• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

GIỮA LÒNG NGỤC TỐI….

Thấy chúng ta giữa lòng ngục tối
Còn vu vơ kêu gọi Thiên Ðường..!

                                                                                  H.H. Thủy

Trang nhất tờ tuần báo Việt ngữ – Số đặc biệt Ngày 30 Tháng Tư  in hàng tít lớn:

30 Tháng Tư 1975
Ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Bọn trở mặt cầm cờ Giải Phóng đi đón quân cướp nước sáng Ngày 5 Tháng 5, 1975.

Bọn trở mặt cầm cờ Giải Phóng đi đón quân cướp nước sáng Ngày 5 Tháng 5, 1975.

Cuộc chiến Việt Nam — cuộc chiến giũa Tự Do, Dân Chủ và Ðộc Tài Cộng sản — không chấm dứt với Ngày 30 Tháng Tư 1975, nó chỉ thay đổi diện mạo, nó chuyển từ cuộc chiến có những trận đánh đôi bên dàn quân bắn giết nhau sang cuộc chiến âm thầm và bi thảm giữa những người dân một quốc gia tự do bị chiếm đóng và những người xâm lăng áp đặt sự thống trị lên họ. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã thua trong cuộc chiến có quân đội, có vũ khí, nhưng nhân dân VNCH vẫn tiếp tục cuộc chiến tinh thần chống bọn cộng sản xâm lược. Những người dân VNCH không còn quân đội, không còn vũ khí — họ đã bị mất gần như tất cả — nhưng họ vẫn chiến đấu, dù là trong tuyệt vọng, chống lại cộng sản.

Hai mươi năm sau ngày người nữ sinh viên Sài Gòn lên trực thăng bay ra biển, làm một chuyến đi xa quê hương không biết ngày về; từ cô nữ sinh tuổi đời bằng tuổi em Thúy Kiều khi em gặp cậu Kim Trọng ở nghĩa trang Ðạm Tiên, nay là người đàn bà Việt Nam sống ở nước ngoài bốn mươi mùa xuân xanh thắm, nàng vẫn còn muốn biết có những gì đã xẩy đến với người là tác giả mấy bộ tiểu thuyết nàng đọc thời nàng còn trẻ, trong thư nàng viết  cho tôi, nàng hỏi:

– Sau 30 Tháng Tư ông kẹt lại trong nước, ông làm gì, ông nghĩ gì..?

Câu hỏi ngắn thôi nhưng câu trả lời thì trùng trùng, điệp điệp. Câu hỏi của người nữ độc giả gợi lại trong ký ức người viết truyện già nua, cằn cỗi nay sống lưu vong nơi xứ người, cả một trời kỷ niệm. Làm sao tôi trả lời được những tháng ngày u tối đó tôi đã nghĩ những gì, tôi đã làm những gì? Chỉ kể lại những cảnh tôi thấy thôi đã đủ làm tôi ngất ngư con tầu đi…

Chừng mười ngày sau ngày 30 Tháng Tư oan nghiệt, khoảng 10 giờ buổi sáng nắng vàng, tôi đi trên vỉa hè đường Lê Lợi, gập vợ chồng Duyên Anh ở trước của nhà hàng Kim Hoa. Duyên Anh nói:

— Yên trí. Chúng nó sẽ phải dùng mình.

Tôi nghĩ:” Chúng nó có dùng thì chúng nó dùng mày, chắc chúng nó không dùng tao.”

Chuyện xẩy ra là: Chúng nó không dùng một anh văn nghệ sĩ Sài Gòn nào cả. Chúng nó giam tù các anh, chúng nó bỏ đói các anh, chúng nó thản nhiên cho các anh chết.

Chị bán thuốc lá tôi vẫn mua ở trước cửa Tiệm Kem Mai Hương làm tôi cảm động, chị bùi ngùi nhìn tôi:

— Cậu không chạy được à?

Giọng nói và ánh mắt của chị nhìn tôi đầy xót thương. Tôi là khách quen của chị, nhưng chị chỉ biết tôi làm nhà báo, có thể chị không biết tên tôi, vậy mà sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng, khi thấy tôi chị có linh tính biết trước là tôi sẽ khổ, tôi sẽ bị tù, bị tội. Chị thương hại tôi. Hôm ấy tôi mua tất cả số thuốc lá Mỹ còn lại của chị. Ðó là lần cuối cùng tôi mua Lucky Strike, Phillip Morris Vàng, Sir Walter Raleigh ở Sài Gòn.

Những ngày đầu tháng 5, 1975, nhiều người Sài Gòn — trong số có tôi – không ai bảo ai, chạy đi tìm mua cho được một tấm hình ông Hồ chí Minh đem về trưng ở nhà mình. Cứ làm như nhà không có hình Già Hồ là một trọng tội. Không lâu, chỉ một hai năm, dân Sài Gòn không ai bảo ai, đem hình Già Hồ đi “lộng kiếng” hết. Có thể nói ngày nay – những năm 2000 – không còn một nhà dân nào ở Sài Gon có hình Già Hồ.

Trẻ con Sài Gòn – ngay trong Tháng Năm 1975 — hát :

— Như thấy Bác Hồ trong nhà thương Chợ Quán
Bác vừa ra là chúng chém bay đầu…
— Ðêm qua em mơ gặp Bác Hồ
Chân Bác dài Bác đạp xích lô…
— Hồ chí Minh.. ăn gian.. ăn gian.. ăn gian..!

Bọn chiếm đóng cho hát ra rả trên loa phát thanh những bài lạ hoắc với những lời tra tấn người nghe: Tiếng chày trên sóc Bom Bo… Cô gái Pa Cô.. Con gái Bác Hồ… Mùa hoa ly-ki-ma trổ bông… Chi Sáu ơi…. Chị Sáu hỡi…

Trẻ em Sài Gòn hát nhại:

Lấy sà-beng đâp đầu con cá lóc.. Mày ăn đi tao nói cho mày nghe… Ngày hôm qua mày ăn vụng nồi chè…

Cảm giác đang sống trong ác mộng. Gặp nhau ở cà phê vỉa hè, người bạn công chức của tôi nói

— Có những buổi sáng tao dậy, tưởng như chủ nhật không phải đi làm, tắm, bận đồ đàng hoàng, đi ra đường. Ðụng thằng bộ đội tao ngã ngửa, tỉnh lại, thấy là hết rồi…

Và gặp nhau, cả hai người bạn cùng thẫn thờ: “Không đi được à..? Khổ thôi. Khổ thật..” Hỏi nhau về các bạn, thằng nào chạy được, thằng nào kẹt lại. Lê Trọng Nguyễn nói với tôi:

— Lan Ðài nó hỏi mày đi được không, tao nói mày kẹt. Nó kêu: Chời ơi.. Rồi nó sống bằng gì? Tao nói nó sống bằng tình yêu của vợ nó chứ còn bằng gì nữa!

Ðầu tháng Sáu 75 toàn thể sĩ quan, dân biểu, thượng nghị sĩ, thẩm phán, công chức từ trưởng ty trở lên, chính khách, những nhà lãnh đạo các đảng phái chính trị, tất cả xách bị lên đường đi “cải tạo”. Thông cáo của cái gọi là Ban Quân Quản — dân Sài Gòn gọi là Ban Quanh Quẩn — ra lệnh lửng lơ con cá vàng: “Mang theo tiền ăn đủ trong mười ngày..” Cuộc đi, chỉ được nói mơ hồ là mười ngày, với nhiều người, kéo dài đến gần hai mươi năm. Cũng may bọn CS không cho những người bị chúng giam tù biết ngay thời gian họ bị tù đày. Nếu chúng nói:” Anh A tù năm năm, anh B tù mười năm..” sợ có nhiều người không sống nổi đến ngày về.

Chú em con bà Dì tôi là Ðại Úy Pháo Binh, một vợ, ba con. Buổi sáng chú chào tôi để đi trình diện. Tôi chỉ cho chú được có hai bao thuốc điếu Bastos. Mấy năm sau nhớ chú, tôi làm bài thơ:

Ngày em từ biệt anh đi
Anh buồn, anh chẳng có gì cho em.
Tưởng đi vài tháng cho êm
Ai hay biền biệt đã liền ba năm.
Rừng sâu, núi thẳm em nằm
Ðêm đêm chắc mắc tằm vương tơ.
Mẹ già vợ dại, con thơ
Em đau biết đến bao giờ em thôi
Thương em chỉ thấy bồi hồi
Nhớ em chỉ biết nhớ rồi lại thương.
Em đi rừng núi mờ sương
Vững chân cho hết con đường, em ơi.

Cuộc tù đầy lớn bắt đầu. Cả nước VNCH nằm chết trong bàn tay sắt của Cộng sản Bắc Việt. Những tai ương dồn dập đến: Tháng Tám 75 bọn chiếm đóng làm cuộc đổi tiền. Gọi là đổi tiền nhưng thực ra là chúng công khai cướp tiền của nhân dân VNCH. Trời Sài Gòn sầu thảm trong ba ngày..

Theo đúng thông lệ Cộng sản đi tới đâu, đói khổ theo đến đấy. Ðấy không phải là chuyện chỉ xẩy ra ở Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bại trận mà là chuyện đã xẩy ra ở tất cả những thành phố bị quân Cộng sản đánh chiếm. Nón cối, giép râu vào Sài Gòn hôm trước, hôm sau Sài Gòn biến thành một Chợ Trời khổng lồ. Những tiếng đài, đồng hồ hai cửa sổ, đồng hồ không người lái, áo Mông – Montagut – quần bò… xuất hiện cùng với Chợ Trời. Những đau thương, những tơi tả của cuộc đổi rời được bầy ra trên những vỉa hè Sài Gòn

Chợ Trời

Trời chiều đi dạo Chợ Trời,
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui.
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi,
Chợ Trời này những khóc cười bầy ra.
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy,
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa.
Bán đồ toàn những người ta,
Mua đồ thì rặt những ma cùng mường.
Chợ Trời hay Chợ Ðoạn Trường?
Ðầu Âm phủ cuối Thiên đường là đây.

Khi đến nhà bắt tôi lần thứ nhất — năm 1977 — bọn Công An Thành Hồ vớ được tập thơ của tôi trong có bài Chợ Trời trên đây. Ba Trung Huỳnh Bá Thành có đọc bài thơ ấy vì trong lúc thẩm vấn tôi, Y nói:

— Anh gọi chúng tôi là mán, là mường.. Nếu các chú đi bắt anh mỗi chú chỉ đánh anh một cái thôi, giờ này anh cũng nằm chứ không ngồi thế này được.

Vũ Hoàng Chương, nhà thơ lớn của chúng ta, làm bài thơ về những cặp vợ chồng bị ngục tù chia rẽ:

CHÀNG VỀ…

Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Xa nhau nàng vẫn mong chờ,
Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
Ðã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu!
Chữ đồng tạc lấy cho sâu,
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.
Là Nam Bắc, là âm dương?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây?

Một chiều mưa tôi vào Bưu Ðiện Sài Gòn. Ở một ghi-sê  những bà mẹ già, những người vợ trẻ, xếp hàng với những bao thực phẩm, chờ được nhận  gửi đi cho những người bị đi cải tạo. Ngồi buồn với điếu thuốc lá trên môi trên hàng ghế gỗ gầân chỗ cửa ra vào kê bốn cái bàn cho nhân dân viết thư — mặt bàn hoen những vết hồ loang lổ — tôi thấy một nữ lang trạc ba mưôi tuổi, bận sơ-mi trắng dài tay, quần jeans, đi đôi giép gót bằng, cái sắc tay bằng tre đan mầu ngà để cạnh, đang viết thư ở bàn. Có một lúc nàng ngừng viết như để suy nghĩ, để nhớ thương. Tôi ghi hình ảnh nàng trong những lời thơ:

NHỮNG CHIẾC BÀN BƯU ÐIỆN

Em ngồi trong Bưu Ðiện viết thư.
Trời đang mưa, thành phố âm u.
Mặt bàn hoen vết hồ loang lổ
Em buồn mơ nửa phút trầm tư.

Em viết thư cho người tình cũ?
Cho chồng em phiêu bạt giang hồ?
Người bên kia biển? Người ngồi rũ
Trong lao tù? Người sống tự do?

Em viết cho ai? Anh thầm nhủ
Em đã yêu, đã thương người đó.
Người em yêu nay phải xa em
Ðang nhớ em từng sớm, từng đêm.

Anh đến đây ngày tháng ưu phiền,
Thấy bao nhiêu suối lệ triền miên,
Bao nhiêu đau khổ, bao ly tán,
Nhiều nhớ thương, và ít lãng quên
Ðã về trên mặt bàn Bưu Ðiện
Từ thưở trời long, đất ngả nghiêng!

Em thương sầu, em thấy không em
Lệ em rơi bên mặt bàn hoen.
Ai bảo cỏ cây không hiểu chuyện
Này em gỗ đá cũng oan khiên.
Vì em trên giấy nghiêng âu yếm
Nên mặt bàn Bưu Ðiện cũng nghiêng.

Mùa mưa đến. Thành phố đầu hàng càng tang thương. Người có súng trong Nhà thờ Vinh Sơn bắn lại bọn công an ViXi, rồi những tin đồn: “Quân ta trong rừng rất đông. Quân ta sẽ  về chiếm lại đất nước. Quốc tế không tha chúng nó. Chúng nó chạy không kịp. Lần này đất của ta không ngừng ở sông Bến Hải, ta chiếm đến tận sông Gianh. Ta thả cho chúng nó vào bẫy để ta giết chúng nó. Rằn ri xuất hiện ở Cát Lái. Máy bay thả dù tiếp tế ở Dốc Mơ. Trực thăng quân ta bay rền rền từ Thái Lan về Rạch Giá..vv..” Gọng kìm cộng sản cứ xiết chặt. Lúc bẩy giờ một tối chiều mưa, người viết truyện não nùng ngồi trên xe buýt đến chỗ xe ngừng ở đường Phạm Hồng Thái, nhìn xuống khu bóng tối bên đường thấy chị em đứng đầy. Toàn là những phụ nữ lưong thiện trước Tháng Tư nay xuống đường bán thân. Cảnh tượng làm trái tim người nhìn như bị dao cắt:

GIỮA LÒNG NGỤC TỐI

Tôi bước ra
Không thấy phố, không thấy nhà,
Không thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.
Chỉ thấy hồn bay, dù không thấy gió,
Thấy mẹ già trong cửa héo hon.
Tôi thấy em môi nhạt mầu son,
Gốc cây đói đời buồn đứng đợi.
Thấy chúng ta giữa lòng ngục tối
Còn vu vơ kêu gọi Thiên Ðường.
Thấy cuộc đời những xót cùng thương,
Thấy con ta đầu đường, xó chợ.
Tôi  bước ra, không thấy cười, không thấy thở
Chỉ thấy người người nghẹn ngào, nức nở
Vợ thương chồng, con nhớ mong cha.

Muối nào bào dạ xót sa?
Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày?
Khóc trong giấc ngủ nào hay
Tỉnh ra sao thấy gối này đẫm sương?
Anh nghe ở cuối canh trường
Tiếng em khóc tự mười phương vọng về.
Còn em trong mộng trong mê
Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu?
Có nghe trên tóc phai mầu
Lệ anh ướt nửa mái đầu không em?

Cuộc sống cứ tiếp tục.., mặc những đau khổ của con người. Phú-lang-sa có câu: “… Et la vie continue..” Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tiêu vong.. Việc không thể xẩy ra đã xẩy ra: Việt Cộng rước hình Hồ chí Minh vào Dinh Ðộc Lập. Sài Gòn bị đổi tên là Hồ chí Minh. Nhưng những mùa soài, mùa cam, mùa nhãn, mùa cóc, mùa sầu riêng vẫn trở về Sài Gòn. Một buổi sáng trời Sài Gòn nắng vàng mặc dù thành phố đầy cờ đỏ, tôi đứng bên này đường nhìn sang trước chợ Tân Ðịnh nay óng ánh mầu vàng của soài chín, nhớ  người ra đi…

VÙI MỘT CƠN MÊ

Mình anh ăn miếng soài này,
Năm năm soài chín, nhớ ngày em đi.
Phải cùng chăng, tiếc làm chi,
Năm năm soài chín chợ thì vắng em.
Tưởng em xa nước em thèm,
Còn anh soài đỏ, soài đen quản gì!

Chúng ta vùi một cơn mê,
Có bao giờ tỉnh, còn gì là ta!
Hướng dương em có như hoa,
Vườn anh nắng đã chiều tà, em ơi.
Có còn nhau nữa hay thôi?
Yêu nhau ta hãy hẹn lời: Kiếp sau!

 Ði một đường văn nghệ, văn gừng về Nỗi Buồn Tháng Tư để đáp lại hậu tình của người nữ độc giả chắc cũng chẳng có ảnh hưởng gì đến tình hình chính trị thế giới. Hôm nay hồi tưởng, tôi thấy tôi hai lần gọi bọn Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài Gòn của tôi là mán, là mọi trong thơ:

CÙNG ÐƯỜNG HẠNG VŨ…

Mất nhau trong cuộc biển dâu
Hồn anh hoa muộn, lá sầu hoang sơ.
Tim anh quằn quại bóng cờ,
Tai anh mán hú, mọi hờ quanh năm.
Trời bỏ ta ! Khóc đi em..
Em ơi khói lạnh trên thềm đau thương.
Ô Giang vó ngựa ngập ngừng,
Cùng đường Hạng Vũ, đoạn trường Ngu Cơ.
Anh hùng lệ cũng sa mưa
Em ơi lệ ấy bây giờ đang rơi!

Những năm 75, 76, có những đêm tôi khóc trong giấc ngủ, tỉnh dậy thấy mặt gối ẩm ẩm, tôi biết là tôi vừa khóc trong mơ. Nhưng mất nước mà không khóc mới là đáng xấu hổ, Hạng Vũ còn khóc nữa là tôi. Ô Giang vó ngựa ngập ngừng. Cùng đường Hạng Vũ, đoạn trường Ngu Cơ. Khi nguời đàn ông khóc, người đàn bà bị đứt ruột chỉ còn nước chết…

Ôi người nữ độc giả của tôi: bốn mươi năm đã qua từ ngày tôi mất nước, chiều nay Rừng Phong mưa rơi, nhớ lại chuyện xưa, viết lại chuyện xưa, tôi lại thấy tôi đau nỗi đau mới: sau những năm tù đầy bọn mất nước, bọn bại trận chúng tôi lại bị bọn xâm lược, bọn thắng trận cho đi lưu đầy biệt xứ, biệt xứ vĩnh viễn không cho trở lại quê hương, bản quán. Có một số người trong chúng tôi cho việc bị lưu đầy là một cơ may, một hạnh phúc. Tôi chỉ thấy đau tủi.

Cám ơn quí vị đã chịu khó đọc tôi đến dòng chữ này.

4 Responses

  1. Kính Anh,

    Thường thì khi qua tuổi sáu mươi thảy ai cũng có những nỗi buồn vu vơ vô cớ và nhiều khi “nhìn ta thấy miếu đền” (Mai Thảo). Đọc những lời anh viết mà thương “ông anh nhà văn” quá đỗi. Hy vọng rằng đó là trường hợp của anh.

    Nhưng nếu; Trời gọi thì ai cũng phải “yeah” mà đi. Đi thì vui rồi, hết mệt mỏi với cái thể xác đã quá 80 như anh nói, nhưng anh để buồn lại cho hằng triệu độc giả của anh trong đó có MN. Chẳng phải chỉ vì tiếc văn chương của anh không thôi mà tiếc một người đàn ông thật đàn ông trong văn đàn chưa từng biết cúi đầu.

    Hồi anh Duyên Anh còn sống, hai anh em rất hợp ý, anh cũng bảo nếu MN là đàn ông thì nhiều “thằng” nó kiếm cách đánh gục như từng đánh ảnh để bị phải liệt hằng chục năm. Nhưng tiếc quá, anh đi về Tây tháng trước tháng sau anh qua đời, trong cái máy ghi âm của điện thoại ở nhà, còn ghi lại lời của anh ấy nhắn mơ hồ. (chắc trước khi lìa trần anh ấy muốn nói gì …) MN xóa cái tin không rõ ấy đi, và chờ anh ấy gọi lại như thường lệ. Nhưng rồi, anh ấy đã chẳng bao giờ gọi lại nữa, thưa anh! Cái ngày ấy nó buồn lắm, buồn khủng khiếp.

    Nước Việt Nam có bao nhiêu nhà văn tài hoa khí khái? Chắc anh cũng biết rất ít. Thế nên hôm nay đọc những giòng chữ của anh, MN buồn dù chưa bao giờ gặp mặt, hay một lần nói chuyện.

    Mong anh vui sống, để những hộp thơ của MN nhận được những bài viết của anh. Để báo Tiểu Thuyết được chuyển đăng những bài viết như sắt như đá đập vào mặt kẻ thù, đập vào mặt những sinh vật đeo mặt người.

    Lạy Chúa, mong anh bình an

    Kính
    nguyễnthuỵminhngữ

  2. 1945-1975 thời gian quá đủ để biết chắc thế nào là nước mất nhà tan – nhất là mất vào tay vc – ( vc còn dưới mán) ! Thế mà … vẫn để điều đó xẩy ra! Lũ tướng tá ( Minh , Thiệu , Kỳ , Khiêm …) và trí thức đểu, con cái chúng phải trả lời với lịch sử

  3. Kính anh Hoàng Hải Thủy,
    Có lẽ bài viết này của anh mà đăng vào ngày Quốc Hận (kỷ niệm 30/4) thì thích hợp nhất, đúng ko anh?
    Tuy tôi trẻ hơn anh, nhưng nay tôi cũng đã trên 60 rồi ! Đã sống với CS 15 năm (sau 1975) nên tôi hiểu thật sâu, thấm đậm từng câu thơ, đoạn văn của anh … Quả thật nhà văn, nhà thơ có khác người bình thường là do khả năng cảm nhận và diễn tả lại những gì mình quan sát được, mình cảm nhận được về các khoảnh khắc của cuộc đời … Thơ & văn của anh vừa chân thật, cảm động lại vừa thú vị nên dễ làm người đọc rơi lệ. Xin cám ơn anh../.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: