy con kỳ nhông đổi màu

  5. Tôi thấy lão Nhật Tiến thối không thể tả ! Lão moi móc những điều không ra cái đếch gì. Lão cay cú Công Tử. Nhưng ông HHT đã chỉ làm cái việc mọi người tị nạn muốn làm và phải làm : vạch mặt bọn điếm nhục, đã phải bỏ của chạy lấy người.

    Nhật Tiến, khi ở trong nước bị cộng sản coi như cục phân,không khiến làm việc gì, lúc nào cũng nơm nớp lo sơ, co rúm lại, xin được khom lưng quỳ gối, cộng cũng không cho; chỉ còn biết cố gắng hết mình để nịnh nọt nó, vờ vịt làm công tác phường khóm, dạy con nít “bác hồ ” gấp chim cò… nhưng khi được tháo cũi sổ lồng, lại quay lại cắn quái những người tị nạn, đồng cảnh ngộ với mình, chửi họ là có dầu đông đá, là ngu si không biết nguyện vọng của người dân như cộng sản !.

    Một người bình thường, có lương tri và đầu óc lành mạnh, phải có một suy nghĩ hợp lý : Nếu bọn cộng và cái chủ nghĩa chết tiệt của chúng là cái gì đáng kinh tởm, thì những ai góp phần dọn dẹp cái đống phân cộng sản, phải được chúng ta biết ơn, chúng ta bảo vệ. Nếu lão Nhật Tiến cần ổn định và phát triển, thì lão có tự do về lại VN để phát triển nghề origami gấp chim cò cho con nít bác hồ tặc; còn như lão dám đại ngôn, liều lĩnh nói rằng đó là nguyện vọng của 80 triệu dân trong nước , thì lão ăn nói hàm hồ và ngu hết biết !

    Phải thừa nhận rằng : nhà văn hay bất cứ nhà gì, sự hiểu biết cũng chỉ có giới hạn. Ông Nhật Tiến biết viết văn, nhưng ông lấy tư cách chi để dậy dỗ chúng tôi thái độ cư xử với đám nằm vùng hải ngoại, với bọn cộng trong nước. Ông chạy trốn cộng sản, rồi lại khuyên đừng chống cộng. ” Nhà tư tưởng nhớn ” nói thế, ai nghe được !

    Ông đã không trả lời được những tố cáo của ông HHT, ông moi móc những đều ti tiện, không ra chi cả. Sao ông không trực tiếp nói về cái chuyện ông bị người ta tố cáo : chuyện sớm đầu tối đánh, chuyện ăn cháo tị nạn, đá bát quốc gia, của ông.

    Tôi cũng mong ông Công tử Hà đông nói qua về vụ chưa chấp việt cộng mà ông Nhật Tiến đã nêu ra.

  6. Tội ác Việt Nam cộng hòa
    Sẽ rất thiếu sót nếu giới thiệu Huế mà không đề cập đến những di tích phản diện của lãnh chúa Ngô Đình Cẩn dưới thời chín năm (1954-1963) cai trị của gia đình họ Ngô ở miền Nam.
    Về di tích tội ác Chín hầm nhiều sách báo đã viết tương đối đầy đủ. Thời Khu biệt giam Chín hầm của gia đình họ Ngô “có uy” nhất diễn ra trong giai đoạn thế hệ của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường Trung học và Đại học Huế. Hai từ Chín hầm là nỗi đe dọa hãi hùng nhất đối với chúng tôi và cũng may mắn, chính chúng tôi là những người đã góp phần phá cửa vĩnh viễn khu biệt giam hãi hùng ấy cách đây đúng 43 năm. Trong bài nầy tôi xin phép chỉ kể lại những điều tôi biết về khu biệt giam Chín hầm.
    I. “CHÍN HẦM” NỖI SỢ HÃI CÓ THẬT
    Năm 1956 tôi được vào học lớp Đệ ngũ trường Quốc Học. Đầu niên khóa trường còn mang tên Ngô Đình Diệm. Đến ngày 26 tháng 12, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Trường (1896-1956), học sinh cũ và thầy giáo đứng đầu là thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đình Hàm vận động tích cực, ông Diệm cho nhà trường lấy lại tên cũ Quốc Học. Trong “huấn từ” đọc nhân lễ kỷ niệm, ông Diệm có nói đại ý: Nhân tài miền Nam đã theo ông Hồ Chí Minh ra Bắc cả, vận mạng Việt Nam Cộng Hòa ông kỳ vọng vào các thế hệ học sinh Quốc Học. Học sinh Quốc Học được coi như con cưng của chế độ.
    Hằng năm các học sinh trưởng lớp Quốc Học được gọi đến xếp hàng danh dự tại lăng Ngô Đình Khả mỗi khi “Tổng thống về thăm mộ cụ thân sinh” và tại dinh thất của gia đình họ Ngô ở dốc Phủ Cam khi ở đấy có lễ lược kỵ giỗ. Tôi là một trong số hàng trăm học sinh trưởng lớp lúc ấy. Vốn là dân nông thôn lên Huế vừa đi làm gia sư kiếm cơm ăn vừa đi học, lần đầu tiên được bước chân đến những nơi cường quyền như thế tôi cũng cảm thấy “vinh dự”. Mỗi lần đi dự lễ như thế được ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn đại diện cho gia đình họ Ngô đãi ăn một bữa. Những món nem, chả, tré đặc biệt của Huế lần đầu tôi được nếm ở đây.
    Nhưng chầu chực hầu hạ ở chốn cường quyền hết sức nhọc nhằn, dần dần tôi cảm thấy không còn vinh dự nữa mà bắt đầu sợ. Sợ nhất là mỗi khi thấy ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn trong bộ khăn đen áo dài, miệng nhai nhóp nhép miếng trầu đỏ tươi thụng thịnh đến xoa đầu đám học sinh chúng tôi. Thường thì hai tay ông chắp sau lưng, quát tháo người nầy người nọ. Ngay cả mấy ông bộ trưởng, tướng lãnh gia nhân nhà họ Ngô đang đứng khép nép chờ ông sai bảo cũng không giấu được sự sợ hãi trên mặt.
    Những người tiếp đón, dọn cỗ bàn không vừa ý ông, ông đòi giết. Nghe nói ông Cẩn không biết nói đùa, khi ông nói bắt, nói giết là bọn gia nhân phải thực hiện bắt, giết ngay. Cái sợ dưới bóng ông Cẩn thấm vào người tôi rất nhanh. Tôi cứ nơm nớp lo: Nhỡ ăn nói sơ suất điều gì thì mang vạ vào thân. Do đó nhiều khi có lệnh triệu tập đi làm hàng rào danh dự tôi phải khai đau xin phép vắng mặt.
    Mấy năm lên học chuyên khoa Tú tài, tôi không còn làm trưởng lớp nên không phải tới chầu hầu ở gia đình họ Ngô nữa. Tuy nhiên, càng hội nhập sâu vào đời sống ở Huế lúc đó, nỗi sợ hãi trong tôi càng tăng lên. Không hiểu sao, tất cả những gia đình tôi được nhận vào làm gia sư đều là nạn nhân của gia đình họ Ngô. Lúc tôi đang dạy các em Ái Linh, Mộng Vinh, Lý Gia Nhẫn (hiện nay ở Úc) ở nhà buôn Lý Lâm Thịnh (đường Trần Hưng Đạo) là lúc gia đình nầy đang rất đau buồn vì phải nhượng lại sở đất vườn ở gần Chín hầm để xây sinh phần cho Ngô Đình Cẩn. Cho đến lúc đó tôi chưa có dịp đặt chân đến khu vực Chín hầm nhưng nghe nói đến hai chữ ấy tôi cũng như nhiều người dân Huế đều kinh khiếp.
    Khi tôi đang dạy các em Hương, Hải ở nhà cô Vy (đường Mai Thúc Loan) thì xảy ra cuộc đảo chính Diệm do Đại tá Vương Văn Đông và Đại tá nhảy dù Nguyễn Chánh Thi cầm đầu (11.11.1960), ông Lê Thúc Huyến – chồng cô Vy, làm trưởng ty Thanh Niên, bị bắt đưa lên giam ở Chín hầm vì cái tội tưởng Diệm đã bị đảo chánh, nên hạ ảnh Ngô Tổng Thống xuống, không ngờ đảo chánh bất thành. Ông Huyến đi tù, tôi mất chỗ dạy. Cũng trong dịp đó, ông Bửu Bang – Chủ hiệu Rồng Vàng, nơi tôi đã làm gia sư trước đó cũng bị ông Cẩn bắt với tội danh là “Gián điệp miền Trung” (1).
    Đến cuối năm 1960, tôi làm trưởng ban Văn nghệ học sinh Quốc Học, trong chương trình kỷ niệm 64 năm ngày thành lập trường có vở kịch Người Điên Giữa Kinh Thành của Vũ Hân. Người đóng vai chính (người điên) là học sinh Dư Tế Xuân. Trong buổi diễn đầu tiên dành cho các quan khách và gia nhân nhà họ Ngô, Dư Tế Xuân đã cương thêm mấy câu được hiểu như ám chỉ phê phán chế độ độc tài đã làm cho lãnh đạo nhà trường vô cùng bối rối. Bọn mật vụ của Ngô Đình Cẩn đe dọa, nếu không hủy bỏ ngay đêm diễn thứ hai thì sẽ bắt tôi. Ông giám học Văn Đình Hy lệnh cho tôi phải thực hiện ngay, nếu không thì không những tôi mà cả lãnh đạo trường Quốc Học cũng vào Chín Hầm như chơi. Chưa bao giờ tôi sợ hãi, đau đớn, nhục nhã với bạn bè đến thế! Đó là “sự kiện chính trị” đầu đời của tôi.
    Ở Huế ai mà không biết Ngô Đình Cẩn thường vi hành về Thuận An ban đêm. Chiếc xe Cẩn đi không bật đèn pha. Những xe chạy ngược chiều vô phúc không biết cứ để đèn pha mà chạy là bị gia nhân của Cẩn tóm ngay. Mượn cái uy của Cẩn, dưới tay Cẩn hình thành một tầng lớp người mất dạy. Nhà thầu Nguyễn Đắc Phương – người cùng họ với tôi, đã phải chết để trả cho cái giá dám qua mặt bà Cả Lễ – chị Ngô Đình Cẩn, đấu thầu làm trụ sở Tỉnh đường Thừa Thiên Huế và điện Thái Hoà trong Đại Nội.
    Bọn con em của tay chân nhà họ Ngô vào trường Quốc Học học thì ít mà quậy phá thì nhiều, không thầy cô giáo nào dám đụng đến. Thậm chí mấy tên cắt cỏ, hái lá sắn dây cho dê, cho nai của “ông Cố vấn” ăn cũng làm tàng, đến vuờn nhà ai muớn hái, muốn bứt thứ gì thì tùy ý. Nếu gia chủ cự nự sẽ bị chúng trừng phạt ngay. Bọn gia nhân của Cẩn nghe nhà ai có đồ quý như xa-lông cổ, đá đẹp, cây bon-xai cổ thụ, giống hoa lạ là chúng về báo cho Cẩn biết và Cẩn sẽ cho đến thương lượng lấy đem về làm của riêng ở Sinh phần của ông ngay.
    II. TỘI ÁC VÀ TRỪNG PHẠT
    Không rõ có phải vì nỗi sợ hãi, căm thù chồng chất lâu ngày mà đến đầu năm 1963, đang học Đại học Sư phạm, anh Vĩnh Kha mời tôi gia nhập đoàn Sinh viên Phật tử, tôi đồng ý ngay. Và chẳng bao lâu sau đó cuộc đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật tử nổ ra, tôi đã dấn thân một cách tích cực. Cuộc đời chính trị của tôi bắt đầu từ đó.
    Đến rạng sáng ngày 21.8.1963, chính quyền Diệm Nhu thực hiện “kế hoạch nước lũ” bao vây tất cả chùa chiền và bắt hết những sư sãi và Phật tự tham gia đấu tranh trên toàn cõi miền Nam. Tôi bị bắt ở chùa Diệu Đế cùng với Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Các bạn tôi ở chùa Diệu Đế và chùa Từ Đàm cũng bị bắt hàng ngàn người. Ngoài những người lãnh đạo chủ chốt đưa đi biệt giam còn chúng tôi bị đưa vào Hội trường Ty Công An và Sân vận động Huế.
    Đây là một vụ đàn áp đẫm máu, vi phạm nhân quyền lớn chưa từng có ở Việt Nam. Dư luận Mỹ và phương Tây phê phán nặng nề chế độ Diệm. Cuộc đàn áp đã làm chấn động thế giới. Liên hiệp quốc phải ra tay cử phái đoàn vào điều tra. Nhờ thế tay chân của Diệm nới lỏng sự khắc nghiệt ở các trạm giam, trong đó có khu biệt giam Chín hầm.
    Đến ngày 1.11.1963, chế độ Diệm bị lật đổ bởi chính những tướng lãnh và quân đội công bộc của Diệm. Chúng tôi được ra khỏi tù. Trong suốt cả tuần lễ sau ngày cáo chung của chế độ Diệm, hàng chục vạn đồng bào Huế tuôn ra đường tỏ nỗi vui mừng chấm dứt chế độ độc tài gia đình trị nhà họ Ngô. Đồng bào cũng đã ùa lên đập phá khu Sinh phần của Ngô Đình Cẩn. Những người bị Ngô Đình Cẩn tước đoạt tài sản tham gia đập phá hăng hái nhất.
    Một đoàn sinh viên gồm các bạn Nguyễn Thiết, Trần Duy Thọ, Thái Thị Ngọc Dư và tôi được cử lên yêu cầu quân nhân đứng về phe đảo chánh hãy mở cửa khu biệt giam Chín hầm. Những người bị bắt vì tham gia tranh đấu được thả hết. Những tù chính trị khác thì chuyển về các nhà lao trong thành phố. Chúng tôi cũng hô hào quần chúng hãy dừng tay đập phá sinh phần của Ngô Đình Cẩn, vì đây là một chứng tích tội ác mà Cẩn đã tạo bởi những của cải vật chất quí giá của người dân Huế. Do uy tín của sinh viên đồng bào dừng tay đập phá, nhưng sau khi chúng tôi lên xe về thành phố thì việc trả thù lại tiếp tục cả năm sau chưa dứt.
    Ngày xử tử Ngô Đình Cẩn ở Sài Gòn (9.5.1964), con ông Đức Sinh – nạn nhân của Ngô Đình Cẩn, là em Thanh đã đi tàu bay vào xem tận mắt cái chết của Cẩn. Thạnh đã lấy khăn mùi soa thấm máu Cẩn đem về Huế đặt lên bàn thờ cha. Năm 1968, Thạnh thoát ly và trở thành phóng viên Đài phát thanh Giải phóng.
    Sau sự kiện chế độ Diệm bị lật đổ, sinh viên Huế chúng tôi lại tiếp tục đấu tranh chống các chính phủ tay sai Mỹ sau Diệm. Đến năm 1966, tôi thoát ly và không còn nhớ chuyện Chín hầm, và khu Sinh phần của Ngô Đình Cẩn ấy nữa.
    III. TRỞ LẠI CHÍN HẦM
    Khu biệt giam Chín hầm cũ ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, cách đàn Nam Giao khoảng 5km về phía nam. Cách đó chừng 0,8km là khu sinh phần của Ngô Đình Cẩn xây trên sườn một ngọn đồi thoai thoải quay mặt về hướng đông bắc. Một hòn non bộ lớn được dựng lên trong một hồ bán nguyệt ngăn cách vùng đồi có nhiều chùa chiền tháp cổ với sinh phần của ông Cẩn. Trước kia khu vực sinh phần nầy rộng đến hàng mấy chục héc-ta, trồng toàn cam, đường đi lối lại có hoa cỏ tươm tất. Kiến trúc chính là một cái lầu tứ giác tạo dựng bởi chất liệu xi-măng cốt sắt giả gỗ cổ, phần còn lại đắp sành sứ theo kiểu lăng Khải Định, một tòa lầu rộng lớn với bộ cột kèo xuyên trến đều bằng xi-măng cốt sắt giả gỗ. Những xác nhà bê-tông cốt sắt còn lưu lại cho đến ngày nay là chứng tích tội ác nhắc nhở con người rằng của phi nghĩa không bao giờ được kết thúc êm ấm cả.
    Khu biệt giam Chín hầm là chín cái hầm mà thực dân Pháp xây dựng từ năm 1941, bao quanh một trái đồi để cất giấu vũ khí. Đến sau ngày 9.3.1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, chín cái hầm kiên cố này bỏ trống. Sau năm 1954, lật lọng được Bảo Đại lên nắm chính quyền, anh em nhà họ Ngô đã có “sáng kiến” cải tạo 9 cái hầm cất giấu vũ khí của Pháp thành một khu biệt giam những người yêu nước và những người có tư tưởng chống đối chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô.
    Mặt trước mỗi hầm trổ cửa to, cao, chắc chắn, trông ra khoảng trống thoai thoải xuống chân đồi, ba mặt kia là tường bê tông xây sát vào thành đất. Hầm có chiều sâu chừng 10 mét, chiều ngang chừng 6m, chiều cao chừng 4m, đựoc ngăn thành hai dãy xà-lim chuồng cọp, có cửa gỗ mở ra lối đi ở giữa hầm. Mỗi chuồng cọp dài khoảng 2m, rộng 0,9m.
    Tường ngăn các chuồng cọp cao 2m, mỗi chuồng có một lưới sắt tạo bởi 16 song sắt ngang và hai thanh sắt dọc chặn trên đầu. Ban ngày ánh sáng vào mỗi xà-lim nhờ nhờ, ban đêm tối om. Trời nắng, trong hầm nóng như nồi rang, trời mưa nước giọt trên đầu tù nhân, lạnh buốt xương da. Tù nhân không được ra ngoài vệ sinh, tất cả đều đi trong thùng và một tuần mới có người đưa đi đổ.
    Các cựu tù nhân Chín hầm hiện còn đang sống ở Huế cho biết mỗi ngày tù chỉ được ăn hai bữa, cơm hẫm với mắm thối hoặc rau muống già, giờ cho ăn tùy hứng của người phục vụ, có thể cách nhau 3 tiếng đồng hồ và cũng có thể từ rạng sáng đến tối mịt mù. Phải giam cực hình như thế để cho những người tù cách mạng chuyển hướng và những người chống đối phải đầu hàng. Có vô số chuyện về tội ác của gia đình họ Ngô thực hiện ở đây.
    Ông Võ Côn vốn là một tỉnh trưởng ở Bình Định, vì không ăn cánh với Cẩn nên bị vu là mật thám Pháp, ông Côn bị bắt và bị giam bí mật ở Chín hầm. Được tin chồng đang thoi thóp sắp chết, bà Côn bí mật lên Chín hầm đấu tranh, chửi bới tưng bừng. Bọn Cẩn buộc lòng phải để bà đưa chồng bà về. Về nhà ông Côn mất. Ông Nguyển Hữu Bích đi tập kết, vợ ông ở lại tiếp tục hoạt động, bị địch bắt, bị tra tấn vô cùng dã man nhưng bà Bích vẫn không khai.
    Cuối cùng bà bị đưa lên giam ở Chín hầm. Như trên tôi đã đề cập sau cuộc đảo chánh 11.11.1960 không thành, Nguyễn Chánh Thi phải chạy trốn sang Căm-pu-chia, nhiều nhà giàu ở Huế như Đức Sinh, Nguyễn Văn Yến, Rồng Vàng bị vu là “gián điệp miền Trung” bị bắt đưa giam vào Chín hầm. Các gia đình nầy phải cắt một phần lớn tài sản của mình nộp cho Ngô Đình Cẩn mới được thả ra. Thậm chí có cả chuyện các bà vợ của những người tù phải hiến thân cho bọn tay chân nhà họ Ngô thì chồng họ mới được can thiệp thả ra. Chồng về nhà hay tin vợ đã “thất thân”, rất đau buồn, Vợ cảm thấy nhục nhã, có bà đã quyên sinh. Gia đình các tư sản nầy nát ra từng mảnh.
    Người tù Chín hầm được cả thế giới biết đến là Đại tá tình báo Nguyễn Minh Vân tức Nguyễn Đình Quảng, con trai ông Phó bảng người Quảng Nam Nguyễn Đình Hiến. Ông Vân bị cực hình ở Chín hầm từ 11.1961 đến 11.1963. Trong thời gian ấy ông đã sáng tác và học thuộc lòng 3000 câu thơ nói lên những ngày bị cực hình trong khu biệt giam Chín hầm. Sau ngày Diệm đỗ, sinh viên học sinh Huế đã lên cứu thoát ông ra khỏi Chín hầm. 3000 câu thơ viết từ cõi chết đã được bí mật chuyển ra Hà Nội và in vào cuối năm 1973 với tựa đề Sống Trong Mồ với tên tác giả Nguyễn Dân Trung.
    Tập thơ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và in trên các báo văn học của Âu Mỹ. Xin trích một số câu:
    “Anh thu hình vào một góc co ro
    Gió ngoài rừng không ngớt thổi vi vo
    Và chốc chốc lại luồn vào trong động
    Leo theo vách lách vào lưng vào bụng
    Tay ma nào dạo trên khắp làn da?
    Vuốt quỷ đâu móc vào tận ruột già
    Nước mưa dột vẫn đều đều rơi mạnh
    Ngồi trên ván tưởng ngồi trên đá lạnh:…
    Sau năm 1975, cụ Đào Duy Anh về thăm Huế, nơi cụ yêu cầu tôi đưa đi thăm đầu tiên là di tích khu biệt giam Chín hầm. Lúc ấy di tích tội ác Chín hầm còn như nguyên vẹn, Đứng trước một cửa hầm trơ trụi giữa một vùng đồi trọc nắng gắt, với chòm râu bạc ướt đẫm mồ hôi, nhà sử học lão thành Đào Duy Anh đã không cầm được nước mắt, bảo tôi: “Tôi đã đọc kỹ tập thơ Sống Trong Mồ của Trần Dân Trung, giờ đây được chứng kiến tận mắt cái địa ngục trần gian nầy, tôi không thể nào hiểu được. Không biết trên thế giới còn có nơi nào biệt giam con người tàn nhẫn đến như thế nầy không!”.
    Sau đó tôi còn trở lại khu vực Chín hầm nhiều lần để tìm đất sản xuất tự túc. Mỗi lần đi ngang di tích khu biệt giam vô chủ tôi vẫn còn thấy lạnh trong xương sống. Đến thời gian dậy lên phong trào thu nhặt sắt phế thải xuất khẩu, một số người hám lợi đã đập nát cả chín cái nhà giam chứng tích tội ác để lấy sắt. Ngày 16.12.1993, khu vực Chín hầm được xếp hạng di tích (tội ác của chế độ cũ) cấp quốc gia, nhưng lên đây chỉ còn thấy một vài tấm biển mới làm với độc nhất hai mố cửa hầm trên đỉnh đồi. Nếu không cố tình đi tìm thì khu vực Chín hầm cũ ngày nay chỉ còn thấy là một khu đồi thông xanh mát do bàn tay các em học sinh Huế trồng từ sau ngày giải phóng mà thôi.
    Mới đây những người đi tìm xác đồng đội đã tìm trong khu vực sinh phần Ngô Đình Cẩn và Chín Hầm được hài cốt của các sĩ quan tình báo cách mạng gồm các ông Phan Trọng Tịnh, Lý Văn Tố, Phan Hữu Đà. Ông Lý Văn Tố đã bị cưỡng bức đi gánh nước tưới cam và bị dập dưới gốc cam. Mãi cho đến năm vừa rồi mới tìm được hài cốt của ông.
    Mỗi lần nhắc lại hay đi ngang qua khu biệt giam Chín hầm tôi vẫn còn thấy rợn người. Nhưng khi thấy khu vực nầy đã bị xóa hết tôi không khỏi suýt xoa tiếc rẻ giống như tôi đã từng tiếc không còn nhìn thấy khu dinh cơ của gia đình họ Ngô ở dốc Phú Cam nữa. Từ thuở ấu thơ, tôi đã thấm nhuần giáo lý của Đạo Phật: “Lấy ân trả oán”. Tuy nhiên, đi vào chùa Phật là nơi đại từ bi, đại trí huệ mà ở cửa vẫn phải dựng tượng ông thiện và ông ác. Phải biết điều thiện để làm điểu thiện là chuyện đã đành. Cũng phải biết cái ác để tránh không làm điều ác. Biết chỗ tối để tìm ra nơi sáng. Không tối không sáng, không phân biệt được điều thiện và điều ác thì con người dầu có đi hai chân cũng chưa thành người. Thiện không biết, ác không biết, chỉ biết tiền thì rồi xã hội sẽ đi về đâu?

  7. @ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỐN NẠN MUÔN NĂM: Rặn cho lắm mà cũng chỉ có thế thôi ư? Cái gọi là “tội ác” của Ngô Đình Cẩn và khu biệt giam Chín Hầm chỉ tung hoành một vài năm rồi hết. Trong khi đó thì tội ác của VC đã bắt đầu từ tám mươi năm nay và cho đến nay vẫn còn tiếp diễn trên quê huơng VN, sao đồng chí không nói đến? Tôi chẳng biết Đào Duy Anh là ai mà chú mày gọi bằng “cụ”, nhưng dẫu có trí thức đến đâu mà không biết ai thiện ai ác ngay trước mắt thì coi như chỉ đáng gọi bằng thằng, không hơn không kém! Xin các bác hãy đọc lại đoạn này để thấy tại sao tôi gọi “cụ” này bằng thằng : (trích)…”Đứng trước một cửa hầm trơ trụi giữa một vùng đồi trọc nắng gắt, với chòm râu bạc ướt đẫm mồ hôi, nhà sử học lão thành Đào Duy Anh đã không cầm được nước mắt,…” (ngưng trích). Mãi sau năm 1975, thằng già này mới “khóc” vì thuơng cảm cho những “nạn nhân” của NĐC qua di tích của khu biệt giam “Chín Hầm”, xin hỏi: vậy thì cụ ở đâu và làm gì ở ngoài Bắc khi những đợt cải cách ruộng đất nhuốm máu hàng trăm ngàn nông dân vô tội mà không thấy “cụ” nhỏ cho họ vài giọt nước mắt. Rồi còn những đợt “chỉnh huấn” cán bộ, vụ giáo dân Quỳnh Lưu khởi nghĩa chống bạo quyền đã bị chúng tàn sát, vụ “Nhân Văn giai phẩm”, có làm cho cụ mủi lòng chút nào? Xin đọc đoạn kể tội ác VC (đảng cs VN) của Giáo Sư Nguyễn Thiện Tâm dưới đây để thấy những gì thằng đặc công mạng này gọi là “tội ác của VNCH”, thật ra chẳng là gì so với những đau thuơng tang tóc mà bè lũ chúng đã gieo cho quê huơng đất nước VN. Xin lưu ý: những tội ác của VC mà GS NTT nêu ra đây KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ TRONG QUÁ KHỨ, MÀ NÓ Đà VÀ VẪN ĐANG TIẾP DIỄN CHO ĐẾN HIỆN TẠI Ở VN, TỨC LÀ HIỆN NAY. ———————————————————————————– HO SO TOI AC CONG SAN VIET NAM Saturday, April 22, 2006 GS NGUYEN THIEN TAM TO CAO TOI AC CSVN Thư Giáo sư Nguyễn Thiện Tâm gửi dân chúng Việt Nam 2005.05.16 Xin kể tiếp về nghịch lý: Bà Phạm Thị Ứng, 60 Thống Nhất, Phan Rí cửa, huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận bị Hùynh Tần Thành đương kim Chủ tịch tỉnh cướp 8000m2 đất do cha ông bà khai phá tạo lập từ năm 1930 đã được các cấp Chính quyền từ thời Pháp đến thời ta công nhận. Vụ kiện này đã qua 27 năm. Điều lạ là tòa án các cấp không xử theo luật mà xử theo lệnh của bọn cướp ngày nhất định đứng vể phía bên bị kiện để bao che ức hiếp (!!!???). Bà Ứng đã nhiều lần ăn đợi nằm chờ ở trụ sở tiếp dân Mai Xuân Thưởng rồi lần mò tới ông Vũ Đức Khiển, Trưởng ban Pháp luật Quốc hội. Ông Khiển nói với bà “Tôi đã xem kỹ giấy tờ, 8000m2 đất này bà là chủ sở hữu từ trước Cách Mạng đến nay không có ai khiếu kiện tranh chấp, tôi sẽ trình lên Bộ Chính trị. Bà Ứng rất mừng, mấy tháng sau tìm đến ông Khiển. Ông Khiển nói: – Việc của bà tôi đã trình Ban Bí thư, đại diện Ban bí thư bảo “Vụ kiện của bà đã hết thời hiệu”(!) Đúng là lưỡi không xương! Giọng lắt léo Cộng sản! *** Báo Tiền Phong số 41 (5.4.01) có bài “Vì sao gia đình ông Quang tan cửa nát nhà?” Gia đình ông Quang ở xã Vĩnh Trạch, Thoại Sơn, An Giang có 21.700 mét vuông đất thổ cư từ đời cha ông để lại. Năm 1981 huyện Thoại Sơn thu hồi lập trại chăn nuôi giao cho công ty chăn nuôi quản lý. Cách tính toán đền bù của địa phương là chỉ cấp 1/3 đất cũ còn lại trả 15 giạ lúa (300 kg) cho mỗi ngàn mét vuông (tức bằng 500,000 đồng đổi lấy 1000m2). Vì không chấp nhận các quyết định của Huyện, Tỉnh mà gia đình ông Quang có đến 8 lần bị các lực lượng cưỡng chế và bắt giam đẩy vào vòng tù tội vì dám “chống người thi hành công vụ. Bà Đầm vợ ông cùng hai người con gái đều bị bắt giam tổng cộng hơn 6 tháng và bị xử 42 tháng tù treo. Riêng ông Quang đi làm ruộng cách nhà chỉ khoảng 1km nhưng nhiều lần bị công an chặn đường bắt xử phạt vì tội không mang theo giấy chứng minh nhân dân (!) Ngày 24/4/2002, tại trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, ông Nguyễn Thành Long, Phó Vụ trưởng Vụ II, Văn phòng Chính phủ sau khi xem xét đơn của ông Quang thấy vấn đề quá bức xúc đã điện cho Chủ tịch UBND Tỉnh An Giang trao đổi giải quyết khiếu kiện cho ông Quang. Ông Long còn ghi phía dưới bức thư gửi cho Chủ tịch UBNDTỉnh An Giang: “Hồi 9 giờ ngày 24/4/2002, tôi đã trao đổi điện thoại trực tiếp với đồng chí Bảy Nhị (tức Nguyễn Minh Nhị), Chủ tịch UBND Tỉnh An Giang. Đồng chí đã đồng ý xem xét lại những nội dung nêu trên. Đề nghị ông (Quang) về đưa cho Chủ tịch Tỉnh”. Ông Quang hớn hở từ Hà Nội về hy vọng tìm được tiếng nói công tâm, soi xét lại vấn đề. Thế nhưng một năm qua đơn của ông vẫn bị “nghẽn mạch” ở phòng tiếp dân của Tỉnh. Tôi khom mình chui vào ngôi nhà lá nhỏ bé, rách nát với những vật liệu phế thải trong một buổi trưa nắng gay gắt, nắng giữa tháng 4/2003. Ngôi nhà xiêu vẹo này cũng sắp bị giải toả. Đi đâu, về đâu những con người này? … Câu trả lời vẫn phải nhẫn nại chờ đợi ở Tỉnh An Giang. Ông Quang cho biết đất nhà và ruộng đã bị thu hồi hết, bây giờ gia đình ông chủ yếu sống bằng nghề làm thuê cuốc mướn. Đứa con gái út đang học lớp 9 cũng phải bỏ học đi làm thuê. Chỉ tay về phía trại heo, ông Quang chua xót nói: “Đất thu hồi của dân bây giờ cấp cho cán bộ và người nhà của cán bộ”. Và đây là thư của ông Vũ Minh Ngọc Thư gửi Ông Vũ Đức Khiển – Chủ tịch Uỷ ban Pháp luật Quốc Hội Đồng kính gửi Đồng chí Tổng bí thư Nông Đức Mạnh Ngày 19 tháng 5 năm 2004. Là một đảng viên hiện thường trú ở phòng 49 Nhà A1 Khu tập thể Nam Đồng, một cựu chiến binh có 40 năm tuổi quân, một đảng viên có 50 năm tuổi Đảng, sinh ra và lớn lên trong một gia đình cơ sở cách mạng có tới 10 người tham gia hoạt động trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, bản thân tôi tham gia từ năm 1944 nên gia đình tôi năm 1946 được Ten Hồ Cho’ Minh tặng bằng khen với danh hiệu “TOÀN GIA CÁCH MẠNG” tôi gửi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Vũ Đức Khiển – Chủ tịch UB Pháp luật Quốc Hội đề nghị xét tội trạng của 7 vị cán bộ cao cấp) 1. Phạm Thế Duyệt trước là Bí thư Thành uỷ Thành phố Hà Nội bị 11 cụ lão thành Cách mạng của Hà Nội hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng trong việc chống tham nhũng, các cụ đã báo cáo với Bộ Chính trị tới 13 tội danh của Phạm Thế Duyệt, không những không được Bộ Chính trị xem xét mà các cụ còn bị Phạm Thế Duyệt dung quyền lực khai trừ 4 cụ ra khỏi Đảng để răn đe các cụ khác. Vụ việc này các cụ đã làm đơn khiếu nại kéo dài hang chục năm vẫn không được giải quyết, mà Phạm Thế Duyệt thì vẫn nghiễm nhiên trở thành Chủ tịch Mặt trân Tổ Quốc Việt Nam. 2. Trương Tấn Sang, Uỷ viên Bộ Chính trị, trước đây là Bí thư Thành Uỷ TP Hồ Chí Minh đã phạm 2 án kỷ luật lớn: a. Phá hoại nền kinh tế thị trường đang vươn lên của TP Hồ Chí Minh qua các vụ Ép Cô Minh Phụng, Tân Trường Sanh v.v gây thiệt hại bốn ngàn tỷ đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân b. Vi phạm phẩm chất và đạo đức cuả người cán bộ đảng viên qua việc mua dâm, thông dâm với đồng chí Hồng – đảng viên cộng sản của Quận 3 TP Hồ Chí Minh. Hai vợ chồng bà Hồng đã gửi thư tố cáo lên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu. Vậy mà Trương Tấn Sang, người phá hoại nền kinh tế của TP Hồ Chí Minh lại được điều về làm Trưởng Ban Kinh tế của Trung ương Đảng vẫn với cương vị Uỷ viên Bộ Chính trị, mặc dù y đã suy thoái phẩm chất đạo đức. 3. Nguyễn Văn An khi làm Bí thư Tỉnh uỷ Nam ĐỊnh đã làm cho Nhà máy phá sản, suýt phải giải thể xoá tên một cơ sở công nghiệp có truyền thống lâu đời của thành Nam. Sau đó được Trung ương điều về làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, trong việc sắp xếp nhân sự cho Trung ương y đã vơ vét được hang tỷ tiền đút lót. Tôi được công nhân bến phà Thái Bình kể lại là trong đám tang mẹ y, ô tô của các Trưởng ban Tổ chức trong 61 Tỉnh thành đến viếng kéo dài hang cây số. Tiền phúng viếng rút ra còn phong bì gia đình cho vào bao tải mang ra bờ sông đổ rải trắng cả một vùng. Khi về làm Chủ tịch Quốc Hội trong đợt Bầu cử Quốc hội Khoá XI y là Chủ tịch Uỷ ban Bầu cử Quốc hội, nhưng lại là ứng cử viên vào Quốc hội khoá đó. Một sự vi phạm trắng trợn vào luật bầu cử đã được Quốc hội đề ra và chính ylại là Chủ tịch y đã bất chấp luật pháp và cái chính là coi thường Dân, mà chúng ta gọi là vừa đá bóng vừa thổi còi. Cũng trong đợt bầu cử Khoá XI này, một số cử tri đã có đơn tố giác Phạm Thế Duyệt và Trương Tấn Sang vì không đủ tư cách là ứng cử viên. Một số nơi đã hồi âm cho cử tri nhưng riêng Uỷ ban Bầu cử Quốc hội không những không trả lời cho cử tri biết mà còn sắp xếp cho Phạm Thế Duyệt và Trương Tấn Sang trúng cử khoá XI này. 4. Nguyễn Sinh Hùng đại biểu Quốc hội Khoá XI, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính đã cố tình bỏ qua việc sai trái của nhân viên trong việc khai khống một khoản tiền 6.858.625.986 đồng, đó là khoản phê duyệt quyết toán công trình K84 (xây dựng nhà máy in tiền quốc gia), vụ việc này được ông Trần Bình Phương công tác tại Ngân hàng Nhà nước tố cáo. 5. Đào Duy Quát trước đây ở Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh, được bố là Đào Duy Tùng định đưa vào Trung ương với ý đồ lật đổ ông Đặng Xuân Kỳ nnghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lê nhưng do có bài “chân tướng Đào Duy Quát” của tôi ra đời kịp thời (vì toàn bộ vụ bê bối ở Viện NC chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh đã được phơi bày đầy đủ) nên Hội nghị TƯ khóa VIII đã loại bỏ tên +Đào Duy Quát ra khỏi danh sách vào TƯ khóa IX. 6. Nguyễn Thị Hằng Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh Xã hội vài năm trước đây đã dùng hộ chiếu đỏ để buôn thuốc lá lậu ở nước ngoài về, vụ việc đã được báo chí đưa tin rầm rộ nhưng rồi sự việc được dìm đi trong dĩ vãng để bà tiếp tục leo lên chức Bộ Trưởng kèm theo cương vị là Ủy viên TƯ Đảng. 7. Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước đã bị tố giác khai man ngày vào Đảng vậy mà vừa qua vẫn được nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, gây bất bình ở hầu hết các Đảng bộ trong toàn quân. Nhiều tướng lĩnh đã lên tiếng, Bộ Chính trị cũng đã họp nhiều lần nhưng sự việc vẫn chưa được làm sáng tỏ, trong khi đó ông ta lại đứng lên bao che cho một tên lính đảo ngũ, bị khai trừ khỏi Đàng là Đặng Đình Loan. Tên này được Lê Đức Anh phục hồi Đảng rồi cất nhắc thành đặc phái viên của Bộ Chính trị, đưa xe cho tên Loan đi nói chuyện nhiều nơi với nội dung bôi nhọ danh dự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (y nói Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mới là Tổng chỉ huy ở chíên dịch Điện Biên Phủ (ĐBP) – năm nay chúng ta kỷ niệm 50 năm chiến thắng ĐBP với vai trò và vị trí của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã được lịch sử nghi nhận, vậy thì Lê Đức Anh và tên tay sai Đặng Đình Loan sẽ bị xử lý như thế nào?)…. Còn đây là lá thư của Đại tá Hùng Cường, thay mặt một số sĩ quan quân đội cấp tá đã nghỉ hưu ở khu tập thể Nghĩa Đô, Hà Nội. Đề nghị xử lý những tên dưới đây: 1. Trần Đức Lương, người được Lê Đức Anh bồi dưỡng nhiều, gặp gỡ nhiều, đang hy vọng có thể làm tổng bí thư thay Nông Đức Mạnh 2. Phạm Văn Trà, người chạy làng trong vụ A10, rất được lòng Lê Đức Anh 3. Trần Đình Hoan, kẻ bán đứng Lê Khả Phiêu cho Lê Đức Anh hòng được chân trong Bộ Chính trị phụ trách tổ chức hiện nay (hồi ấy Hoan làm chánh VP đã cung cấp nhiều tài liệu cho Lê Đức Anh đánh Lê Khả Phiêu) 4. Nguyễn Khoa Điềm, rất khôn ngoan tìm chỗ dựa ở Lê Đức Anh, và rất được lòng Lê Đức Anh. Kẻ đã cho dựng phim về Lê Đức Anh chiếu trên TV 5. Lê Hồng Anh, ngả về phía Lê Đức Anh, rất được lòng Lê Đức Anh Toàn những nhân vật nắm những bộ phận quan trọng của Đảng và nhà nước như vậy thì ai làm gì được Lê Đức Anh? Lê Đức Anh đã có lần nói “Dù có mất ổn định đến đâu ta chỉ cần nắm tứ trụ là không sợ gì hết” (Tứ trụ là: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Chính trị và Ban Tổ chức TƯ Đảng, phát biểu tháng 12/1992). Xin thưa, đơn cử một số vụ trên đây là bất chợt đọc được trên báo chí hàng ngày của ta chứ không có chi đặc biệt vì xem ra vụ nào cũng đặc biệt (tức đặc biệt oan sai, đặc biệt tởm lợm, khi thấy bọn quan lại cướp ngày của dân). Tôi đã tiếp xúc với dân oan trên 61 tỉnh thành ra TƯ theo kiện và tìm hiểu hầu hết các hồ sơ đều oan khuất không thể nói hết. Chính vì đểu cáng với dân, ăn cháo đá bát mà nhà văn Dương Thu Hương đã kêu lên trong bài viết của mình: “Dân chúng quá nhu nhược đến mức tự chìa chân ra cho đỉa hút máu. Người nông dân Hải Hưng đã chẳng đặt tên cho Đảng cộng sảnVN là Đảng “Cộng Đớp” rồi sau đó đám dân đen đô thị tục tĩu đổi thành “Cộng Mút”. Dân chúng cũng không quá ngu dốt đến mức không biết rẳng một chế độ tham nhũng trên bình diện toàn quốc ắt hẳn phải liên kết và sử dụng bọn xã hội đen, Năm Cam ra tòa nhưng Sáu Quýt, Bảy Chanh, Tám Bòng … vẫn còn lại trong lâu đài của các ông lớn… (Bài Hà nội – Việt nam) Chính vì đểu cáng với dân, ăn cháo đá bát mà nhà cách mạng lão thành, cán bộ cao cấp Nguyễn Văn Trấn đã nhận xét “Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay không thể nói hết” Đại tá Thành Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân “Đó là một bộ máy đàn áp rộng lớn và tinh vi theo kiểu KGB lộng hành bất chấp luật pháp và dư luận chà đạp quyền tự do của nhân dân, khống chế con người và xã hội tạo nên nỗi sợ dai dẳng thường trực biến xã hội ta thành lạc hậu và man rợ” Còn Nguyễn Chí Thiện, nhà văn, nhà thơ từng bị tù oan 27 năm trời đã nhận xét chế độ ta như sau: “Đảng là một tổ chức siêu phát xít, cực kỳ hung hiểm”,(…), họ đang xây con đường lên các chân trời mù mịt đó bằng thân người, bằng nước mắt, mồ hôi, dớt nhãi, cơ hàn, chiến tranh, lao tù, gian dối, ngu tối, vô luân, vô sỉ, bằng nô lệ kìm kẹp bằng hủy diệt tất cả những gì mang tính người. Tất cả các nước có chế độ cộng sản đều tàn bạo đểu cáng như nhau. Cứ điểm xem thống chế Stalin vĩ đại của cộng sản đã từng giết không ghê tay 40 triệu người là đồng bào đồng chí của mình. D Mao Trạch Đông (MTĐ) vĩ đại nhất châu Á cũng tàn bạo chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc, số lượng người MTĐ tiêu diệt không thể đếm xuể. Hung hãn và mất tính người đến độ gần như toàn bộ Bộ Chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc đều bị Mao tiêu diệt gần hết. Tôi đã từng là nạn nhân của Cải cách ruộng đất, đã chứng kiến cải tạo miền Nam, những điều mắt nhìn thấy buộc tôi phải nhận định rẳng trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chính quyền nào hung bạo, mất tính người như cộng sản. Chúng ta còn nhớ cụ Trịnh Văn Bô đã từng được bác cHo’ nhiều lần nói “cô chú là ân nhân của cách mạng” thế mà trong nhiều biệt thự ở HN cụ cho cách mạng mượn làm trụ sở, làm nhà riêng cho cán bộ, có một ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu, cụ đòi 50 năm nay không trả. Chúng ta còn nhớ cụ Nguyễn Thị Năm chủ đồn điền ở Thái Nguyên, một người phụ nữ đầy bản lĩnh, đầy tài năng và lòng yêu nước đã từng nuôi cả đoàn quân, dốc hết tiền vàng ra cứu nước. Người phụ nữ vĩ đại này đáng được phong nhiều lần anh hùng nhưng CCRĐ mẹ là người bị ăn phát đạn đầu tiên của cộng sản. Vì những lý do quá tồi tệ đó, chủ nghĩa cộng sản đã bị tẩy chay trên toàn TG. Các nước Đức, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và đặc biệt là Nhật Bản đã công bố một quyết định dứt khóat từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Quyết định này được 1005/1006 đảng viên nhất trí (Xem bản tin A Thông tấn Việt Nam ra ngày 19.1.2004: Đảng cộng sản Nhật bản đã từ bỏ những giáo điều của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là các cải tổ dân chủ có thể đi đến thành công trong khuôn khổ 1 chế độ TB ủng hộ chính sách đa Đảng, thừa nhận chế độ quân chủ. Hiện nay Đảng cộng sản Nhật Bản đang rất suy yếu, bằng chứng là trong cuộc bầu cử Quốc Hội tháng 11.2003 mặc dù Đảng cộng sản NB có ứng cử viên ở khắp mọi nơi nhưng đã không được ghế nào”) Ở ta, cách đây 2 năm, Nguyễn Đức Bình, nguyên GĐ học viện Chính Trị QG HCM có quyết định về hưu. Trong buổi chia tay, một cán bộ giảng dạy, chuyên viên 9 nói “Anh Nguyễn Đức Bình lãnh đạo học viện hơn 3 chục năm nay, nhưng đến giờ này nếu có người hỏi chủ nghĩa xã hội là gì chắc anh không trả lời được”. Thế mà hàng năm Học viện cỡ lớn này đã tiêu phí của dân cơ man nào là tiền giáo trình, giáo án, chi phí đào tạo v.v… nhưng không để làm gì cả. Cũng vậy, từ tác phẩm “Tân Hoa Văn trích” số 5.1999 đưa tin: “Trong cuộc hội nghị hàng năm của phong trào cộng sản quốc tế của cộng sản Trung Quốc họp tại Thành Đô tháng 10 năm ngóai một vị giáo sư già xúc động nói: “Cả đời nghiên cứu chủ nghĩa xã hội, thế mà bây giờ có một học sinh hỏi chủ nghĩa xã hội là gì tôi vẫn không thể trả lời…” Giáo sư nói tiếp: “Điều quan trọng đầu tiên trong phát triển chủ nghĩa Mác là trên cơ sở kế thừa, cần dám đột phá, dám thừa nhận nhiều quan điểm của chủ nghĩa Mác đã trở nên lỗi thời do sự phát triển của lịch sử”. Thế mà chủ nghĩa cộng sản vẫn tuyên truyền một cách huênh hoang khoác lác và vô học trên các phương tiện thông tin đại chúng là “thiên đường của nhân loại, là làm việc theo năng lực, hưởng thụ theo nhu cầu…” Toàn dân được dạy rằng tư bản sẽ giãy chết, giai cấp công nhân chính là người đào mồ chôn chủ nghĩa TB. chủ nghĩa xã hội là tiến trình tất yếu của xã hội loài người vì đó là một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội không có giàu nghèo, không có của cải riêng, mọi thứ đều là của công cả. Hồ nói: “Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được tiếp nhận một cách hoan hỉ với niềm tin mãnh liệt” (Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh) Sự thật thế nào? Xin dẫn ra đây một bài thơ về chủ nghĩa cộng sản Các điều vĩ đại Chúng ta đã được dạy bảo rằng: “Sự kiện vĩ đại nhất của Thế kỷ XX Là sự ra đời của Hệ thống Xã hội chủ nghĩa Mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga”. Nhân loại giờ đây Sẽ cùng nhau quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội Các thành trì, các tiền đồn của Chủ nghĩa Xã hội Là bất khả chiến bại là bền vững đời đời … Sự tồn tại của các quóc gia tư bản chỉ là tạm thời Họ chỉ còn là “khách” tạm trú Trên TRÁI ĐẤT thôi! Các quốc gia chậm phát triển Sẽ noi gương mà thẳng tiến Tới xã hội Xã hội Chủ nghĩa huy hoàng! “Chủ nghĩa Tư bản đang giãy chết” Ôi hạnh phúc ngất ngây! Thế kỷ XX Ta chưa kịp mở hội ăn mừng Vì Chủ nghĩa Tư bản “giãy mãi mà không chết” Cứ lớn mạnh không ngừng Thế kỷ XX Hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời Bằng súng đạn, bằng núi xương, sông máu Bằng chất chồng hờn oán đau thương! Nhưng chỉ một đêm Bức tường Béc lin sụp đổ Trong hân hoan rực rỡ hoa cờ! Thế kỷ XX Loài người chứng kiến Xã hội xã hội chủ nghĩa Đã sụp đổ trên toàn thế giới Đã chết ngoài dự kiến Của những đầu óc cao siêu nhất. “Chết mà không kịp giãy” Như bức tường Béc lin Sụp đổ có một đêm! Ta đã từng ngợi ca Sự ra đời của hệ thống Xã hội Xã hội chủ nghĩa Là một điều cực kỳ vĩ đại! Thì sự sụp đổ của “điều cực kỳ vĩ đại” Sẽ là điều triệu lần vĩ đại hơn! Nguyễn Mạnh Sơn (Hải Phòng) Thủ tướng Chu Dung Cơ nói về chủ nghĩa xã hội trước Quốc hội Trung Quốc (Tạp chí Thanh Minh tháng 3 năm 2000: “Nếu như bảo tôi nói về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì tôi 100% không đủ tiêu chuẩn để nói. Nếu kiểm tra kiến thức của tôi về mặt này thì may ra tôi chỉ đạt 10 đến 20%. Thể chế chính sách hiện nay có rất nhiều tật bệnh, hình thức chủ nghĩa, phô trương quá nhiều những điều trống rỗng giả tạo, không thực chất quá nhiều. Đảng cộng sản phải lột xác chính mình… Trong tay tôi hiện nay số liệu về kết quả thăm dò dư luận cho thấy uy tín của cán bộ lãnh đạo là đảng viên cộng sản kém rất xa so với những nhân sĩ Đảng Dân chủ và không đảng phái. Đảng cộng sản Trung Quốc đang phát triển theo chiều nghịch”. Ông nói tiếp: “Do độc quyền lãnh đạo và không có cơ chế giám sát nên Đảng cộng sản Trung Quốc đã gây ra không biết bao nhiêu tật bệnh, rối loạn, lẫn lộn chức năng giữa cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước làm mồi cho những kẻ trục lợi, làm suy yếu Đảng” Sự nhầm lẫn lên đến cực độ qua thơ Tố Hữu, người được tôn xưng là đại thi hào Cách Mạng Bài ca Tháng Mười (ca ngợi cuộc cách mạng vô sản Nga năm 1917) Khi anh chưa ra đời Trái đất còn nức nở Nhân loại chưa thành người Đêm ngàn năm man rợ Từ khi anh đứng dậy Trái đất bắt đầu cười Và loài người từ đấy Ca bài ca Tháng Mười… Và To’ hu~u khóc tên đồ tể Stalin: Stalin, Stalin! Hỡi ơi Ông mất, đất trời còn không? Thương cha thương mẹ thương chồng Thương mình thương một, thương Ông thương mười! Không chỉ Tố Hữu, mà sự nhầm lẫn tội nghiệp này còn bắt đầu từ Hồ Chí Minh. Tại đại hội 2 của Đảng Lao động Việt Nam, ông tuyên bố: “Cách mạng Việt Nam phải học nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc, kinh nghiệm và tư duy Mao Trạch Đông đã giúp chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết Mác-Ănghen Lênin, Stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơnD M TĐ về sự cống hiến to lớn đó.” Và cũng tại đại hội này, ông tuyên bố: “Ai đó có thể sai chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được”. Trong lúc Nguyên soái Diệp Kiếm Anh nói đại cách mạng văn hóa giết 20 triệu người, đấu tố, tra tấn 100 triệu trong đó có 300 đại lão công thần đã sáng lập ra nên nước Cộng hoà Nhân Dân Trung hoa., Còn giáo sư Lưu Ái Cầm, con gái cố chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ nhận xét: “Mao bản tính lật lọng, qua cầu rút ván, biến ân thành oán, ghen tỵ hiền tài, đa nghi Tào Tháo” (Lưu Thiếu Kỳ & Ân óan Trung nam Hải, trang 65) Hồ biết rằng Mao Trạch Đông khét tiếng tàn bạo đã tiêu diệt gần hết những đồng chí đại công thần có công nhất trong những người lãnh đạo khai sinh ra nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, như nhận xét của Diệp Kiếm Anh vừa nêu, nên sự nghiệp của Mao được đánh giá 3 phần công 7 phần tội. Còn cái xã hội chủ nghĩa Trung Quốc mà Hồ ca ngợi “thề noi gương” thì họ đã quẳng vào sọt rác từ lâu rồi vì nó quá bê bối, trì trệ, lạc hậu. Đảng Trung Quốc đã và đang ra sức sửa sai. Nhưng vì sai quá nên sửa mãi vẫn chưa ăn nhằm gì. Chứng cớ: Tạp chí Đông Hướng ra số tháng 7 năm 2004 đưa tin: “Đảng cộng sản Trung Quốc đã thành lập ban thăm dò dư luận quần chúng đối với Đảng do Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Ngô Quan Chính làm trưởng ban, kết quả như sau: – Về hài lòng đối với công tác của Đảng và Chính quyền địa phương: khu tự trị Tây Tạng cao nhất đạt 60% còn lại là dưới trung bình – Bắc Kinh 45%, thành phố Thiên Tân 42%, 28 tỉnh thành phố đều ở mức nguy hiểm dưới 20%, các tỉnh Hà Nam, Sơn Tây, Giang Tây, An Huy, Giang Tô, Hồ Bắc và thành phố Trùng Khánh ở dưới mức nguy hiểm (chỉ đạt 15%). Nguyên nhân chủ yếu để quần chúng không hài lòng vì phẩm chất cán bộ quá kém: quan liêu, tham nhũng, ức hiếp chiếm đọat của dân v.v… Còn Việt Nam ta nếu tiến hành thăm dò thì sao? Nếu được tự do bỏ phiếu tín nhiệm của dân đối với Đảng thì chắc chỉ còn 1 đến 2% người tín nhiệm Đảng (có lẽ do thiểu năng trí tuệ hoặc tâm thần) Vì sao? Xin thưa Hội Minh Bạch Quốc Tế (quốc tế ) gồm 17 tổ chức quốc tế dùng sự lượng định của hàng ngàn chuyên viên cao cấp nhất TG để chấm điểm mỗi quốc gia về tình trạng tham nhũng tại nước đó, chỉ số cao nhất là 10 điểm, có nghĩa là xứ đó không có tham nhũng thì Đan mạch, Thụy điển, Úc, Anh quốc đứng đầu bảng gần như hòan hảo: 9 điểm. Nhìn chung ta thấy các nước tự do dân chủ chiếm đa số phần đầu bảng, còn các xứ độc tài và cộng sản thì chen lấn nhau ở cuối bảng. Việt Nam chúng ta nằm phần cuối bảng bi đát này với chỉ số 2,4 đồng thuyền với 4 nước Sudan, Cônggô, Lybi và Irắc. Nhưng điều ghê rợn hơn nữa là có cơ quan nghiên cứu đã cho Việt Nam số điểm là 1,4 chót bảng. Xin xem sự thật này ở Việt Nam qua các đơn kiện của công dân Phạm Thi Ứng bị đương kim chủ tịch tỉnh Bình Thuận cướp đọat 8000m2 đất. Vụ chính quyền huyện Thoại Sơn cướp trắng toàn bộ tài sản của ông Phạm Minh Quang đã nêu ở trên. Vụ kiện của 14 vị lão thành cách mạng ở xã Thanh Nê Kiến Xương, Thái Bình kiện Phó Chủ tịch tỉnh Hoàng Đình Thạch cùng Bí thư tỉnh ủy Bùi Sĩ Tiếu mua rẻ đất của dân bán cho công ty, thiệt của dân đến gần 200 tỷ! Gần đây nhất, ngày 4 tháng 11 tại trụ sở quốc hội hơn 200 cán bộ nông dân Hà bắc kêu gào “Quốc hội ơi, Quốc hội ơi! các ông đại diện cho dân mà để cho chính quyền dẫn công an về cướp của chúng tôi thế à?” Những chuyện tương tự về cướp bóc của các cán bộ cộng sản đối với dân tính không hết đếm không xuể, nên có những bài thơ tuyệt tác: Phản chiến Tổ quốc trong anh máu thắm tận nguồn Tổ quốc chúng gào đầu lưỡi Hãy cảnh giác! Khi anh đầm mình máu mê trận mạc Chúng đưa con du học nước ngoài Rúc kín lâu đài du hý trên ngai Hãy cảnh giác! Bọn mặt bự dẻo mồm Thời nào chẳng nhân danh Tổ quốc Cao giọng hùng hồn không tiếc máu xương Máu xương lầy đỏ nghiệp đế vương Hãy cảnh giác! Sau chiên tranh chúng lại chiến tranh cuộc chiên tranh một phía Người sống sót trở về oằn lưng sưu thuế Chúng lấy máu đúc vàng Độc quyền ngự trị nghênh ngang Độc quyền nghĩ Độc quyền nói Độc quyền ráo trọi Dân đen chỉ một quyền được … đói Và thêm nữa là quyền sợ hãi Triền miên … Hãy cảnh giác! Dân đen Cảnh giác! Lòng ta yêu vô cùng Tổ quốc Chúng luôn moi làm bẫy đánh lừa Sập lại chính đời ta Đến cả con cháu ta Vào kiếp chó Canh túi vàng chúng nó. Bùi Minh Quốc Thư Giáo sư Nguyễn Thiện Tâm gửi dân chúng Việt Nam (phần 1)2005.05.16 Sài Gòn ngày 01 tháng 12 năm 2004 Kính gửi: -đồng bào trong cả nước, -kiều bào Việt nam ở nước ngoài -các vị đại diện cho dân: Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương, Trần Bá, Trần Đại Sơn, Trần Khuê, Vũ Cao Quận, Hoàng Tiến, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Minh Ngọc, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Đan Quế cùng các bạn trẻ đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ, với lòng kính yêu khâm phục. Nguyễn Thiện Tâm, giáo sư Giáo sư triết học V.V.N, lão thành Cách mạng nhận định: “Trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chính quyền nào hung bạo, mất hết tính người như chính quyền cộng sản hiện hành. Chủ nghĩa cộng sản là thảm hoạ lớn nhất của nhân loại, hơn cả thảm hoạ sóng thần, động đất”. *** Thưa các vị, Các vị đang cầm trong tay bài viết của một người làm khoa học đã từng nhiều lần đi hội thảo khoa học thế giới và khu vực. Người này mong mỏi các vị bình tâm đọc mấy dòng tâm huyết dưới đây để ta cùng nhau trao đổi ý kiến về vận mệnh đất nước và tìm cách cứu nước. Các-Mác có nói một câu thật có lý: “Chỉ có súc vật mới quay lưng với đồng loại để chăm chút cho bộ lông của mình”, và người xưa nói: “Quốc loạn tri trung thần, Gia bần tri hiếu tử” (nước có loạn (mới) biết tôi trung, nhà nghèo (mới) biết con có hiếu). Chính lúc Tổ quốc lâm nguy này mới rõ lòng người nông sâu, tà chính. Vụ án siêu nghiêm trọng của nhóm phản quốc Lê Đức Anh đã được phát giác vài chục năm nay mà cho đến giờ này Bộ Chính trị vẫn im như thóc nói lên điều gì? Nói lên sự giả nhân giả nghĩa, nói một đằng làm một nẻo của chính quyền cộng sản, và các khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết”, “Vì dân quên mình”, “Tất cả là của dân, do dân, vì dân” đều mang tính bịp bợm, không hề có thực chất. Sự thật là chúng chỉ lo cho mình, có ai nghĩ đến dân đâu. Nên tội lỗi tày đình của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Trung tướng Đặng Vũ Chính, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh được toàn bộ Bộ Chính trị im lặng vô cảm tức là đồng lõa bao che cho chúng. Phải nhìn thẳng vào xã hội ta thời điểm này như Trương Triệu Vũ nói: “Trong Trung ương thiếu hiền tài, lùn trí tuệ, nghèo nhân đức, nên đã xẩy ra không biết bao nhiêu là tội lỗi, là bệnh hoạn đủ các kiểu. Dân đã kiên nhẫn, khoan dung, tha thứ, cho những vấp váp ấu trĩ và cả những sai lầm, sa ngã, hư đốn của Đảng và Chính phủ, đã dạy bảo nhiều, mà họ vẫn chưa biết phục thiện, chấp tay nhận lỗi hứa sửa mình… Không nên bắt dân nộp thuế để Đảng tiêu xài vô tội vạ, lại nuôi một hệ thống vừa đông vừa cồng kềnh, ăn hại như hiện nay”, và ông cảnh báo: “Đừng để Đảng thành vật cản đường trong lịch sử dân tộc. Đừng để lịch sử ghi án phản quốc cho Đảng”. (Trích thư Trương Triệu Vũ gửi Nông Đức Mạnh, ngày 21/11/2004) Sự thật, chính quyền cộng sản Việt Nam là một loại quái thai dị dạng. Xin các vị hãy nghe cụ Trần Đại Sơn – Đại tá, lão thành Cách mạng – trả lời phỏng vấn đài “Châu Á Tự do” ngày 15 tháng 11 năm 2004 vừa qua: “Việt Nam chúng tôi dưới sự lãnh đạo của cộng sản thì làm gì có luật pháp. Lệnh của Bộ Chính trị muốn bắt ai là bắt, muốn tha ai là tha, xử ai bao nhiêu năm là xử. Tòa án Việt Nam không xử theo luật mà xử theo lệnh của Đảng. Lãnh đạo càng cao càng làm càn, càng tham nhũng mạnh, làm gì có người nào tử tế? Bây giờ Đảng cộng sản đã nát lắm rồi, đừng để nó nồng lên mùi không ai ngửi được.” Sự thật là Đảng ta đã trở thành “Đảng Cộng đớp”, “Đảng Cộng mút” như nhà văn Dương Thu Hương nói, và như Nguyễn Văn Trấn nhận xét “Tội ác của chế độ này, hơn 40 năm qua không thể nói hết” . Ai đã từng chứng kiến Cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp mới thấy bản chất của Đảng là Đảng cướp. Xin nghe một cán bộ cao cấp làng báo kể chuyện rùng rợn ở Sài Gòn những năm 80: “Ô tô mui trần đỗ xịch trước cửa hiệu, một tốp lính ăn mặc rằn ri, mặt đằng đằng sát khí, lưỡi lê tuốt trần, xộc vào cửa hiệu, hô: “Đứng im, giơ tay lên!” Cả nhà ngơ ngác hốt hỏang giơ tay lên. Tốp lính mở các hòm, tủ hốt bạc, hốt dây chuyền, vòng, xuyến, lắc, hoa tai, nhẫn cao cấp nạm kim cương v.v…nhét vội vào bao tải, không cần kiểm kê hạng mục, không cần biên nhận số lượng, cứ thế vác lên xe nổ máy chạy”. Động tác cuối cùng của Đảng cướp là ném cho gia chủ một cái trát triệu tập đi lao động cải tạo. “Về khoản cướp bóc, chơi đểu thì cộng sản còn hơn “ngụy” nhiều”. Dân vùng giải phóng sau 75 đã nhận xét như vậy. Man rợ thay, Đỗ Mười nhờ thành tích cướp giật này đã lên như diều gặp gió, lên tới mức to nhất nước, y đã làm tới 2 nhiệm kỳ vẫn chưa chịu về hưu. Y còn ham hố làm cố vấn cho Đảng như Lê Đức Anh để tiếp tục dạy cho Đảng “trổ tài” cướp đoạt, vơ vét của những người đã bị tước đoạt đến cùng cực. Bất giác tôi nhớ đến tiên sinh Hoài Nam Tử dạy: “Đức ít mà ân sủng nhiều Tài ít mà địa vị cao Công nhỏ mà bổng lộc lớn là tam đại họa“ (3 họa lớn) Ba cái họa lớn này các vị lãnh đạo cao cấp Việt Nam có đủ cả 3 nên đã biến thành tai họa cho dân tộc là chuyện đương nhiên. Trách ai? Sự thật là chúng ta đã xây dựng một xã hội vô cùng nguy hiểm vì nó được điều hành bởi những nhân vật quái thai dị dạng mất tính người như Lê Duẩn, Lê Đức Anh, Lê Đức Thọ, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Hà Phan, Phạm Thế Duyệt, Đỗ Mười, Trương Tấn Sang v.v… Chúng ta đã xây dựng một xã hội mà mọi giá trị đều bị đảo lộn: tốt thành xấu, xấu thành tốt, có công thành có tội, có tội thành có công. Tội to như Ban tổ chức TƯ, Ban Tư tưởng Văn hóa thì hết huân chương cao quí này đến huân chương cao quí khác. Còn những người có công to lớn như Trần Độ, Hoàng Hữu Nhân, Lê Giản, Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương, Trần Đại Sơn, Trần Bá, Vũ Minh Ngọc, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Đan Quế, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Vũ Cao Quận, đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Phương Nam Đỗ Nam Hải… thì luôn bị tù đầy hoặc rình rập, theo dõi, hãm hại. Trong bài viết “Bức tranh tổng quát về đất nước Việt Nam”, ông Hà Mạnh Khởi viết: “Thử hỏi trong Bộ Chính trị có mấy ai bằng các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến? Trong Bộ Chính trị có ai bằng Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn. Giá mà trong Bộ Chính trị có được những con người như thế thì tốt cho dân tộc ta biết bao!” Sự thật là Đảng cộng sản đã đưa Việt Nam xuống vực thẳm của đói nghèo lạc hậu. Nhân dân tiếng là được độc lập nhưng bị bưng bít cùm kẹp đủ kiểu. Cả nước có hơn 600 tờ báo, có hàng vạn luật sư. Nhưng có báo nào, có luật sư nào bênh vực cho những người dân thấp cổ bé họng bị Đảng cướp nhà cướp đất. Có báo nào dám bảo vệ những chiến sĩ dân chủ kiên cường như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Phạm Quế Dương, Trần Đại Sơn, Trần Bá, Vũ Minh Ngọc, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Đan Quế, Hà Sĩ Phu và mấy chíên sĩ trẻ kể trên. Sự thật là Đảng cộng sản Việt Nam đã làm những việc phi lý phi pháp đến man rợ. Trên thế giới ngày nay chỉ còn một nước duy nhất là Việt Nam không cần luật thành văn mà chỉ có luật rừng (bắt ai, xử ai cứ theo lệnh trên, lệnh miệng). Chỉ có ở Việt Nam nhà nước mới chơi cái trò cắt điện thoại [1], cấm in chụp tài liệu. Tôi nhớ tạp chí Thế giới tháng 7-2003 đăng tin “Ở Mỹ tù nhân được tự do thư tín, tự do dùng điện thoại“.Chỉ có Việt Nam mới cai trị dân theo kiểu mạnh ai nấy vơ vét (vơ vét và cướp bóc vô tội vạ). Chỉ có Việt Nam mới kiên quyết bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng nội hàm của chủ nghĩa Mác-Lê là gì cho tới nay chưa ai minh định được. Một hệ tư tưởng được coi là chính thống nhưng chưa có một tài liệu chính thống nào giải thích được nó. Đại từ điển La-Rút (Grand Larousse) có một câu rất hay: “Bản chất con người là nhầm lẫn“. Đến thiên tài Anhxtanh (A Einstein) cũng phải thú nhận: “Một trăm phát kiến khoa học của tôi thì đến 99 cái là sai lầm, chỉ một cái là đúng“. Chỉ có các lãnh tụ lãnh tụ cộng sản mới dám nói: “Chủ nghĩa Mác-Lê là bách chiến bách thắng“. Mác được thế giới một thời coi là thiên tài, là bậc thầy lỗi lạc, mà còn nhiều sự nhầm lẫn thảm hại gây hậu quả khôn lường như mô hình búa liềm – liên minh công nông – như khẩu hiệu „Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại“ (Vô sản là không có tài sản, là vô học) Vô học mà liên kết lại thì chỉ có cướp bóc, đập phá, chém giết, chứ làm sao mà tạo ra được những giá trị có tính vĩnh hằng – chân lý. Thưa các vị, tôi là nhà khoa học. Tôi ưa sự chính xác, sự vật thế nào thì nói nó thế ấy. Cho’ Ho` . Nhưng ông cũng là người như chúng ta: có cái sạch có cái bẩn (chỉ có thần thánh mới không phải đi ỉa) nên ông cũng có đúng có sai, có ưu có khuyết., nhưng không vì thế mà không nhìn thấy những sai lầm nguy hiểm của ông để rút kinh nghiệm mà sửa. Bệnh thần thánh hóa lãnh tụ là bệnh của kẻ ngu đần. Tôi nhắc lại, ông Hồ không phải là Thánh. Mà kể cả thánh cũng có thánh thọt. Trong thần thoại Hy Lạp có Uyn Canh là thánh đi cà nhắc. Tài thế đấy (người xưa nhìn thấy vấn đề hơn ta nhiều). Chính ông Hồ Cho’ Minh đã nói: „Chỉ có hai loại người không có khuyết điểm, một là đứa trẻ sơ sinh, hai là người nằm trong quan tài.“ Đảng là một tập thể người như những người khác không thi tuyển, không lựa chọn thì phải có sai lầm, có khuyết điểm. Nhưng điều cực kỳ khó hiểu là hễ ai nói đến sai lầm khuyết điểm của Đảng liền bị qui là chống đối, là phản động nên Đảng có quá nhiều tội lỗi với dân. Bằng chứng là sau hơn nửa thế kỷ Đảng lãnh đạo, dân ta càng ngày càng mờ mịt tối tăm không thấy đường đi lên theo hướng nào nữa. Thì ra chuyện vì dân vì nước là chuyện hoang đường bịp bợm, còn chuyện vì mình là chuyện có thật. Xin đọc một đọan ngắn trong “Bức tranh tổng quát về đất nước Việt Nam“ của ông Hà Mạnh Khởi: “Vừa qua ở Hà Nội một loại VIP có tên tuổi đua nhau bán nhà: Hoàng Thao Nguyên thứ trưởng Công an bán nhà 73 THĐạo 6000 cây vàng, hai nhà của Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Trân đều là uỷ viên Bộ Chính trị chỉ bán một phần nhà đã 1 vị 39 tỷ, 1 vị 40 tỷ. Rồi Vũ Xuân Chiêm, cái anh Trung tướng hậu cần háo danh này thì bán nhà với giá 7200 cây vàng, còn tụi quan khác bán nhà với giá 10 đến 20 tỷ thì nhiều“ [2]. Các vị thấy đấy, chuyện cống hiến, vì dân là chuyện đùa. Còn chuyện thật 100% là các chuyện vừa kể ở trên. Nên vụ án siêu nghiêm trọng được xét xử thì có cơ làm sụp đổ cơ đồ, vì thế mà hầu như tất cả những người có trách nhiệm đều bưng tai bịt mắt. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải có ý thức về sự bàng quan vô trách nhiệm của mình đã đẩy xã hội Việt Nam đến chỗ nguy kịch, đẩy con cháu chúng ta vào chỗ chết. Nguy kịch đến mức bọn đại phản động leo đến tột đỉnh quyền lực, phá phách đểu cáng đến như vậy mà 14 ủy viên Bộ Chính trị không ai lên tiếng biểu lộ sự đồng tình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh ngoài mấy vị cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu và một số người yêu nước thương dân thực sự như những nhà dân chủ mà chúng ta đã biết. Chúng ta còn một chút tự hào là phẩm chất trí tuệ, là chỉ số thông minh của người Việt. Nhiều kỳ thi quốc tế về toán, lý, tin học, đoàn Việt Nam thường được giải quán quân đồng đội với thành tích tất cả các thành viên của đoàn đều đạt huy chương vàng bạc. Gần đây nhất, kỳ thi tiểu học quốc tế tại Ấn Độ, cả 16 thiếu nhi Việt Nam đều được giải và đoàn Việt Nam được danh hiệu quán quân quốc tế với 12 huy chương vàng, 4 huy chương bạc. Lại vừa rồi, ti vi đưa tin một bé gái 8 tuổi ở Sài gòn thi tốp-phần (kỳ thi tiếng Anh lấy bằng quốc tế) đạt 500 điểm (chị gái của em đạt điểm này ở tuổi 13. Xứng đáng ghi tên vào kỷ lục Ghi-nét). Nhiều, nhiều, nhiều bằng chứng, chứng tỏ trí tuệ Việt Nam đáng tự hào bao nhiêu thì lãnh đạo Việt Nam đáng xấu hổ bấy nhiêu. Kinh Dịch có dạy một câu thật hay “Trí là gốc của Đức“, lãnh đạo Việt Nam vì thiếu trí nên không hiểu được vì sao lại phải sống có đức. Trong khi các đại sư lừng danh thế kỷ đã nhiều lần cảnh báo thảm kịch diệt chủng sẽ xẩy ra vì con người quá tham lam ích kỷ (thất đức). Tuy nhiên xin đừng vội đổ lỗi cho lãnh đạo tồi tệ. Người Pháp có câu châm ngôn rất trí tuệ “nhân dân nào chính phủ ấy” Thực tế cho thấy nhân dân và cán bộ các cấp của ta hầu như vô cảm mũ ni che tai! Đâu rồi các cán bộ cao cấp trong chính phủ, trong quân đội còn lương tâm còn trách nhiệm với cộng đồng hay không mà im hơi lặng tiếng? Thế mới biết các nhà dân chủ kể trên thật anh hùng. Là người Việt Nam có tự trọng, tôi rất xấu hổ khi nghĩ đến Đảng cộng sản Việt Nam, tôi rất mong quí vị đọc kỹ, nhìn thẳng vào mình, vào xã hội mình, rồi nghĩ lại quá trình, rồi tìm cách tháo gỡ để cứu ta, cứu con cháu chúng ta đang bị tai nạn rất nguy hiểm vì qua gần 60 năm xây dựng xã hội mới mà tinh thần dân chúng càng ngày càng sa sút, đặc biệt là luân lý kỷ cương thì đồi bại chưa từng thấy trong suốt bốn ngàn năm lịch sử. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam bây giờ không có lý tưởng. Người ta không còn ước mơ nào khác ngoài việc kiếm tiền. Ở đâu làm gì người ta cũng chỉ nói đến tiền, đến mức đã thành vè „Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là đà hy vọng, là lọng che thân, là cán cân công lý“ Càng xoay xỏa được nhiều tiền, người ta càng ăn chơi trác táng, nào cờ bạc, rượu chè, hút xách, mua bán dâm v.v…xã hội không có đường đi sáng sủa, không có định hướng tốt nên thanh thiếu nhi sống cùn sống mòn và cơ hội. Hầu như họ không đọc sách, không tiếp xúc với những người tử tế mô phạm. Thậm chí họ còn chê ông bà cha mẹ là Khốt Ta Bít [3] thời nay. Cả một xã hội điên lọan và vô văn hóa như vậy làm gì còn có ai nghĩ đến người khác? Xin các vị bớt chút thì giờ vào bệnh viện sẽ thấy tận mắt sự sa đọa mất tính người của số đông thầy thuốc và sự bần cùng đến đau khổ của người dân. Sáng nay tôi vừa vào Bệnh viện mắt TƯ. Bác sĩ X là người mổ mắt tốt nhất ở đây. Bệnh nhân bảo mỗi buổi sáng bác sĩ mổ từ 15 đến 20 ca. Mỗi ca mổ bệnh nhân phải phong bì từ 2 đến 3 trăm ngàn (vị chi khoảng 3 triệu đồng mỗi sáng). Tôi ra đến quầy thuốc cổng viện thấy một bà già ngồi khóc, tôi dừng lại hỏi thăm thì bà nói: “Tôi từ Hà Bắc xuống nhưng không khám được lại phải về ông ạ“. Ngừng một lát bà tiếp: “Là vì tôi thấy bệnh nhân nông thôn đến đây đều lắc đầu nhăn mặt rồi về cả. Ở quê tôi, một mớ rau có 100 đồng mà ở đây thì vài lọ nhỏ mắt bằng đầu ngón tay đã hơn 200 ngàn đồng, ông tính xem là mấy nghìn mớ rau mồ hôi nước mắt? Ở đây đã vậy về nhà thì bọn quan lại địa phương và thầy cô giáo bóp nặn đủ kiểu đóng góp, học thêm… Đảng cộng sản quản lý xã hội và „phục vụ nhân dân“ đủ các loại khuyết tật như vậy mà vẫn có người ca ngợi công lao của Đảng thì không thể hiểu được họ là giống người gì? Cuối cùng tôi muốn nói một điều nghe hơi ngược đời là dù sao cũng phải cảm ơn gian thần Lê Đức Chột, Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, cảm ơn 14 vị Ủy viên Bộ Chính trị “tai mắt“ của dân đã làm ngơ vụ án đại hình này, vì đúng như các bậc Thánh Lão Tử, Khổng Tử đã dạy “trong họa có phúc“. Nếu như không có vụ bê bối cực lớn này thì Đảng cộng sản Việt Nam còn lâu mới chết hẳn. Thôi nhé. Tôi lạy các vị cứ để cho nó chết hẳn chứ đừng nói chuyện chữa Si Đa. Đảng có chết hẳn thì con em mình mới sống được nên không bàn chuyện củng cố xây dựng Đảng nữa. Lạy Trời, lạy Phật, Lạy Chúa tôi! A men! Tội ác chồng chất mà Đảng cộng sảnVN gây ra như trên đã nói, làm cho ta nhớ đến “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi cách đây 7 thế kỷ mà thế sự vẫn còn nóng hổi như bây giờ: “Hút máu mủ sinh linh, quân tham ác miệng răng nhờn béo Đủ công trình thổ mộc, chỗ công tư nhà cửa nguy nga Chốn hương thôn sưu dịch nặng nề Trong xóm làng cửi canh bỏ phế Tát cạn nước đông hải, không rửa sạch tanh hôi Chặt hết trúc Nam Sơn, khó ghi đầy tội ác Thần người đều căm giận Trời đất chẳng dung tha” Tôi, người ký tên dưới đây, nguyên là cán bộ giảng dậy trường Đại học Bách Khoa Sài gòn, bảo vệ luận án tiến sĩ loại xuất sắc tại Liên Xô, có học hàm giáo sư tiến sĩ, từng được giải thưởng lớn ở nước này về phát minh sáng chế. Nhưng buồn thay, nhà nước ta chỉ công nhận bằng tiến sĩ còn học hàm giáo sư thì không. Khi về nước tôi hỏi thì được cơ quan chủ quản trả lời: “Tiêu chuẩn được phong học hàm giáo sư ở nước ta còn có một tiêu chuẩn nữa là phải có bằng chính trị bậc Đại học do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chó Minh cấp. Tôi nghĩ, ở các nước tư bản tiên tiến, khoa học kỹ thuật của họ phát triển đến chóng mặt, nhân dân của họ thật sự văn minh hạnh phúc, chẳng nhẽ tất cả những người làm khoa học để tạo dựng nền văn minh rực rỡ của họ đều phải có bằng chính trị cao cấp ư? Không hiểu sao nhà nước ta lại thực thi một chính sách có quá nhiều nghịch lý như vậy? Đây, xin kể sơ sơ đôi nét về cái nhà nước nhiều bằng chứng dở hơi qua các phương tiện truyền thông: Báo Pháp Luật ngày thứ năm 9/1/2003 đăng tin: “Không có một nước nào trên thế giới mà người dân lại cứ kéo tới nhà riêng các đồng chí lãnh đạo như Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội để khiếu kiện như ở nước ta. Hằng ngày họ tập trung trước cửa nhà Thủ tướng để kêu. Ban đầu họ còn kêu vào ban ngày nhưng rồi lại sợ ban ngày tiếng ô-tô át đi, Thủ tướng không nghe thấy nên sau đó cứ nửa đêm họ lại kêu lên: “Thủ tướng ơi, Thủ tướng ơi!” *** Chủ tịch Trần Đức Lương tại Hội nghị tư pháp toàn quốc: “Các xã huyện giải quyết khiếu nại, tố cáo là chủ yếu”. Chỉ nguyên mỗi câu này đã chứng tỏ sự dốt nát vô trách nhiệm của người đứng đầu một nước. Người ta sẽ hỏi “vậy thì sinh ra Chính quyền tỉnh, cơ quan TƯ để làm gì mà không xử lý các vụ án oan do xã huyện xử sai, áp đặt bắt nạt dân? *** Toàn dân oan trên 61 tỉnh thành xin hỏi ông Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội Tráng A-Pao: 1. Có nơi nào trên thế giới mà ngàn vạn dân oan ở 61 tỉnh thành cả nước laị cùng chung cảnh bị bọn Độc tài – Sói lang – Bạo chúa – Ác ôn – Cướp ngày – Đôị lốt Đảng – Giả danh cách mạng – Mạo danh Đảng và Nhà nước cuớp đi tất cả quyền sống sơ đẳng của người dân lành vô tội không? 2. Có nơi nào trên thế giới mà lãnh đạo tối cao lại Độc ác – Vô trách nhiệm – Chai lì – Trơ trẽn – Bẩn thỉu – Dối trá – Vô liêm sỉ như ở Việt Nam không? 3. Có nơi nào trên thế giới mà dân oan khiếu kiện triền miên hết đời cha đến đời con, chôn vùi tuổi trẻ, vứt bỏ tuổi già … như con thiêu thân lao vào cuộc trường chinh khiếu kiện đến khuynh gia bại sản, phải sống cảnh ăn mày, ăn xin, bữa cơm, bữa cháo, gốc cây, vỉa hè, màn trời chiếu đất như ở Việt Nam không? Thư của đồng bào kêu oan Chắc chắn là ở thế kỷ 21 này không một người dân nào ở các nước phát triển trên thế giới laị một cổ mấy tròng như người dân oan Việt Nam hiện nay. Ấy vậy mà lại còn bị vu oan giáo hoạ, bị nhà cầm quyền khép cho cái tội: “Làm rối an ninh trật tự – Chống người thi hành công vụ – Xúi dục – Kích động – Quấy rầy lãnh đạo” để chuẩn bị cho ra đời một nghị định nguỵ trang bởi một cái tên khá hấp dẫn: “Biện pháp bảo vệ an ninh trật tự nơi công cộng”. Nó chẳng có gì hay ho mới mẻ, thực chất chỉ là một trò hề bịp bợm. Đánh lừa và thách đố dư luận trong ngoài nước nhằm bịt miệng dân oan, trói tay, chặt chân dân khiếu kiện đến cửa quan cầu cứu kêu oan, thể hiện một Nhà nước Độc đoán – Độc quyền – Độc tài phát xít lên tới đỉnh cao. Ngàn vạn dân oan vô tội bị bọn Bạo chúa – Cướp ngày – Đội lốt Đảng – Giả danh Cách mạng – Len lỏi chui rúc trong bộ máy Đảng – Chính quyền các cấp: Đục khoét vơ vét và cướp đi tất cả: Đất đai, nhà cửa, ruộng vườn và quyền sống của con người. *** Báo Tuổi Trẻ Thủ đô số 24 ngày 13/6/2003 đăng bài “Cần xem xét lại kết luận của Thanh tra nhà nước về giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn Dẫu ở Đồng Nai có đoạn “Khi biết được Thanh tra Nhà nước kết luận cho căn nhà 135 Phan Chu trinh mà lực lượng Biệt động thành phố Biên Hoà từ 1972 đến 1975 đã lấy nó làm cơ sở để hoạt động, để chiến đấu đến ngày toàn thắng nay thành nhà của Đại tá An ninh quân đội nguỵ Chu Văn Sáng thì quả thật là chúng tôi không thể hiểu nổi. Sau gần 30 năm cuop đất nước chẳng lẽ thật giả trắng đen lại lộn xộn đến thế hay sao? Tôi không biết các cán bộ Thanh tra khi xác minh căn cứ vào đâu, dựa vào tài liệu gì mà kết luận như vậy? Chúng tôi là những con người đã từng sống, chiến đấu tại địa điểm đó từ khi đất nước chưa giải phóng không thể tin như vậy. Bình luận về vụ này, cựu chiến binh Trần Bá Viết: “Thanh tra Nhà nước và Nhà Chức trách địa phương với công dân Biên Hoà Đồng Nai Nguyễn Văn Dẫu thì ai là KẺ ĂN CƯỚP, còn ai là NGƯỜI BỊ CƯỚP?! Ai phải, ai trái? Ai đúng, ai sai? Kỷ cương phép nước ai đặt? Cán cân công lý ai cầm? Ông Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, ông Chủ tịch Nước Trần Đức Lương, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Phạm Thế Duyệt, Thủ tướng Phan Văn Khải có đau lòng, nhức nhối và xấu hổ không?!? Ai chịu trách nhiệm phải giải quyết việc này xin công khai trên đài trên báo cho dân biết?” Thư Giáo sư Nguyễn Thiện Tâm gửi dân chúng Việt Nam (phần 3)2005.05.16 Sự tùy tiện và ngu xuẩn trong các chủ trương chính sách của Đảng. Nghị quyết Quốc Hội số 49NQ/TVQH do Trường Chinh ký 20.6.1961 cho phép chính phủ bắt giam công dân vào “trại cải tạo” mà không cần có tòa án xét xử trong thời hạn 3 năm và khi hết hạn đó thì chính quyền có thể gia hạn và cứ thế kéo dài vô thời hạn. Trong số nạn nhân đó không chỉ có các người thuộc Đảng phái chống đối sĩ quan và công chức làm việc với Pháp trước đây đã chịu qui phục chính quyền mới mà còn có những trí thức, nhà văn nhà báo giáo sư đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, bất đồng với chính sách của Đảng. Hàng chục vạn người này bị tù đày hầu như vô thời hạn; vợ con bị trù úm đối xử tàn tệ đã phải bỏ mình ở các “trại cải tạo” này. Than ôi, Nghị Quyết 49 này lại được lặp lại một lần nữa 36 năm sau với qui mô rộng lớn hơn, dưới tên gọi là “Nghị Định 31/CP do Võ Văn Kịêt ký ngày 14.4.1997. Cả hai cán bộ lãnh đạo chóp bu này đã ký hai văn bản pháp luật mâu thuẫn với Hiến Pháp Việt Nam (do ngu si, do ẩu và vô trách nhiệm của hai vị chóp bu ăn hại này). Thật là họa vô đơn chí. Chẳng thế mà Olivien Todd, một nhà văn nhà báo Pháp đã từng ủng hộ chế độ HN trước 1975 thì cho rằng Đảng cộng sảnVN đã thiết lập một quốc gia Stalinit nhất thế giới. Thưa các vị, từ trang đầu tôi đã viết, không hiểu sao nhà nước ta lại thực thi một chính sách phát xít và nhiều nghịch lý như vậy? Xin dẫn chứng thêm: Ký họa Tuổi Trẻ Cười ngày 15.6.2004 viết “ký 13 hợp đồng ma để chiếm đọat 7 tỷ hòan thuế, Tổng giám đốc Công ty đồ hộp Hạ Long (chỉ) bị 36 tháng tù treo…! Báo Pháp luật TP HCM ngày 16.7.2004 một số tờ báo lớn của ngành tư pháp đăng bài phỏng vấn nguyên chủ tịch UBNDTP Hoàng Văn Nghiên nói “Tôi chỉ từ một chiếc xe đạp rách thuở hàn vi mà ngày nay vốn liếng “của tôi” đã lên tới 500 triệu Mỹ kim”. Như chúng ta biết, HVNghiên chỉ là con rệp, con muỗi (so với các ông cán bộ chóp bu) mà vốn liếng có tới 500 triệu Mỹ kim thì liệu các ông thực thi chuyện bán mười mấy ngàn km2 đất, biển cho Trung Quốc có tới bao nhiêu tỷ Mỹ kim? (thứ trưởng ngọai giao Lê Công Phụng thú nhận rằng so với hiệp ước Pháp Hoa năm 1897 phía Việt Nam mất hơn 10.000 cây số vuông trong vịnh Bắc bộ” thì báo Nhân Dân ca ngợi “đây là hiệp ước công bằng, rất công bằng”?(!) Đúng là giọng mẹ mìn báo Đảng! Để có thực tế trả lời cho khách quan, xin mời các vị lên Lạng Sơn. Trải qua hàng ngàn năm bắc thuộc các thế hệ vua chúa phong kiến không để ngọai bang cướp đất. Thế mà CQcộng sản đã bán đất cho Tàu. Chứng cứ là Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh không còn nữa! Nghịch lý có quá nhiều không có cách nào kể ra cho hết, xin nêu ra đây lời dạy của Các Mác “Tất cả mọi bi kịch xẩy ra đều do sự ngu dốt”. Dân Việt Nam ta đang hứng chịu quá nhiều bi kịch do con người ngu dốt đẻ ra Chính Sách ngu dốt. Điều lạ nữa là các thế hệ lãnh đạo Việt Nam không cảm thấy mình ngu dốt nên đã tàn phá đất nước này không biết đến bao giờ mới ngóc đầu lên được. Xin các vị tự hỏi: Tại sao chủ nghĩa cộng sản bị toàn thế giới lên án và từ bỏ, mà Việt Nam mình lại cứ phải xã hội chủ nghĩa trong khi nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh như Liên Xô và các nước Đông Âu đều đã sụp đổ? Và như cố anh hùng Trần Độ nói: “Hàng trăm nước trên TG văn minh giàu có hơn ta nhiều mà không phải là nước xã hội chủ nghĩa, làm gì có Đảng lãnh đạo”. Xin thưa lý do thật đơn giản, theo tối kiến vĩ đại của Lê Duẩn là làm chủ tập thể. Làm chủ tập thể là của tập thể (của nhà nước), không ai thực sự làm chủ, tức là kho vàng của toàn xã hội bỏ ngỏ không khóa mạnh ai nấy múc. Chả thế mà Võ Văn Kiệt xây dựng đường cao thế Bắc-Nam chi hàng ngàn ngàn tỷ đồng không cần thông qua quốc hội, các nhà khoa học Việt Nam tầm cỡ quốc tế can ngăn y bỏ ngoài tai. Miễn sao thực hiện bằng được để kiếm. Thất thóat nhiều đến mức không tổng quyết toán chi phí công trình rồi cũng vô can… Đó, hậu quả làm chủ tập thể, tối kiến của Lê Duẩn vô học hại dân, hại nước như vậy không những không ai rút ra bài học kinh nghiệm lại cứ dở giọng đểu “quản lý tập thể, làm chủ tập thể để lừa dân để vơ vét thật nhiều của dân. Những người lãnh đạo ở đất nước chúng ta không hiểu luật nhân quả, họ ra sức vơ vét, tranh thủ hưởng
  8. @ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỐN NẠN MUÔN NĂM: GIÁO SƯ NGUYỄN THIỆN TÂM KỂ TỘI ÁC CỦA ĐẢNG CSVN (TT):

    …hưởng thụ trên xương máu đồng bào mình thì chắc chắn phải trả giá bằng chính đời sống bất hạnh của mình, của con cháu mình. Và vì không hiểu luật nhân quả, BCTrị đồng lõa với tội phạm bao che xã hội đen muốn ỉm vụ án đại hình đi. Tôi gửi kèm theo đây thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (30 Hoàng DIệu, HN), thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh (36 B1 Lý Nam Đế) và lời bình luận của Tiến Sĩ Thanh Giang (có địa chỉ liên hệ dưới bài viết). Xin các vị liên hệ với 3 tác giả trên.
    Tiếp theo đây là chuyện thật như bịa chỉ xảy ra dưới sự thống trị lưu manh của chính quyền cộng sản. Nạn nhân của vụ án đặc biệt đểu cáng này là nhà doanh nghiệp tài ba Trịnh Vĩnh Bình – người Hà Lan gốc Việt. Anh rời Sài Gòn sau giải phóng 1975. Trong quá trình gần 30 năm làm việc thông minh, cật lực, anh đã tích lũy được số tài sản kếch xù [4] mang về nước đầu tư cho quê hương phát triển kinh tế theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ. Nhưng vì xa nhà quá lâu lại mang quốc tịch nước ngoài, anh không có tư cách pháp nhân là chủ đầu tư nên phải dựa vào ba người bạn chí thiết từ ngày còn học phổ thông.
    Cả ba người bạn, thời gian đầu tỏ ra trung thành nên công việc trôi chảy. Nhưng đùng một cái con quỉ tham lam đã khiến cả ba trở mặt kiện anh ra tòa về tội làm ăn bất chính. Vì có sự bàn bạc trước với các cơ quan chức năng đầu não của tỉnh gồm bí thư Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Công an, phó văn phòng Giám đốc Công ty VKR, trưởng phòng an ninh chính trị NCông an. Cả bốn vị “phụ mẫu chi dân” này đồng mưu với ba tên lưu manh đã khởi tố, nên anh bị kết án mười một năm tù.
    May thay, trời có mắt, cùng ngồi tù với anh có Tiến sĩ TQL đương kim Giám đốc một Xí Nghiệp lớn là cố vấn cho Trịnh Vĩnh Bình xây dựng các dự án phát triển kinh tế. Anh là con rể cụ LHH cán bộ cao cấp, đảng viên năm 1930, cụ bà là NTC, nguyên bí thư Đảng ủy, phó Viện trưởng viện HCQG nên ngoài 60 bài báo đăng về vụ này, các cụ đã gửi hàng ngàn đơn thư lên từng Ủy viên Bộ Chính trị, từng Ủy viên TƯ Đảng, từng đại biểu Quốc hội, từng Ủy viên Ban Kiểm tra TƯ, Viện Kiểm sát tối cao và sáu trăm tổng biên tập các đài, các báo.
    Do sức ép quá lớn của dư luận, Bộ Chính trị đã triệu tập một cuộc họp bất thường dưới sự điều khiển của Tổng Bí thư LKP. Trong cuộc họp, uỷ viên Bộ Chính trị DL nói: “Tôi đã đọc kỹ hồ sơ và thu thập thông tin từ các báo, vụ này chắc chắn là bắt oan” và ông nhận là sẽ vào tận nới giải tỏa oan khuất cho VVB. Nhưng buồn thay chỉ sau khi về Hà Nội vài ba hôm ông quay ngóăt 180º rằng, việc bắt Trịnh Vĩnh Bình là đúng người đúng tội.
    Người nhà Trịnh Vĩnh Bình từ cơ quan đặc vụ Sài gòn điện báo ra rằng có 4 nhân vật kể trên: bí thư Tỉnh ủy LVD, Giám đốc Sở Công an CVM, PVP Giám đốc Công ty VKR, trưởng phòng an ninh chính trị Công an đã có mặt tại nhà PTD với một vali tiền và đặc sản quí hiếm để “làm luật” với hai quan lại cao cấp này. Tin mật từ nhóm xã hội đen cho biết tiền mặt tính từ đô la hơn 5 tỷ đồng còn quà thì không thể tính bằng tiền vì nó là vô giá.
    Biết nội tình vụ án quái dị này có người đặt câu hỏi: “Chả nhẽ một doanh nghiệp tài ba và đầy trí tuệ như Trịnh Vĩnh Bình mà không biết được bản chất của cộng sản?”
    Xin thưa, biết đấy, nhưng B phải bỏ ra một đống của kếch xù như vậy để chứng kiến được con người đã biến thành súc vật như thế nào và mua một bài học về sự nhẹ dạ cả tin vào chính quyền cộng sản.
    Điều đặc biệt nữa (mà chỉ xảy ra ở chính quyền cộng sản) là sau khi tuyên án phạt 11 năm tù tòa tuyên bố cho bị cáo tại ngọai để bồi bổ sức khỏe (!) Điều kỳ lạ là tòa chỉ xử Trịnh Vĩnh Bình và vài cán bộ tép riu chứ không hề hỏi tội những tên ăn cướp đầu sỏ LVD, CVM. Hai tên này Đảng đã có lệ là “đá hất lên” và “xử lý nội bộ”. Hai cái lệ tệ hại này cũng chỉ xảy ra ở Việt nam, ở nhà nước Cộng sản bất chấp Pháp luật. Các vị biết không, sau này LVD không những không làm sao mà còn được điều lên làm Phó Viện trưởng Viện Kinh tế TƯ, còn CVM cũng được đá hất lên, làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng an ninh đặc trách Tây Nguyên.
    Trịnh Vĩnh Bình tại ngoại được ít lâu thì công an bố trí cho bay về Hà lan tiếp tục cuộc đời tỵ nạn lần chót với hai bàn tay trắng.
    Tin chót: Về Hà lan một thời gian Trịnh Vĩnh Bình đã khởi tố vụ này lên toà án Quốc tế LaHay.Toà đã thụ lý hồ sơ và theo một nguồn tin chính thức, sẽ xét xử vào ngày 18-5-2005.
    Đã đành đây là nỗi nhục, là vết nhơ không thể tẩy rửa của Cộng sản Việt Nam. Nhưng điều cực kỳ phi lý có thể xảy ra là Việt Nam sẽ phải lấy tiền mồ hôi nước mắt của dân ra bồi thường tới một trăm triệu đô la cho các quan tham, nếu toà chấp thuận lời đề nghị của nguyên đơn. B quả là người giỏi. Vì trước khi toà án Sài Gòn xử, chính quyền đã cho người vào trại giam thảo luận với Bình rằng nếu anh bỏ ra 500.000USD thì sẽ được vô can. Nhưng anh đâu có chịu…
    Thư Giáo sư Nguyễn Thiện Tâm gửi dân chúng Việt Nam (phần 4)2005.05.16 Kính thưa các vị
    Trước khi vào phần kết của bài viết, xin nêu ra đây 2 điều tâm đắc
    (1). Hồ C Minh thường hay nhắc lại câu châm ngôn lừa gạt dân: ”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn thì đừng mang đến cho người)
    – Họ không muốn mất tự do, mất dân quyền, dân chủ, nhưng họ lại bằng mọi cách tước đoạt hết các quyền này của dân.
    – Họ muốn có đầy đủ cơm ăn, áo mặc, được học hành và được chăm sóc thuốc men lúc đau ốm. Nhưng một mặt họ đã phớt lờ những nguyện vọng chính đáng này của dân, mặt khác họ tạo điều kiện cho quan lại nhũng nhiễu cướp bóc dân, bọn xã hội đen hoành hành phi pháp sát hại dân.
    – Họ không muốn bị lừa gạt nhưng họ chuyên lừa gạt dân bằng những mĩ từ huyễn hoặc không tưởng; “Chủ nghĩa Cộng sản là thiên đường của nhân loại”… mặt khác họ ra sức vơ vét làm giầu trên mồ hôi xương máu của dân. Khổ một nỗi Cộng sản lại vô thần. Họ không thể hiểu được rằng cách sống đểu giả của họ đã và đang gây bao hậu hoạ cho bản thân gia đình họ bằng bạo bệnh, bằng tai ương không cách nào tránh được.
    Vượt lên tất cả sự đểu giả này là vụ án chính trị siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và các vấn đề liên quan. Có thể coi là hồi chuông cảnh tỉnh chung cho “uy tín” Cộng sản Việt Nam, chẳng có nơi nào trên trái đất này có được. Vâng, trong lĩnh vực Chính trị của Cộng sản Việt Nam còn có cả Uỷ viên Bộ Chính trị “đểu”, Đại tướng “đểu” & Chủ tịch nước “ đểu” nữa đấy.
    Nhưng điều không thể hiểu được là việc thành lập Tổng Cục II với những việc làm bậy bạ vô biên đã qua hơn hai chục năm (qua gần 4 đại hội Đảng 7,8,9 và trước thềm đại hội 10) mà Bộ Chính trị vẫn im như thóc. Chủ trương của Đảng có lẽ là cứ im đi cho chìm xuống thôi.
    Vì sao vậy? Vì 2 lẽ; một là Bộ Chính trị chẳng sạch sẽ gì. Họ phải im đi vì tay họ đều đã nhúng chàm:
    “Chân mình còn lấm nhom nhem Thì sao cầm đuốc giò xem chân người?”
    Lý do thứ hai sâu xa hơn, ít ai chịu hiểu là luật trời (nhân quả). Cộng sản vô thần & độc ác đã phát động đám dân vô học mất hết tính người: con đấu cha vợ đấu chồng trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo công thương nghiệp, đánh, giết không thương tiếc những đồng chí đồng nghiệp của mình trong vụ án nguỵ tạo Nhân văn Giai phẩm, lại còn mang quân sang đánh Campuchia để thành lập liên bang Đông Dương(!) Phải chăng những tội ác tày đình suốt nửa thế kỷ qua bây giờ phải gặt quả đắng?
    (2). Điều thứ 2 của tôi đối với Hồ là
    Chỉ có hai loại người không có khuyết điểm: ”Một là người ở dạng bào thai, chưa ra đời; hai là người đã nằm trong áo quan”
    Về mặt thế tục, tiền nhân nói vậy là đúng. Nhưng về mặt tâm linh – trí tuệ – thì chưa ổn. Vì, người ở dạng bào thai đã mang sẵn trong mình cái thiện, cái ác từ ông bà cha mẹ y. Còn người đã nằm trong áo quan cũng mang theo tội, phước sinh thời y từng tạo tác.
    Nhưng Hồ lại nói: “Ai sai thì sai chứ Stalin và Mao Trạch Đông quyết không bao giờ sai [5]”.
    Nhà bác học vĩ đại NiuTơn nói “Điều ta biết chỉ là giọt nước. Những điều ta chưa biết là cả một đại dương”.
    Bectơrăng Rutxen nói: ”Khoa học là cái gì đã biết, triết học là cái gì chưa biết. Cái đã biết so với cái chưa biết như hạt cát so với sa mạc”.
    Còn Socrat – nhà triết học lừng danh trước tây lịch – khẳng định quyết liệt hơn ”Điều tôi biết chắc chắn nhất là tôi không biết gì cả”.
    Chủ Nghĩa Xã Hội của Mác đâu có giá trị gì? Qua thực tế cuộc sống ta phải bình tâm xem xét rút ra những bài học thất bại để chúng ta và nhất là con cháu chúng ta còn ngóc đầu lên được.
    Còn như, nếu tự bằng lòng, tự mỗi người chúng ta không ra sức đẩy lùi cái xấu, cái vị kỷ, cái đồi bại ra khỏi ta thì có nghĩa là ta đang giết dần giết mòn con cháu ta vậy.
    Đánh giá về công trạng của Đảng Cộng sản đối với đất nước, Nguyễn Vũ Bình, nguyên là phóng viên tạp chí Cộng sản, nói:
    Được: cái đồi bại
    Mất:
    1, hy sinh bốn năm triệu người va Thương tật cũng khoảng con số đó
    2, Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới
    3, Nền tảng đạo đức bị phá huỷ nghiêm trọng, nếu không nói là mất gần hết. Ngày nay, bế tắc về đường lối còn dẫn đến một hệ quả đau lòng hơn là nó làm cho những nền tảng cơ bản của Xã Hội Việt Nam bị phá vỡ hoàn toàn
    Hơn lúc nào hết, chúng ta phải tỉnh táo nhận ra rằng xã hội chủ nghĩa là một mô hình mang tính ảo tưởng lớn nên thế giới chưa nước nào áp dụng mô hình này mà thành công. Riêng Việt Nam ta có lãnh tụ thiên tai (chứ không phải thiên tài) Lê Duẩn người có “tối kiến” vĩ đại: làm chủ tập thể (nói thẳng ra là cha chung không ai khóc, là kho vàng để ngỏ không khoá mạnh ai nấy cướp. Tất nhiên, kẻ có chức có quyền lớn thì cướp được nhiều nhất) nên hậu quả càng đau lòng khi được tin công bố chính thức “Tổng số nợ của nước ta là 11 tỷ USD “ (mười một ngàn triệu Mỹ Kim)
    Nhưng số thực có thể gần gấp đôi, tức xấp xỉ 20 tỷ Mỹ Kim
    Ai là người phải trả số nợ này thưa các vị, nếu phải chính chúng ta, và con cháu chúng ta?
    Vâng, chỉ đơn cử ra đây việc nợ nước ngoài để từ đó suy ra nào bình quân thu nhập đầu người, nào tăng trưởng kinh tế… đều là chuyện bốc phét bịp bợm xin mở ngoặc để lưu ý mấy số liệu có thật:
    Đài truyền hình Việt Nam tháng trước đưa tin (và cảnh) một huyện ở Thái Bình bỏ hoang hơn 1000ha ruộng Phóng viên truyền hình về tận nơi hỏi thì được dân trả lời:
    – Mỗi nhân khẩu được cấp 1 sào trong 6 tháng trừ các khoản đóng góp và phân bón, thuốc trừ sâu, còn 30.000đ (ba mươi ngàn đồng) trong thời gian 6 tháng tức là mỗi tháng 5000đ tiền công!
    Chúng tôi có dịp thăm Chùa xây dựng ở một huyện miền núi tỉnh Hà Tây (cách Hà nội 50km) khi hỏi về đời sống, được Chủ tịch xã trả lời: bình quân thu nhập của xã 32.000đ/ tháng (gồm ăn, ở, may mặc, học hành, thuốc men, việc hiếu, việc hỷ.) Nên ở xã tôi đồng tiền quí lắm – Biết bao nhiêu công lao mới có một cân cà chua, nhưng chỉ bán được 600đ. Một mớ rau cải to vật non búng ra chỉ bán được 100đ. Gánh củi 7000đ mà phải gánh từ cửa rừng xuống chợ 6km…
    Đài truyền hình Việt Nam đưa tin và hình một bà già đau khổ (ở huyện miền núi Thạch Thành, Thanh Hoá) nói: “Tôi theo tiếng gọi của Đảng lên vùng này làm kinh tế mới. Do khí hậu, do nước độc, ông nhà tôi bị bạo bệnh chết oan, sau đó mấy năm sau cả 2 thằng con trai đều chết lúc các cháu chưa đến tuổi vị thành niên, còn mỗi cháu này tâm thần phải nuôi báo cô. Mà khốn khổ 4 ngày hôm nay 2 mẹ con tôi không còn hạt gạo nào”.
    Dân thì đau khổ như vậy mà cán bộ Đảng thì đập phá, phè phỡn vô trách nhiệm một cách tàn nhẫn, xin đơn cử vài việc báo vừa đăng: Hoàng Văn Nghiên cựu Chủ tịch thành phố Hà nội nguyên Phó Bí thư thành uỷ Hà nội đi chiếc xe Lexus trị giá 5 tỷ đồng bằng 3000 con trâu và còn lạ nữa là thành phố “bán” cho ông ngôi biệt thự 200m2 mặt phố giá 53triệu trong khi giá chính thức là 4000 cây vàng.
    Các vị nghĩ thế nào về người định giá bán và người mua? Còn đây cũng là chuyện có thật. Hoàng tử Anh Tuấn con Trần Đức Lương mua nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo 50 tỷ và bán ngay với giá 60 tỷ. Các vị muốn tìm hiểu thêm xin sang Yên Viên xem vườn sinh thái của con rể Trần Đức Lương rộng thẳng cánh cò bay ở trung tâm thị trấn!. Viết đến đây thì con anh bạn tôi đến chơi. Tôi hỏi:
    -Lâu nay cháu biến đi đâu mất?
    -Cháu được chọn lên quê hương Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh thiết kế sân bay lên thẳng cho nhà ông ấy. Bác biết không, nguyên chuyện mở đường đã mất 150tỷ. Một trăm năm mươi tỷ? Chứ không ư. Một cây số đường bê tông phải chi tới 3 tỷ mà con đường phải hoàn tất dài 50 cây số.
    -Đấy là chưa kể sân bay, chưa kể đường điện cao thế từ dưới xuôi lên qua truông, qua đèo, qua núi cao thung lũng. Vì vậy nên khởi công hai năm nay mà chưa xong bác ạ. Nhiều lúc nghĩ buồn lắm. Dân thì đang sống dưới mức nghèo khổ mà cán bộ thì tiêu tiền như nhặt được ấy. Bác có biết chi phí cho kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên bao nhiêu tỷ đồng không? Và còn một ngàn hai trăm kỳ đài tưởng niệm Hồ cho’ trong cả nước dân phải đóng góp mấy nghìn tỷ đồng không.
    Xin đọc mẩu tin sau đây: Phạm Hùng Phước làm giám đốc Tamexco hơn 10 năm đã làm thất thoát 500 tỷ đồng (tương đương 45 triệu đô la Mỹ) Riêng giám đốc Vietcom Bank Nguyễn Duy Lộ (Hai Lộ) đã duyệt cho vay 16 triệu đô la mà không cần thế chấp. Số tiền Phước làm thất thoát thua bạc, cho gái, bằng số thu 1 năm của 70 huyện đồng bằng. Điều đáng ngạc nhiên là sau khi Phước bị bắt, những người cấp trên của Phước, những người lấy tiền ngân hàng cho Phước vay chẳng ai bị làm sao cả.
    Đảng và nhà nước ta vô trách nhiệm và tồi tàn như vậy đấy nên tôi xin các vị đừng nói chuyện củng cố xây dựng Đảng nữa. Vâng, chỉ có thể xây dựng và củng cố khi nó chưa đến nỗi nào(tức là có mặt ưu mặt khuyết mà mặt ưu là cơ bản, mặt khuyết chưa đến nỗi. Đằng này tình hình đất nước ta như hiện nay chứng tỏ Đảng chẳng có ưu điểm gì vậy mà Đảng vẫn cứ vênh vác ngồi xổm lên dân tộc, nên đã đến lúc phải hất nó xuống).
    Xin đừng phủ nhận ý kiến chính xác trên. Cứ xem T4 vụ án siêu nghiêm trọng đã được các cán bộ cốt cán của Đảng phát hiện từ hai chục năm nay và gần đây nhất các vị đặc đẳng công thần của chế độ lên tiếng hơn 10 tháng nay(tính từ ngày 03/01/2004, thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) mà không một vị Uỷ viên Bộ Chính trị nào lên tiếng biểu đồng tình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Chu Huy Mân với Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Phùng Thế Tài, trung tướng Lê Tự Đồng thì biết thực chất của Cộng sản Việt Nam tồi tệ, nguy hiểm dường nào!
    Tình hình hết sức nguy hiểm như vậy mà Bộ Chính trị muốn ỉm đi không cho các Trung ương uỷ viên biết nên tôi đành phải gửi cho các vị lãnh đạo cao cấp nhất ở 61 tỉnh thành trong cả nước với hy vọng phải lôi bằng được bọn hại dân bán nước ra toà đại hình chịu tội Đây là vấn đề thiên nan vạn nan.
    Có thể nói trong lịch sử Việt Nam 4000 năm trở lại đây chưa có vụ án nào nghiêm trọng bê bối khó giải quyết như hiện nay.
    Phải coi trận đánh này quyết định đến vận mệnh sống còn của đất nước nên cần nhiều người góp sức chung lòng. Hơn lúc nào hết mọi người hãy nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Mọi hiểm hoạ chồng chất đè lên người dân lúc này đều do Đảng gây ra.
    Chừng nào không thực hiện dân chủ đa nguyên, không xoá bỏ điều 4 trong Hiến Pháp thì chừng đó thảm hoạ chẳng những không giảm mà ngày càng tăng lên.
    Đó là đại bi kịch ở đầu thế kỷ 21 này. Độc lập mà dân không có tự do, không có hạnh phúc, và biến thành nô lệ thì độc lập ấy không có nghĩa lý gì.
    Cuộc đọ sức giữa Thiện và Ác đang diễn ra quyết liệt, song Nhân nghĩa sẽ thắng Hung tàn, Trí nhân sẽ thay Cường bạo.
    Tổ quốc Việt nam muôn năm!
    Nguyễn Thiện Tâm >Tái bút:
    Được tin bọn cực đoan họp Đảng Uỷ Quân sự Trung ương mà không mời Bí thư Quân uỷ. Mục đích của cuộc họp là bàn việc khai trừ đại tướng Võ Nguyên Giáp và thượng tướng Nguyễn Nam Khánh vì chúng đoán biết Nông Đức Mạnh không dám tán thành nên không mời y. Chúng liều tới mức này, thể hiện hai ý:
    Một là: Chúng thách thức cả nước
    Hai là: Chúng ngầm tuyên bố đằng sau chúng là các quan thầy Đại Hán, không ai làm gì được chúng. Bộ mặt phản nước hại dân của Lê Đức Anh quá rõ. Nhưng còn xấu xa nguy hiểm hơn là tên chột này đã lôi kéo được cả Bộ Chính trị làm tay sai cho nó qua chuyện bán đất, bán biển và phong hơn một trăm tướng bộ đội và công an (có lẫn cả những tướng cướp như Nguyển Chí Vịnh).
    Cộng sản đồng nghĩa với phản động, mà phản động đến mức « không thể chịu nổi » như Goóc-Ba-Chốp – nguyên tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô cũ – đã phát biểu, nguyên văn như sau: « Mục đích của đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, nhân dân không thể chịu nổi nền chuyên chính. Không có chủ nghĩa cộng sản thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn » [6]
    Quái đản thay, đại hội IX của Đảng cộng sảnVN vẫn ra quyết nghị Kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê (chủ nghĩa cộng sản), và, bây giờ đây, chúng vẫn bẻm mép hô hào kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê. Vì sao vậy?
    Hãy đọc “Bài Ca Bán Đất” dưới đây và xin đặc biệt lưu ý câu cuối…
    Hoan hô Cộng sản Việt nam
    Cuối đời bán cả giang san nước nhà
    Bản Giốc cảnh đẹp của ta
    Nay còn đâu nữa để mà ngắm trông
    Trường Sa mù mịt biển Đông
    Cả Hoàng Sa nữa mất tong còn gì
    Mục Nam quan giữa biên thuỳ
    Nay lùi xa tắp thấy gì nữa đâu
    Ngước lên lệ nhỏ rầu rầu
    Suối Phi Khanh cũng qua cầu người ta
    Mấy nghìn năm thật xót xa
    Trách ai cắt đất để mà vinh thân
    Mặc cho cuộc thế xoay vần
    Cuối đời đầy túi cóc cần chi chi »
    ***
    Điều quan trọng hơn hết là nhận ra rằng toàn dân đã mắc lừa cộng sản nói một đằng làm một nẻo – Miệng Nam mô bụng bồ dao găm (chả là cộng sản thường bịp bợm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và “của dân, do dân, vì dân”) Bản chất xâu xa của cộng sản không thể cải tạo, không mong sửa chữa, đừng hy vọng vào việc chỉnh đốn Đảng như rất nhiều người lầm tưởng (kể cả cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Độ, Trần Văn Giầu, Hoàng Hữu Nhân, Đặng Quốc Bảo và hầu hết lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức).
    Bản chất của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt, Trương Tấn Sang, Nguyễn Hà Phan, Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnhcũng như đám lãnh đạo cộng sản từ trước đến nay (tức kể từ Trần Phú, Hà Huy Tập) vốn thế (tức là bản chất phản bội, bịp bợm, mất nhân cách thậm chí là tay sai cho ngoại bang vài thập kỷ trước như Lê Đức Chột)
    Bọn chóp bu Đảng đã hư hỏng tới mức dị ứng với tất cả những gì là trí tuệ, là lẽ phải, là lương tâm, đạo đức (vì bản chất cộng sản chóp bu là tàn bạo, bịp bợm, tham ác và chúa đểu) Nói cho cùng, với bọn này chỉ còn mỗi biện pháp duy nhất là toàn dân hãy đứng lên, đạp đổ chúng nó xuống bùn đen.
    Luật nhân quả đang diễn ra nhãn tiền. Nhiều lâu đài, sào huyệt của bọn Mafia Việt Nam đã trào máu giữa thanh thiên bạch nhật. Trời không dung, đất không tha bọn cường bạo! Sấm đã rền vang trước khi con người vào xuân Át Dậu.
    Thư này không theo thông lệ từ trước đến nay người ta vẫn viết: Kính gửi Bộ Chính trị; Kính gửi Ban Chấp hành TW Đảng cộng sảnVN; Kính gửi Tổng Bí thư….; Kính gửi Chủ tịch nước…; Kính gửi Chủ tịch Quốc hội….; Kính gửi Thủ tướng…
    Vì tôi thấy rõ viết và gửi như vậy là nhầm địa chỉ. Ai lại thừa hơi đi gửi cho những kẻ vô trách nhiệm, vô lương tâm, vô cảm trước những sự kiện xấu xa nguy hiểm nhất trong suốt cả quá trình lịch sử của Đất nước như hiện nay.
    Vì vậy, như đã trình bày ở đầu thư, tôi xin kính gửi đồng bào trong cả nước, kiều bào Việt nam ở nước ngoài và các vị từng quan tâm đến vận mạng của đất nước mà tôi có dịp may được gặp.
    Kính thư
    Nguyễn Thiện Tâm
    Sài gòn ngày 01 tháng 12 năm 2004

  9. @ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỐN NẠN MUÔN NĂM: (tt)

    Năm 1975, lúc tên già Đào Duy Anh nào đó vào đến Huế, tàn tích của cuộc chiến vẫn còn đó. Đáng kể là những điêu tàn do cộng quân- tức là quân Bắc Việt lẫn VC- gây ra từ Tết Mậu Thân vẫn còn lẩn quất bên cạnh những đổ nát của do chúng gây ra trong chiến cuộc mùa xuân 1975.

    Đó là lúc mà gia đình, thân nhân của hàng vạn nạn nhân bị chúng chôn sống hồi Tết Mậu Thân vẫn chưa kịp lau sạch nước mắt. Mùi tử thi của bao oan hồn và tiếng khóc than của thân nhân họ bốc thấu trời xanh. Tôi tự hỏi sao không thấy thằng già Đào Duy Anh này nhỏ cho họ một giọt lệ, mà lại đi khóc thuơng bọn côn đồ đã nhẫn tâm gieo bao cảnh đau thuơng chết chóc cho họ nhỉ? Thử hỏi các bác, thằng già này có còn chút lương tri nào để được gọi là “con người”?

    Xin lỗi, tôi đ… biết hắn là học “thật” hay học “giả”, nhưng tôi biết hắn đ… đáng để tôi nể nang để gọi bằng cụ.

    Còn cái thằng đặc công này nữa, tao nghe mày kết luận câu này mà tao phát ói: “Thiện không biết, ác không biết, chỉ biết tiền thì rồi xã hội sẽ đi về đâu?”.

    Câu nói này áp dụng cho bè lũ chúng mày thì nó mới đúng, đúng gấp ngàn lần thì có !

    Thằng già Đào Duy Anh nào đó chẳng biết ai thiện ai ác nên mới khóc dấm, khóc dúi vớ vẩn. Mày cũng chả biết thiện ác là gì nên mới đội hắn, đội thằng giặc già hồ chó mao lên đầu mà thờ, có hay ho gì mà mày phải kể lể dài dòng, ma nào nó thèm đọc hở, thằng khốn nạn?

    • Bác Phương Lê nói đúng, bọn CS mà nói chuyện thiện ác, nói chuyện “chỉ biết tiền thì xã hội sẽ về đâu” thì cũng chẳng khác gì Tú bà nói chuyện “tiết hạnh khả phong”
      Với cái bọn vô sỉ này chúng ta chẳng cần phí lời, chỉ cần nhét đủ thứ mà người ta thải ra hàng ngày vào mõm chúng nó

  10. Xin lỗi bạn đọc cho phép tôi được nói lên một câu đang “rất thịnh hành” trong và ngoài nước:Đảng cộng sản cái con cặc!

  11. Dù bài này đăng đã lâu nhưng thấy tên hô khẩu hiệu “đảng cộngsản
    VN.muôn năm” để tuyên truyền bịp bợm nên phải viết vài hàng.
    Sự thật về “chín hầm” đã bị ông Liên Thành (cháu ruột của HT.Thích Tịnh Khiết) vạch mặt toàn là sư giả,sư cs. hay bọn nằm vùng !
    Đọc hết ý kiến thì đúng là không khảo mà xưng “lạy ông,tôi ở bụi này”
    hoạt động cho VC.trong việc lật đổ VNCH.mà chính VC.đã thú nhận.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: