• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

GIÔNG TỐ. VŨ TRỌNG PHỤNG

Năm 2012, bọn Bắc Cộng làm tem thư kỷ niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Ngày 20 Tháng 12, 2012, tôi viết bài này.

Tem Thư VŨ TRỌNG PHỤNG

Tem Thư VŨ TRỌNG PHỤNG

Tôi tởm vì cái trò “Nhổ rồi Liếm” của bọn Bắc Cộng. Trong 20 năm, Nhà Văn Vũ Trọng Phụng bị bon Ðầu Xỏ Cộng Sản bôi bẩn, vu cáo – Anh Già Cộng Sản Hoàng Văn Hoan, người đảng viên CS có tuổi Ðảng cao hơn Hồ Chí Minh – viết một bài dài kết án Nhà Văn Vũ Trọng Phụng chống bọn Stalin, HV Hoan tố cáo “Vũ Trọng Phụng được Mật Thám Pháp chi tiền, cho xe ô tô đưa đón đi hút thuốc phiện.” Vì lời kết tội của Hoàng Văn Hoan, sau năm 1956 tất cả những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm xuất bản, cấm lưu hành ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Ðừng nói gì đến bọn Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan, những tên hèn mạt biết Vũ Trọng Phụng bị kết tội oan mà không dám há mồm nói một tiếng, đến cả những tên Tố Hữu, Trường Chinh cũng câm miệng. Sau khi Lê Duẩn chết,  Chủ Nghĩa Công Sản bị vứt vào hố rác, bọn văn nô Bắc Cộng mới dám móc những tác phẩm của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng trong đáy tủ thời gian quên lãng đưa trở ra ánh sáng. Chúng ca tụng Vũ Trọng Phụng, chúng làm Tem kỷ niệm Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, Và tôi – CTHÐ – người mất nước già sống ở xứ người, người đọc Giông Tố năm Y 12 tuổi, viết bài này.

Tôi đã viết tập “Ðọc Giông Tố Vũ Trọng Phụng 350 trang,” To6i kho6ng có điều kiên để xuất bản tập sách trêm, hôm nay tôi trích vài đoạn trong tập.

Giông Tố. Trích:

Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng văïc..Cánh đồng lúa chín như một tấm thảm vàng. Con đường quan lộ rải nhựa, như một con rắn bóng nhễ nhại, nằm uốn khúc trên tấm thảm ấy. Những làng mạc xa xa hiện ra những nét vẽ thẳng đen sì.

Ðó là vào tháng mười, năm 1930.

Tem Thư PHAN KHÔI

Tem Thư PHAN KHÔI

CTHÐ: Vừa vào truyện, trong 5 dòng đầu của Giông Tố – 5 dòng trên đây – tôi đã thấy có chuyện cần nói:

Ðường quan lộ rải nhựa” là đường do Tây làm, là đường Nhà Nước, một tên khác là “đường thuộc địa: route coloniale.” Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ta gọi là quốc lộ. Ðường quan lộ, quốc lộ, ở đồng bằng chạy thẳng băng chứ không “uốn khúc như con rắn”. Hãy nhớ lại đườøng Số 5 Hà Nội-Hải Phòng, đường Sài Gòn- Ðà Lạt, Sài Gòn-Vũng Tầu, Sài Gòn-Tây Ninh, Sài Gòn-Cần Thơ… Ðường nào cũng thẳng tắp. Tả đường Nhà Nước trải nhựa chạy giữa đồng bằng mà “uốn khúc như con rắn” là không đúng. Nhà văn lớn không viết như thế. Nhà văn lớn viết như thế là viết sai, là kém nhận xét.

Nhiều lần tôi viết: Trường Ðời của Nhà Văn Lê Văn Trương, Giông Tố của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng là hai tác phẩm tiểu thuyết có sức tác động mạnh nhất đến ý muốn viết tiểu thuyết của tôi. Ðọc Trường Ðời, Giông Tố tôi  muốn trở thành người viết tiểu thuyết. Tôi đọc Trường Ðời, Giông Tố những năm 1941, 1942. Từ đó đến năm 1975 tôi không một lần đọc lại hai tiểu thuyết ấy. Năm 2000 ở xứ người, tôi đọc lại Trường Ðời, Giông Tố, tôi thấy trong hai tiểu thuyết ấy có những lỗi – lỗi nhỏ – như chuyện “đường quan lộ uốn khúc như con rắn giữa vùng đồng bằng Bắc Kỳ” như tôi vừa trích.

Và tôi thấy trong tất cả những tiểu thuyết của nước tôi chỉ có một vụ hiếp dâm. Vụ hiếp dâm duy nhất ấy xẩy ra trong Giông Tố:

Giông Tố. Trích:

Vờ tìm ví da trong túi áo, nhà điền chủ mắt vẫn lẳng lơ nhìn chị nhà quê cho mãi đến khi cầm trong tay cái ví rồi mà vẫn không lấy tiền ra vội, lại hỏi:

— Con tính bao nhiêu?

— Bẩm quan chả mấy tí, quan cho mấy xu cũng được ạ.

— Ðược lắm. Con ngoan lắm, để ta thưởng cho nhiều tiền! Con hãy lên xe này để quan đóng cửa không rét quan. Ta đang đếm tiền đây.

Chị nhà quê nhìn đến những đệm da đẹp đẽ, những chỗ kền mạ bóng nhoáng, con búp-bê Nhật hay hay treo ở bên miếng kính, ngọn đèn nhỏ sáng chói lọi trên nóc xe, thấy nó sạch sẽ quá, sang trọng quá, không dám bước lên. Nhưng mà quan đã với ra định đóng cửa xe lại, chị đành liều mà bước lên vậy. Quan đóng cửa đánh sập lại một cái rồi lại hỏi:

— Thế con làm vất vả thế này thì mỗi ngày được bao nhiêu?

— Bẩm chỉ được mỗi ngày sáu xu và hai bát gạo.

— Khổ nhỉ! Thế để quan cho năm đồng con may áo mặc Tết nhé! Ðây này, năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu, mua xã cho chồng.

— Con xin quan lớn, con cảm ơn quan lớn.

— A.. nhưng mà con đã có chồng hay chưa?

Chị nhà quê cúi mặt không đáp, buộc tiền vào thắt lưng xong đứng lên.

— Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi.

— Ấy khoan đã! Mặt con tái đi thế kia, khéo không thì trúng phong rồi đó, để quan lấy cho một tí dầu trong này mà bôi rồi về thì về.

Nhà điền chủ nói xong lấy ở trong túi áo ra một lọ gì nhỏ, để đầu ngón tay vào miệng lọ lắc một cái, rồi qườ tay vào trán chị nhà quê. Chị này cứ để yên và co ro khép đôi đùi lại, kéo cái váy xuống.

…..

— Giời ơi! Con lậy ông, ông buông con ra!

Giọng quan vẫn ngọt ngào:

— Con im, không được cưỡng..

— Giời ơi, lạy ông! Ông đừng làm hại một đời tôi!

— Im ngay. Quan sẽ cho nhiều tiền..

— Bỏ ra! .. Ái…

— Im cho ngoan nào…

— Ối giời đất ơi..! Ối làng nước…

Ngưng trích.

CTHÐ: Tôi thấy Nghị Hách không thể hiếp dâm Thị Mịch trong xe ô tô xuất xưởng năm 1930. Nghị Hách đi xe ô tô của y từ đồn điền về Hà Nội. Xe chết máy giữa đường lúc 8, 9 giờ tối. Nghị Hách thấy một nhóm nông dân gánh rạ đi qua. Cô thôn nữ Thị Mịch đi trong nhóm. Nhìn Thị Mịch, Nghị Hách nổi máu dâm, hỏi mua rạ để sửa xe ô tô. Y đòi Thị Mịch đem rạ đến bên xe, dụ Thị Mịch lên xe, hiếp dâm Thị Mịch trên xe.

Tôi cho chuyện Nghị Hách hiếp Thị Mịch trên xe ô tô là chuyện không thể xẩy ra, vì:

Một: Nghị Hách có vợ nhưng vợ y ở Hải Phòng, không ở đồn điền với y. Nghị Hách có đến bẩy, tám người phụ nữ chuyện phục vụ tình dục cho y. Người đứng đầu nhóm nữ nô này là Thị Kiểm. Thị Kiểm lo đủ thứ linh tinh cho Nghị Hách. Nghị Hách về Hà Nội năm, bẩy ngày tất có Thị Kiểm về cùng. Ðêm ấy nếu có Thị Kiểm ngồi trên xe, Nghị Hách không thể dụ Thị Mịch lên xe.

Hai: Nhà Văn Vũ Trọng Phụng tả cuộc hiếp dâm với những lời yếu sìu. Thị Mịch chỉ í é vài tiếng rồi nằm chịu trận. Mạnh khoẻ như Thị Mịch, Thị chỉ đạp một đạp vào bụng Nghị Hách là Nghị Hách ngã ngửa, ná thở, có khi hộc máu.

Giông Tố có một đoạn làm tôi cảm động. Ðó là đoạn Bố Con Hải Vân-Tú Anh chia tay nhau ở bờ biển. Ðêm qua, khi viết bài này, tôi đọc lại: đoạn truyện Chia Tay, truyện làm tôi trong tuổi già cảm động hơn lần trước tôi đọc nó năm tôi mười tuổi.

Giông Tố. Trích:

Qua tỉnh lỵ Quảng Yên chừng 20 cây số, xe bắt đầu chạy chậm, và cứ thẳng tiến trên con đường thuộc địa đi Tiên Yên. Những luồng gió mạnh mẽ nặng nề và những hạt mưa to ào ào hắt vào bốn bề cửa kính. Lắm lúc qua một chặng đường úng thủy bánh xe lại làm tung lên những cây nước cao ba thước ra hai bên vệ đường. Cơn giông tố phũ phàng bẻ những cành cây mục rồi để rơi dưới mặt đường ngổn ngang. Cả trời đất úng sũng, trắng xóa những nước là nước.

Ngồi bên trong cái xe hơi hòm vun vút nuốt đường, cạnh một ông già kỳ quặc mà mỗi hành vi, ngôn ngữ đều biểu hiện một sự bí mật, lại đã có chứng cớ hiển nhiên là bố mình, Tú Anh thấy mình đương bàng hoàng sống một giấc mộng say sưa.

Chàng đương ngồi ôm đầu trong phòng giấy nghe tiếng mưa gào, gió thét của cảnh trời sầu, đất thảm mà ôn lại tấn kịch ghê gớm dưới Hải Phòng mà tự đặt ra bao nhiêu câu hỏi về người bố đột ngột ấy thì có ba tiếng gõ cửa. Rồi ông già vào với bộ mặt thản nhiên, khó hiểu mà bảo chàng:

“Con ơi, cha đi đây! Con có muốn tiễn biệt cha thì xuống đánh xe đi với cha..”

Ấy thế rồi… cuộc hành trình. Ông già ngồi vào cầm lái xe, và lành nghề như một người đã sống vì nghề lái ô-tô hàng đã vài chục năm rồi vậy. Trong quãng đường dài từ Hà Nội qua Hải Phòng, rồi đi thẳng về mạn Móng Cáy, đà xe chạy cứ thay từ 60 đến 100 cây số một giờ, hai bố con chưa nói được câu nào với nhau. Ðã nhiều lần Tú Anh muốn hỏi, song động cơ nổ ầm ầm, lại thêm mưa gào, gió thét quanh xe, nếu có trò chuyện cũng khó nghe cho hiểu.

Trước mặt có một vệt đen sì… Nhoi lên trên vệt ấy là một cái chòi cao.. Ðồn! Xe dừng chậm ông già thay đèn pha ra đèn cốt để ung dung lẳng lặng qua đồn một cách nghiêm trang, bệ vệ, ý chứng sợ bọn lính gác nghi hoặc gì chăng. Khỏi địa phận của đồn, xe lại phóng nước đại. Ðộ mười phút sau thì trời đất mở ta một vòm bao la, bát ngát, bên trái là đồng ruộng và làng mạc, bên phải là bể, bể với hàng dẫy núi đá và những cồn cát chập chùng. Những cái bóng đen sì có hình thể của những cái roi tiên cắm ngược là những cây phi lao. Dù là giữa đêm khuya, nhờ có ánh sáng của nước mưa, người ta cũng nhìn rõ được những vật ở ngoài cái vòng ánh sáng của đèn xe. Thì ra đã qua khu vực Hạ Long nhiều đường đất lắm.

Tú Anh chưa dám hỏi ông bố định dắt mình đi đến đầu trời, cuối đất nào, thì ông già hãm xe. Cách ba thước trước mặt là một dẫy nhà trong đó có một tòa nhà gạch lối cổ, còn thì là những mái gianh xiêu vẹo. Trông ra xa nữa, một con đường nhỏ dắt đến một dẫy cồn đá, có một cây đa um tùm nhoi lên trên. Dưới cồn đá là bến thuyền có vài chiếc thuyền nhỏ của dân chài lưới. Chung quanh cây đa có vài quán chợ, ý chừng là chợ tôm cá của dân miền duyên hải.

Ông già cho xe quay mũi lại, để lọt hẳn vào vệ đường, rồi bảo Tú Anh bước xuống, đến đấm cửa tòa nhà gạch. Một người đàn ông vặn to đèn lên, ra mở cửa, rồi ba người cùng vào. Ðối với ông già, chủ nhân có vẻ kính cẩn đến nỗi sợ hãi. Tú Anh thấy trên giá áo có bộ quần áo và mũ lính xen-đầm thì cũng hơi ngạc nhiên. Ðã đến lúc chàng phải hỏi:

— Thưa cha, bố con ta biệt nhau ở đây?

Ông già gật đầu:

— Phải. Một giờ đồng hồ nữa thì cha xuống thuyền. Hai giờ đồng hồ nữa thì cha đã lênh đênh giữa mặt biển. Bố con mình chỉ còn có một lúc trò chuyện mà thôi. Mà có lẽ không bao giờ.., không bao giờ cha con ta lại gặp nhau nữa!

Nói đến đây, ông già ngừng lại, nét mặt rầu rĩ, cố giữ hai giọt lệ cho khỏi chẩy xuống đôi má. Lặng lẽ, người chủ nhà lấy ở tủ áo ra, đem lại để trên bàn một bộ quần áo khách, với một gói giấy nhật trình. Gói nhỏ ấy va vào mặt bàn làm một tiếng cạch nặng nề, khiến ông già phải ngửng mặt lên. Ông đứùng dậy, cởi bỏ bộ quần áo vải vàng, lấy bộ quần áo Trung Quốc mặc vào, thì trông đã ra vẻ một ông già Tầu ngay. Ông vừa thay hình, đổi dạng vừa nói:

— Cha đã muốn về ở với con một hôm, song sợ nguy hiểm đành phải để đến phút cuối cùng mới lại tìm con, và mượn xe con đi cho đúng giờ hẹn. Sở dĩ thế là bần cùng. Sáu giờ sáng mai thì cha lên một cù lao nhỏ thuộc Hải Nam. Rồi cha sẽ lên một chiếc tầu nhỏ chở than và đá bọt của khách để đến Hương Cảng. Từ Hương Cảng cha sẽ đường hoàng lên tầu Tây mà về Thượng Hải rồi đi Lữ Thuận thì không còn lo sợ gì nữa. Con là người hay đọc các báo chí, sách vở cực tả, hẳn nghe thế con cũng đủ hiểu cha làm những công việc gì rồi.

Ngoan ngoãn và kính cẩn, sự kiêu căng vì có người bố ấy lộ ra nét mặt, Tú Anh khẽ đáp:

— Vâng.

.. .. ..

Người chủ nhà vội lấy cái áo đi mưa khoác vào rồi đi ngay. Khi gian phòng chỉ còn hai người, Tú Anh khẽ hỏi:

— Người lính xen-đầm này mà lại cũng là..?

Ông già gật đầu và thêm:

— Phải, anh ta chịu trách nhiệm về trình độ tiến hóa của anh em phu mỏ. Từ nay trở đi, cái đảng ấy sẽ kín hơn ngày xưa. Từ nay trở đi sẽ không có những vụ bạo động vô ích.

— Cha về từ bao giờ?

— Ðã hai tháng. Công việc của cha là hòa giải hai đảng, điều đình cho đảng quốc gia hợp nhất với đảng quốc tế mới…, vì phái quốc gia cũ lấy tiền của Ðức với Nhật là hai đế quốc, như vậy thì là sẽ diễn cái trò hề diệt chủng tái nô mà thôi.

Ông già ngừng lại, mở gói giấy nhỏ thì đó là một khẩu súng lục. Ông mở ổ đạn, xem xét máy móc, lại đậy lại, bỏ túi, rồi nói:

— Con có một khối óc không, con có một quả tim không?

Tú Anh đáp:

— Con cũng may mà cũng lại là người biết nghĩ, con cũng có một lý tưởng…

— Quốc gia hay quốc tế?

— Bẩm quốc gia.

Ông bố trừng mắt mắng:

— Ðồ ngu!

Tú Anh cúi đầu chịu qưở, không đáp. Ông bố tiếp:

— Ta không được coi nước Pháp là kẻ thù mà để chịu bàn tay bí mật của phái quân nhân Nhật nó thực hiện cái chương trình Liên Á bằng những khẩu hiệu như “Á Ðông về tay người Á Ðông!” Cái chế độ của nó làm khổ dân ta là chính sách của mấy nhà tư bản vua dầu hỏa, vua mỏ, vua ô tô, vua nhà băng, nhưng đó không phải là toàn thể nước Pháp! Ta có thể hy vọng vào cái nước Pháp bình dân của Rousseau, Danton, Robespierre, Blum, Moutet! Rồi những người ấy sẽ có thế lực làm cho ta đỡ khổ! Mặc dầu bây giờ họ chưa có địa vị gì cả. Ta sẽ không được coi nước Pháp là kẻ thù riêng, trái lại, ta có kẻ thù chung trong bọn đồng chủng của ta, cái phái tọa hưởng kỳ thành vẫn bóc lột cái phái lao động, thí dụ thằng Nghị Hách là một. Nhưng tư tưởng quốc gia của con vừa hẹp hòi, vừa bất đạt. Phân biệt biên thùy với nòi giống là đồ ngu xuẩn, con nên đổi quan niệm đi và nên coi những người Pháp nghèo khổ là bạn thân, và bọn trọc phú A Nam là kẻ tử thù.

……..

Tú Anh ngồi xuống ghế, bưng mặt khóc sì sụt. Người chủ nhà hỏi ông già:

— Bẩm… mọi việc thế là xong cả?

— Xong, việc ta phải quyên tiền cho quỹ đảng cũng xong! Anh có biết bao nhiêu không? Một vạn đồng! Tống tiền như thế mới bõ.

Rồi ông già lôi ở trong áo lót mình ra một đệp giấy bạc một trăm buộc trong dây gai đỏ. Vứt xuống mặt bàn đánh thịch một cái. Tú Anh nhìn lên thì ông già nói:

— Cái giá trị của con đấy! Một vạn đồng đấy con ạ. Cha đã bán con cho lão Nghị rồi. Trong lúc nó còn trù trừ, cha phải dọa nó là nó muốn mất tiền hay thấy con nó bán hết gia tài đã chia cho con nó, rồi đi biệt tăm, biệt tích thì muốn… Thế nó mới chịu nghe theo. Lấy tiền rồi là cha phải ra đi ngay, sợ nó hối hận mà báo Sở Liêm Phóng. Bây giờ thì không còn lo ngại gì nữa rồi. Thế là ta được dịp về thăm cả Tổ quốc, và nhận cả con ta, công tư cùng trọn vẹn.

Người lính trố mắt vì kính phục. Ông già lại cất tiền vào ngực mình. Tú Anh rền rĩ nói:

— Cha ơi… Con muốn đi theo cha lắm. Con không thể sống ở cái đất này nữa. Khi cha làm cho con hiểu cả cái bí mật đời con là khác máu, tanh lòng với lão Nghị, thì con thấy đỡ nhục nhã, nhưng mà… giời ơi, còn mẹ con! Con đau khổ… Không thể..

Tú Anh lại khóc. Ông già nghiêm nghị ưỡn ngực lên, mắng:

— Nam nhi gì mà khóc lóc như đàn bà ấy thế? Phải có can đảm, nên để tâm trí vào lý tưởng của mình thì cái khổ ấy mấy lúc mà quên? Cha đã lấy danh dự mà cam đoan với Nghị Hách rằng con sẽ ăn ở với lão như trước, lẽ nào con lại bán rẻ cái danh dự của cha đi thế! Vả lại xã hội cũng cần có những người như con. Ðã có học thức, nhân phẩm, lại có một lý tưởng mà thờ, con sẽ cố gắng làm những việc hữu ích cho dân chúng trong vòng pháp luật, thì làm gì không trở nên người hữu ích? Con nên quay về sống với xã hội như cũ, coi như trong đời con không có sự gì xẩy ra cả. Như thế là cha bằng lòng lắm rồi. Nếu con cũng như trăm nghìn kẻ khác, có tim, có óc, mà ích kỷ, mà tham sinh, úy tử, mà rồi cứu cánh là một cuộc đời trưởng giả, sống như chó, như lợn, vì kim tiền, vì ái tình, vì vật chất, vì hư danh, thì mới đáng lo cho giống nòi.

— Con xin chôn vào ruột những lời phán bảo của cha.

— Một vài năm nữa, nếu có lệnh cử cha về điều tra nước nhà lần nữa, thì cha sẽ lại đi kiếm con. Mà nếu không thì ắt là một người nào khác. Người ấy sẽ đến tìm con, nói ba câu về cha, thì con sẽ sẵn lòng hy sinh một chút tài sản của Nghị Hách đi, thế là được rồi, thế là cũng theo đuổi cái chí hướng của cha rồi.

— Bao giờ con lại quên được điều ấy.

— Tốt lắm. Cha vất vả lắm, con ạ. Nửa đời người tù tội rồi. Một năm tù ở nước nhà, vì Nghị Hách, ba năm tù ở Phúc Kiến, năm năm tù ở Mãn Châu, chín năm giời trốn tránh, gối đất, nằm sương…

……..

Ngoài đường hình như có tiếng người đi đến. Chủ nhà thổi ngọn đèn tắt phụt, ba người cùng mở cửa nhìn ra. Một chú khách cắm đầu chạy lại. Người chủ nhà reo:

— Thuyền đến đón rồi.

Ông già ra thềm đứng, chú khách trông thấy rõ nhờ một cái chớp nhoáng thì vội dừng lại chào theo kiểu nhà binh. Ông già giới thiệu cho con:

— Anh em đồng chí thuộc chi bộ Phúc Kiến.

Rồi ông đội mũ, khoác cái áo cao-su đen lên vai. Người lính và Tú Anh cũng mặc áo tơi vào, vì giờ xuống thuyền đã đến. Ðoạn ba người theo người khách đi thẳng ra chỗ cồn đá có cây đa.

Một chiếc hải thuyền khổng lồ có hai cánh buồm nâu, bên trên có sáu người khách nữa, đã đỗ ở chỗ có mấy mỏm đá nhỏ. Thấy bọn này, những thủy thủ lẳng lặng chào theo kiểu nhà binh. Ông già dừng chân hỏi lại bằng tiếng Tàu, thì bọn thủy thủ líu lo đáp lại.

Ông già quay lại, dơ tay ra bắt tay con.

Tú Anh quên vũng nước dưới chân, quì xuống hôn hai tay ông bố, gục mặt vào hai bàn tay ông.

Khi thấy bàn tay mình có vài giọt lệ nóng thì Hải Vân kéo Tú Anh đứng lên, hôn hai bên má. Sau cùng, Hải Vân vỗ hai vai con, nói gọn:

— Thôi, ở lại và sống cho can đảm.

Rồi quay đi, nhảy trên những mỏm đá mà xuống chiếc hải thuyền.

Tú Anh đứng ngây ra, mũ cụp xuống mắt, cổ áo tơi che kín cả gáy, có người lính xen-đầm kỳ quái đứng sau lưng trong bộ quần áo thường dân.

Mũi thuyền quay ra khơi. Những làn sóng vỗ vào cồn đá ầm ầm, tiếng vang như núi đổ. Mưa như trút nước. Chiếâc hải thuyền nổi lên, chìm xuống, bập bềnh. Trời và bể trắng xóa như tấm vải trắng mà chiếc thuyền là một chấm đen.

Những luồng điện ngùng ngoằng chốc chốc lại hiện trên vòm trời đánh nhoáng một cái.

Tú Anh vẫn đứng. Nước mưa chui vào cổ chàng, chảy vào lưng chàng. Hai chiếc giày của chàng đã sũng những nước. Nhưng Tú Anh vẫn đứng nhìn.

Ngưng trích Giông Tố.

Tôi mong bạn đọc bài này bạn  là người đã đọc Giông Tố. Nếu bạn chưa đọc Giông Tố, bạn sẽ khó hiểu khi đọc những đoạn truyện Giông Tố trong bài viết này của tôi.

Năm 2012 bọn Bắc Cộng làm Tem Thư Vũ Trọng Phụng. Rất có thể trong những năm tới chúng sẽ làm Tem Thư Phan Khôi.

Cho tới nay – 2012 – Vũ Trọng Phụng là Nhà Văn Việt Nam Thứ Nhất và Duy Nhất có ảnh trên Tem Thư.

Ðọc Giông Tố năm 10 tuổi, lần thứ nhất tôi thấy hai tiếng của bọn Vô Sản: “Ðồng, chí, chi bộ.” Qua những lời ông già Hải Vân nói với Tú Anh về chuyện đảng phái, chính trị, tôi thấy Hải Vân là đảng viên Cộng sản.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: