• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

VIẾT CHO NGƯỜI YÊU

TÌNH YÊU viết Hoa bẩy Chữ; Hoa luôn Dấu Huyền, Dấu Mũ.

sigNhững năm xưa – 1980 – 1990 – khi sống ở Sài Gòn, tôi viết một số bài gửi sang Úc, Pháp Mỹ. Tôi đặt tên cho những bài này là “Viết Cho Người Yêu.”  Những năm ấy tôi không ký tên thật của tôi dưới những bài tôi viết. Tôi ký những tên Hồ Thành Nhân, Yên Ba, Hạ Thu, Ngụy Công Tử và nhiều tên khác, nhiều bút danh đến nay – qua 50 muà lá rụng – tôi không còn nhớ hết. Những năm ấy tôi ký tên dzởm với sự chờ mong là bọn Công An Bảo Vệ Văn Hóa Việt Cộng những bài ấy sẽ không biết tôi là người viết, vì không biết tôi viết chúng sẽ không bắt tôi.

Hôm nay, buổi sáng mùa hạ ở Virginia, nhớ, viết lại chuyện nửa thế kỷ xưa, tôi thấy ngày ấy tôi khờ khạo, tôi ngốc nghếch biết chừng nào. Bọn Công An VC Thành Hồ được bọn người Việt thân VC ở Hoa Kỳ gửi về cho chúng những sách báo của người Việt ở Mỹ. Tất cả những sách báo này đều tố cáo những tội ác bọn Bắc Cộng làm ở Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Bọn Công An Bắc Cộng coi là nguy hiểm những bài do những người ở trong nước – những người sống trong kìm kẹp của chúng – viết kể những tội ác của chúng, gửi ra nước ngoài. Chúng thù nhất là những văn nghệ sĩ Sài Gòn VNCH viết bài tố cáo chúng gửi cho những báo Việt ở hải ngoại. Chúng nghiên cứu những bài viết này. Chúng có những tên nằm vùng quen thuộc với văn phong của những văn nghệ sĩ quốc gia. Chúng đọc và truy ra tác giả ở Sài Gòn không có gì khó lắm.

Năm mươi năm xưa tôi từng viết:

“Viết cho Người Yêu. Anh viết những bài này cho những Người Yêu trên cõi đời này. Anh viết cho Em. Em đọc bài này Em sẽ biết Anh là Ai, và Em là Ai.”

Sang sống ở Kỳ Hoa, tôi nhận được thư của những Nữõ Ðộc Giả Thơm Như Múi Mít của tôi. Có nàng viết:

“Dù anh ký tên gì, đọc bài, em biết ngay người viết là anh.”

Những Nữ Ðộc Giả Thơm Như Múi Mít của tôi nhận ra văn tôi, bọn Công An VC cũng nhận ra văn tôi. Dzễ Ợt.

Năm 1995 tôi lại được viết ở Hoa Kỳ, tôi lấy tên loạt bài của tôi là “Viết ở Rừng Phong.” Tôi muốn tôi sẽ chỉ viết về Tình Yêu, về Thơ Văn. Nhưng rồi tôi bị cuộc sống cuốn tôi vào vòng Dâu Bể, Nhiễu Nhương.

Thơ Thanh Nam:

“Bốn năm đã thấm trò dâu bể,
Một cõi lưu đầy rộn nhiễu nhương.”

Hôm nay tôi mời quí vị đọc một bài Viết ở Rừng Phong về Tình Yêu Vợ Chồng.

Nguyên Chẩn, một trong những nhà thơ Ðường tên tuổi, hàng đầu, người từng viết:

Từ ngày có Thơ không ai vĩ đại bằng Ðỗ Phủ.”

Nguyên Chẩn sinh trưởng trong môt gia đình không hẳn nghèo khổ nhưng cũng không sung túc. Vợ ông là con gái nhà quan, nàng chịu cực khổ với chồng khi chồng nàng hàn vi nhưng nàng vắn số, không sống để hưởng vinh hoa, phú quí cùng chồng khi chồng nàng có vinh hoa, phú quí. Nàng qua đời khi Nguyên Chẩn ba mươi tuổi, còn giữ một chức quan nhỏ. Năm năm sau Nhà Thơ làm Tểû Tướng.

Ngày giỗ vợ Nhà Thơ Tể Tướng làm thơ:

Khiển Bi Hoài

Tạ Công tối thiểu thiên liên nữ
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.
Cố ngã vô y sưu tận khiếp,
Nệ tha cô tửu bạt kim thoa.
Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
Lạc diêp thiêm tân ngưỡng cổ hoè.
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn
Dữ quân doanh diện phục doanh trai.

Tích nhật hý ngôn thân hậu ý,
Kim triêu đô đáo nhãn tiền lai.
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Thượng tưởng cựu tình liên tì bộc,
Dã tằng nhân mộng tống tiền tài.
Thành tri thử hận nhân nhân hữu,
Bần tiện phu thê bách sự ai.

Nhàn tọa bi quân diệc tự bi,
Bách niên đô thị kỷ đa thì.
Ðặng Du vô tử tầm tri mệnh,
Phan Nhạc điệu vong do phí từ.
Ðồng huyệt yểu minh hà sở vọng,
Tha sinh duyên hội cánh nan kỳ.
Duy tương chung dạ trường khai nhãn,
Báo đáp bình sinh vị triển mi.

Dịch nghiã:

Cô con gái út được thương yêu nhất cuả Tạ công. Từ ngày làm vợ chàng hàn sĩ Kiềm Lâu trăm sự đều khổ tâm. Thấy ta không áo nàng tìm vải may áo cho ta trong rương, trong tráp. Thấy ta không rượu nàng cởi thoa vàng. Ðể có đủ bữa ăn nàng cam lòng ăn các thứ rau dại. Cần có củi nấu bếp nàng ngửng trông cây hoè trong sân rụng lá. Nay bổng lộc của ta hơn mười vạn quan tiền. Nhưng ta chỉ có thể cúng giỗ và làm đàn chay siêu độ cho nàng.

Ngày trước chúng ta cứ nói đùa với nhau về những chuyện ngày sau. Bây giờ những chuyện ngày xưa ta nói đùa đều xẩy ra trước mắt. Áo quần của Em đã dần dần đem cho hết. Nhưng những đường kim chỉ Em  để lại vẫn còn, không nỡ tháo ra. Nhớ tình yêu của chúng ta anh thương cả những nô tì từng hầu hạ Em. Nhân mộng thấy Em anh đốt tặng Em giấy tiền, vàng mã. Anh vẫn biết nỗi đau tử biệt là nỗi đau chung, nhiều người phải chịu. Anh xót sa vì vợ chồng ta nghèo nên chúng ta phải chịu nhiều cay đắng.

Anh thương Em mà anh cũng thương anh. Ðời sống trong vòng trăm năm chẳng lâu la gì. Ðặng Du không có con mới biết thiên mệnh. Phan Nhạc làm thơ điệu vong cũng chỉ là lời suông. Chung một nấm mồ trong cõi u minh có chi để mà mong ước. Kiếp sau lại gập nhau thật khó mà hò hẹn. Anh chỉ còn biết chong mắt suốt đêm dài. Ðể báo đáp ân tình của Em suốt đời em  không được tươi nét mặt.

o O o

Tạ Công tối thiểu thiên liên nữ.. Tạ Công là Tạ An , nhân vật nổi tiếng đời Tấn. Ở đời Ðường họ Tạ là một trong những dòng họ quí phái, có quyền lực. Nhiều người cho việc được làm rể họ Tạ là một vinh hạnh nên thường dùng danh xưng Tạ Công để gọi nhạc phụ, dùng Tạ gia để gọi nhà vợ hoặc nhà người yêu.

Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.. Kiềm Lâu cao sĩ thời Xuân Thu, rất nghèo và nổi tiếng vì nghèo.

Ðặng Du vô tử tầm tri mệnh… Ðặng Du, người đời Lục triều, chạy loạn, dắt theo con trai và cháu trai. Khi phải chạy gấp hai vợ chồng không thể mang theo cả con và cháu, Ðặng nói với vợ:

“Anh ta đã chết rồi, anh chỉ có một đứa con gửi ta. Ta không thể bỏ con của anh ta được. Ta phải hy sinh con ta. Rồi em lại sinh đứa con khác..”

Vợ khóc mà bỏ con lại, ôm cháu chạy. Về sau Ðặng Du không có con, người đời nói Ông Trời không có mắt, Ông Trời bất công nên mới để cho Ðặng Du phải tuyệt tự.

Phan Nhạc điệu vong do phí từ.. Phan Nhạc, nhà thơ đời Tấn, tên tự là An Nhân nên thường được gọi là Phan An, người đẹp trai, hào hoa, phong nhã, đứng ngang hàng với Tống Ngọc. Người đời có câu: “Ðẹp như Phan An, Tống Ngọc..” Vợ Phan An chết sớm, Thi sĩ làm nhiều bài thơ nhớ thương gọi là Ðiệu Vong. Ở đây Nguyên Chẩn phê phán :

“Những gì nói và làm cho người yêu sau khi người yêu chết đều chẳng có giá trị gì..”

Tô Ðông Pha đời Tống, Tiến sĩ năm 22 tuổi — Ông nhà thơ, nhà phú cự phách này không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu mà là Thuyền Trưởng Bẩy Tầu. Muốn biết chi tiết mời đọc tiểu truyện “ Bẩy cô vợ lẽ “ trong sách Cổ Học Tinh Hoa, tác giả Nguyễn văn Ngọc — Nàng Vương Phất, vợ của Tô Ðông Pha, từ trần năm nàng 27 tuổi. Mười năm sau khi Tô  giữ chức Tri châu ở Mật Châu, Sơn Ðông, xa cách quê hương Tứ Xuyên mấy ngàn dậm, đêm nằm mơ thấy người vợ đã khuất, nhà thơ làm bài Từ:

Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
Bất tư lường,
Tư nan vong.
Thiên lý cô phần,
Vô xứ thoại thê lương,
Túng xử tương phùng ưng bất thức,
Trần mãn diện,
Mấn như sương.

Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
Tiểu hiên song,
Chính sơ trang,
Tương cố vô ngôn,
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
Minh nguyệt dạ,
Ðoản tùng cương.

o O o

Mười năm kẻ sống, người thác cách xa mờ mịt
Anh không còn nghĩ  gì về Em,
Nhưng Anh vẫn không quên Em.
Nấm mồ cô đơn của Em cách xa ngàn dặm
Không có cách nào chúng ta nói được nỗi đau lòng.
Bây giờ nếu gặp nhau chắc Em khó nhận ra Anh
Mặt Anh đầy bụi.. Mặt Anh in hằn những vết roi đời.
Mái tóc Anh trắng như sương,

Ðêm qua trong mộng Anh trở về quê hương,
Anh thấy Em ngồi cạnh cửa sổ bên hiên,
Em đang trang điểm.
Chúng ta nhìn nhau không nói
Chỉ có lệ ngàn hàng.
Anh chỉ biết năm rồi năm ở nơi đứt ruột ấy
Em yên nghỉ dưới đêm trăng sáng
Trên ngọn đồi thông.

o O o

Ngyên Chẩn phê phán:

“Tất cả những lời ta thương khóc người ta yêu sau khi Người đã chết đều chẳng có giá trị gì..”

Có thể Nguyên Chẩn phê phán đúng. Nhưng có còn hơn không. Với tôi, bài thơ Việt Ðiệu Vong — Khóc Vợ — hay nhất, cảm động nhất, nổi tiếng nhất trong nửa cuối Thế Kỷ Hai Mươi có chúng ta sống, yêu, thù hận, đau khổ, sung sướng và chết là bài thơ nhiều người đã biết. Ðó là bài Thơ:

MẦU TÍM HOA SIM

Nàng có ba người anh đi bộ đội,
Những đưá em nàng, có em chưa biết nói.
Khi tóc nàng xanh xanh,
Ngắn chưa đầy búi.
Tôi là người chiến binh xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Ðôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lạí!
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ hiền bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em gái nhỏ hậu phương.
Tôi về không gập nàng,
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối.
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh.
Em ơi ! Giây phút cuối
Không được nghe em nói
Không được nhìn thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng thích hoa sim tím
Áo nàng mầu tím hoa sim
Ngày xưa một mình, đèn khuya, bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa.

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Ðông Bắc
Ðược tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.
Gió sớm thu về, gờn gợn nước sông.
Ðưá em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng trông ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân qua những đồi hoa sim,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.
Mầu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt.
Nhìn áo rách vai, tôi hát trong mầu hoa:
“Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu.”

Nghệ An 1949
HỮU LOAN

Bạn có thể nói:

— Mấy bài thơ anh đưa ra làm chứng rằng tình vợ chồng vẫn có trên cõi đời này đều là những bài thơ mấy ông thi sĩ mần khi bà vợ của mấy ổng đã chết. Có thấy ông nào mần thơ tỏ tình yêu với vợ khi bà vợ còn sốâng nhăn đâu?

Tôi cũng thấy như dzậy nhưng xin thưa như dzầy:

“Khi ta yêu nhau và ta được  chung sống với nhau trong yêu đương và yêu thương — Nói rõ hơn khi ta yêu nhau chăm phần chăm, yêu nhau vảnh cát suya vảnh cát, yêu nhau suốt ngày đêm, ta không cần nói ta yêu nhau – Ðúng thôi. Ta đang yêu nhau, cần gì ta phải nói ta yêu nhau. Nhưng đúng hơn ta phải nói ta yêu nhau cả trong lúc ta đang yêu nhau, ta phải ca tụng Tình Yêu khi ta đang có Tình Yêu, không nên để khi mất Tình Yêu ta mới thương khóc Tình Yêu.”

Khi ta phải xa người ta yêu, ta mới nhớ nàng, ta viết thư cho nàng, khi người ta yêu không còn ở cõi đời này với ta, ta mới khóc nàng.

Bài Thơ của ông Trần Văn Khê:

Người phụ nữ cuối cùng mà tôi đã không được chung sống có lẽ là người tôi lưu luyến nhất. Cô là học trò của tôi rồi trở thành bạn tri âm tri kỷ. Tôi giữ những hình ảnh rất đẹp về cô. Chúng tôi quen nhau ở Hà Nội, rồi xa nhau, rồi gặp nhau, thương mến nhau. Cô nói được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán.

Năm 1977, cô bị bệnh qua đời, tôi cực kỳ đau khổ. Tôi cùng cô chung sống được 100 ngày. Trong ngày lễ tang cô, tôi làm thơ:

Tử sinh dẫu biết luật vô thường
Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương
Những tưởng phượng loan về một tổ
Ðâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường
Ðiếu em chắp bút lau dong lệ
Tiễn bạn ôm đàn dốt nén hương
Cầu nguyện Phật trời mau tế độ
Hồn em siêu thoát đến Tây phương.

Bà vợ ông Trần Văn Hương qua đời. Một năm sau – năm 1934 –  ông tục huyền – ông lấy bà kế – nhớ bà vợ đã khuất, ông làm Thơ:

Vừa mới ngày nào đã đủ năm
Bồi hồi chuyện cũ nghĩ còn căm.
Dặc dài người tưởng bền tơ nhận,
Tráo chác ai hay đứt ruột tằm.
Sao cội đa xưa chưa hết lá,
Mà con đò cũ chẳng còn tăm.
Ôm cầm gượng nối dây uyên lại,
Biết khúc đàn kia lựa có nhằm.

Cao Bá Quát. Bà vợ ông chết năm ông 24 tuổi, ông khóc:

“Ô hô! Nữ vô duyên nhi vi tài tử phụ.
Nam bất hạnh nhi vi hồng ngan phu.
Nhĩ kim nhị thập hũu nhất, nhất triêu thiên cổ.
Ngã kim nhị thập hữu tứ, tứ hải cửu chu.
Y hi. Hồng nhan bạc phận, tài tử vô duyên’ duy ngã dĩ nhĩ hữu thị phù!

Than ôi. Gái vô duyên làm vợ kẻ tài tử.
Trai không may làm chồng khách hồng nhan.
Mình nay hai mươi mốt, một sớm xa vời thiên cổ.
Ta nay hai mươi bốn, bốn bể trôi nổi chín châu.

Hỡi ơi.. Hồng nhan bạc phận, tài tử vô duyên, chỉ có mình với ta như vậy ru?

o O o

Xuân về trên Rừng Phong, những vòm lá phong xanh ngắt.

Phong diệp thiên chi phục vạn chi,
Giang kiều yểm ánh mộ phàm trì.
Ức quân tâm tự Tây giang thủy,
Nhất dạ đông lưu vô yết thì.
Lá phong ngàn cành đến vạn cành,
Bên cầu thấp thoáng cánh buồm xanh.
Nhớ Em như nước Tây giang ấy,
Sớm tối về Ðông vẫn chẩy nhanh.

Hổng phải thơ tôi. Thơ của Nữ thi sĩ Ngư Huyền Cơ đời Ðường, người sống, yêu, mần thơ, và chết trước tôi sỉu sỉu có một ngàn lẻ hai ba trăm mùa lá rụng. Nàng tả cảnh Rừng Phong của nàng, tôi mượn thơ nàng để tả cảnh Rừng Phong của tôi. Như tôi mượn Thơ Nguyên Chẩn, Thơ Tô Ðông Pha, Thơ Hữu Loan để viết về Tình Yêu Vợ Chồng trong thời đại tôi sống, tôi yêu.

Tôi gửi bài Viết cho Người Yêu đến những cặp vợ chồng yêu thương nhau trên cõi đời này. Tôi cũng gửi bài Viết cho Người Yêu đến những cặp vợ chồng trên cõi đời này không yêu thương nhau.

2 Responses

  1. Trích:…”Tôi gửi bài Viết cho Người Yêu đến những cặp vợ chồng yêu thương nhau trên cõi đời này. Tôi cũng gửi bài Viết cho Người Yêu đến những cặp vợ chồng trên cõi đời này không yêu thương nhau.” (ngưng).

    Lúc sống mà không nói một lời yêu thuơng nhau thì lúc chết dẫu có nói vạn lời thì ma nào nó nghe cho?

    Hoan hô tình yêu bất diệt của Bố Già và cô Alice. Mong Bố và cô sống thật đằm thắm bên nhau trong những giây phút còn lại trên cõi đời này.

    Như con đã nói, chuyện sống chết đối với Bố Già chỉ là chuyện vô nghĩa vì TÊN TUỔI BỐ SẼ KHÔNG BAO GIỜ CHẾT !

  2. Tôi xin ngả nón khâm phục Công Tử. Ông đọc tiếng Anh, tiếng Tây, như gió…đã đành ! Nhưng sao ông giỏi Hán văn như thế ! Giá như ông tiết lộ, bằng cách nào ông đã học Hán Văn hay như thế, thì thú vô cùng.
    Bôi phục ! bội phục !!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: