• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Yêu Nhau Vượt Chết

Sáu giờ sáng một ngày mùa thu năm 1977 tôi bị đưa vào Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân Sàigòn của bọn Công An Việt Cộng Thành Hồ. Khi ấy các bạn văn nghệ của tôi bị Việt Cộng bắt giam trước tôi đã bị đưa  sang những nhà tù khác – sang Nhà Tù Lớn Chí Hoà, lên những trại tù khổ sai Xuyên Mộc, Gia Trung- Gia Lai – ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu tôi chỉ còn nhìn thấy anh Nguyễn Mạnh Côn.

Bị đưa vào sà-lim số 15 khu B buổi sáng, buổi chiều ngày tù tội đầu tiên trong đời, ở trần, quần sà-lỏn, đứng nhìn qua ô cửa gió ra ngoài tôi trông thấy anh Côn. Anh ở Phòng Tập Thể số 2 bên kia đường đi, cách sà-lim tôi  chừng 15 thước. Chỉ 15 thước thôi nhưng là ngàn trùng xa cách. Phòng anh có cửa lưới sắt, tôi nhìn thấy anh ngồi trong cửa nhưng tôi chỉ ghé mặt lấp ló ở ô cửa gió nhỏ bằng quyển sách – cửa này ở trên cánh cửa sắt sà-lim để cai tù nhìn vào trong sà-lim, để đưa cơm tù vào sà-lim mà không phải mở cửa, anh em tù gọi ô cửa nhỏ đóng, mở bên ngoài đó là cửa gió, mở nó là có không khí và ánh sáng lọt vào sà-lim – nên anh Côn, cận thị, không nhìn rõ mặt tôi, anh biết có người quen ở sà-lim mà thật lâu sau anh mới biết người đó là tôi.

Tôi xúc động khi nhìn thấy anh Côn trong tù. Trong số anh em văn nghệ sĩ trẻ đàn em thân với anh Côn chỉ có tôi vừa là đàn em vừa là bạn đồng sàng, đồng pờ-la-ti, đồng bàn đọi với anh. Nôm na là chỉ có tôi cùng nằm bàn đèn thuốc phiện với anh. Ðược quen anh từ năm 1960, cho đến năm 1975, trong 15 năm trời chúng tôi đã nằm tình tang hít tô phê với nhau không biết bao nhiêu lần, bao nhiêu giờ bên bàn thờ Cô Ba Phù Dung lung linh yên hỏa, mờ ảo khói hương, chúng tôi đã nói với nhau đủ mọi thứ chuyện, chẳng lần nào chúng tôi ngờ đến chuyện có ngày chúng tôi nhìn thấy nhau trong nhà tù Việt Cộng ở giữa lòng thành phố Sàigòn.

Nhìn thấy anh Côn đang ở trong phòng tù tập thể chỉ cách chỗ tôi nằm mấy bước, tôi ao ước được ra khỏi sà-lim, được sang ở chung phòng với anh. Anh em tôi sẽ nằm khểnh bên nhau, sẽ lại nói với nhau những chuyện trên trời, dưới biển, những ngày tù tội chắc sẽ nhẹ buồn phiền đi nhiều lắm. Ao ước đó của tôi không thành. Một sáng chủ nhật, cai tù mở cửa cho tù nhân những phòng tập thể được ra sân ngồi phơi nắng mỗi phòng chừng nửa giờ, phòng này vào phòng khác ra, qua cửa gió tôi nhìn thấy anh Côn rõ hơn. Anh bận bộ đồ ngủ mầu nâu, nhiều lần đến nhà anh tôi đã thấy anh trong bộ đồ nâu ấy, tóc anh bạc, râu anh bạc, da anh xanh mầu xanh của lá chuối non. Sáng hôm ấy anh ngồi dựa lưng vào tường, tôi nghe rõ tiếng anh – không phải ngâm mà là nói khá lớn – anh nói câu;

_ Chí ta ta biết, lòng ta ta hay..
Nam nhi ý chí như hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây..

Ðấy là hình ảnh cuối cùng của anh Côn tôi nhìn thấy, đấy là câu nói cuối cùng của anh Côn tôi nghe anh nói. Rồi thôi. Không bao giờ nữa tôi còn gặp lại anh, không bao giò tôi còn nghe tiếng anh nói. Một tối khuya những cánh cửa gió sà-lim bị đóng lại phát ra những tiếng lách cách, nằm trên bệ xi-măng tôi nghe bên ngoài có tiếng người lao xao, tiếng gọi tên. Chuyển trại. Những tù nhân bị đưa đi nơi khác bị gọi mang đồ ra khỏi phòng, bị đưa vào một phòng khác để sáng sớm ngày mai lên xe đi. Anh Côn đi khỏi Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu trong đợt chuyển trại đó. Hai năm sau  từ nhà tù Việt Cộng trở về mái nhà xưa lần thứ nhất, tôi được anh em cho biết anh Côn đã chết trên trại tù khổ sai Xuyên Mộc. Ở tù ba năm, anh đòi Cai Tù thả anh về, không được, anh tuyệt thực. Bắt chước thủ đoạn đàn áp cực kỳ man rợ của bọn đàn anh Cai Tù Nga Cộng, Cai Tù Tầu Cộng, bọn Cai Tù Việt Cộng Xuyên Mộc giết người tù chính trị Nguyễn Mạnh Côn bằng cách bắt anh nằm riêng một phòng, không cho anh uống nước. Chúng công khai loan báo cho tù nhân toàn trại biết việc anh Côn tuyệt thực và bị chúng không cho uống nước. Chúng thản nhiên hiu hiu khoái chí nói: “Ðã không chịu ăn, còn đòi uống làm gì..?” Chúng giết một người tù để đe doạ những người tù khác :” Thằng nào muốn chết như thằng này cứ việc tuyệt thực..! Chúng ông sẵn sàng cho chúng mày chết luôn!” Sau khi anh Côn chết, bọn Cai Tù đọc cho các tù nhân nghe bản nhận lỗi và xin được ăn lại mà chúng nói là do anh Côn viết. Cái gì bảo đảm đó là bản nhận lỗi của anh Côn, do chính tay anh Côn viết? Chỉ có những thằng ngu mới tin lời bọn Cai Tù Việt Cộng nói về thái độ của những người tù chính trị chống đối chế độ cộng sản. Nếu anh Côn nhận tội bọn Cai Tù chắc chắn sẽ cho anh ăn uống ngay để anh sống, để chúng  bêu riếu anh, chúng sẽ dùng anh làm nhục tất cả những người tù chính trị khác, bằng cách chúng đưa anh ra nhận tội trước mọi người, chúng sẽ bắt anh quì gối, gục đầu xin chúng tha tội trước các tù nhân bạn của anh. Không đời nào anh còn cầm bút viết được bản nhận tội mà bọn khốn nạn lại để anh chết.

Thời gian qua đi cùng những tù tội, những cái chết thê thảm, tức tưởi, những oán hận, những đau thương..1977-2003..Gần ba mươi mùa lá rụng..Liêu lạc xứ người..Sáng nay tôi thấy thấp thoáng hình ảnh anh Nguyễn Mạnh Côn, đàn anh văn nghệ của tôi, trong bộ đồ nâu bạc mầu, tóc bạc, râu bạc, gầy ốm, mầu da như mầu lá chuối non, ngồi dựa lưng vào tường phòng tù bên lối đi, tôi nghe vẳng tiếng anh nói:

_ Chí ta ta biết. lòng ta ta hay…  

Từ năm 1970 đến ngày ta mất nước, ngoài việc viết bài thường xuyên cho Ðài Phát Thanh Quốc Gia, anh Côn giữ mục bình luận thời sự cho tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, anh đặt tên mục của anh là “Bảy ngày đêm tính quẩn chuyện đời”, ký tên Ðằng Vân Hầu. Trong bài anh viết về một số sự việc xảy ra trong tuần ở trong nước, trên thế giới. Năm 1973, sau Hiệp Ðịnh Paris, người Việt Quốc Gia bắt đầu nói đến chuyện sắp có hoà bình, anh Côn viết tác phẩm “Hoà Bình. Nghĩ gì? Làm gì?” Năm 1995 trong một tiệm sách ở Hoa Kỳ tôi nhìn thấy quyển “Hoà Bình! Nghĩ gì? Làm gì?” được in lại bầy bán. Anh là tác giả một số truyện khoa học giả tưởng, một tên khác là truyện dự tri khoa học, loại truyện gần như không có ở Việt Nam vì không mấy ai viết được, người đọc cũng không thích đọc vì không hiểu. Trong số những truyện ngắn khoa học giả tưởng cuả anh Côn có những truyện nổi tiếng “Ba người lính nhẩy dù lâm nạn, Kỳ Hoa Tử, Ðường nào lên Thiên Thai, Giấc mơ của đá” và đáng kể nhất là truyện “Yêu anh vượt chết”. Truyện “Ba người lính nhẩy dù lâm nạn” được làm thành phim khoảng năm 1970.

Nguyễn Mạnh Côn, ông đàn anh tôi, viết “Yêu anh vượt chết” năm 1965, một truyện dự tri viễn tưởng về việc con người  chế tạo ra con người; như vậy là gần 40 năm trước khi người Tây phương dùng phương pháp “cloning”, sinh sản vô tính, tạo ra con cừu Dolly, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã viết về việc làm ấy.

Truyện “Yêu anh vượt chết” không được in lại ở Hoa Kỳ, tôi không thể nhớ đúng, nhớ hết những chi tiết của truyện, hôm nay tôi xin kể những sự kiện chuyện “Yêu anh vượt chết” tôi còn nhớ trong trí nhớ đã rệu rã vì năm tháng của tôi. Tôi đọc “Yêu anh vượt chết” năm 1965, từ ấy tôi không một lần đọc lại.  Thời gian xẩy ra truyện “Yêu anh vượt chết” là năm 2515. Nữ nhân vật chính cuả truyện là nàng Hoa Thơm Sương Sớm, nàng sống trong toà lâu đài Núi Cao Hơn Núi, người yêu của nàng là chàng phi công vũ trụ Tiếng Ca Lưỡi Kiếm. Họ yêu nhau, họ thành vợ chồng nhưng Lưỡi Kiếm bị chết vì một chứng bệnh mà y học năm 2500 cũng không trị nổi. Hoa Thơm buồn khổ. Ông thân cuả nàng, nhà bác học Sao Ðêm Cô Ðơn, cùng với nhiều nhà bác học bạn của ông thực hiện một công cuộc khoa học, các ông không làm cho chàng phi công Lưỡi Kiếm sống lại mà các ông tạo ra một chàng Lưỡi Kiếm khác. Hoa Thơm được gây mê dài hạn, được đặt nằm ngủ trong một căn phòng có không gian sinh-hoá-chậm, nàng sẽ ngủ một giấc dài 25 năm, sau 25 năm ấy nàng chỉ già đi chừng hai tháng. Các vị bác học tạo ra một cái trứng – không lấy trứng của đàn bà – đặt trứng trong một dạ con nhân tạo, làm cho trứng sinh trưởng thành bào thai, rồi thành hài nhi. Ðưá bé được nuôi trong hòm kính, những đặc tính, những ký ức của chàng phi công Lưỡi Kiếm được truyền vào não bộ hài nhi. Ðưá bé lớn lên, mặt mũi giống hệt Lưỡi Kiếm. Thời gian trôi qua.. Hai mươi nhăm năm sau..Chàng Lưỡi Kiếm Thứ Hai, y hệt chàng Lưỡi Kiếm Thứ Nhất, ra khỏi phòng kính, nàng Hoa Thơm Sương Sớm tỉnh lại sau giấc ngủ dài..Người ta bố trí cho chàng và nàng gặp lại nhau ở bờ Hồ Trong Tâm Hồn, nơi họ gặp nhau lần đầu.

Kết quả cuộc tái ngộ giữa đôi người yêu nhau không đẹp như những nhà bác học tưởng. Gặp lại Lưỡi Kiếm, thay vì sung sướng, Hoa Thơm lại buồn sầu. Tác giả cho nàng chết trong truyệt vọng. Tôi không nhớ tác giả có viết vì sao Hoa Thơm thất vọng hay không.. Hôm nay, liêu lạc xứ người, ở tuổi bẩy mươi gần đất, xa trời, xa người, xa đời, nhớ lại truyện xưa, tôi nghĩ rất có thể Hoa Thơm Sương Sớm tuyệt vọng vì nàng gặp  người thanh niên có mặt mũi, hình dung giống người nàng yêu, giống hệt, nhưng người đó vẫn không phải là người nàng yêu, người nàng muốn được gặp lại..! Như vậy phải chăng tác giả “Yêu anh vượt chết” muốn nói: khoa học có thể tạo ra một người giống hệt một người nào đó, nhưng bản sao, tức người được tạo ra tuy giống nhưng vẫn không phải là người mẫu! Cuối cùng thì khoa học của con người, dù tiến bộ đến mấy, vẫn không thể làm được như thiên nhiên.

Hôm nay nhớ anh Nguyễn Mạnh Côn tôi nghĩ tại sao tôi không viết một bài Viết ở Rừng Phong theo kiểu “Bảy ngày đêm tính quẩn chuyện đời” ? Không viết về một chuyện mà viết về nhiều chuyện nho nhỏ?

Chẳng hạn như:

_ Tại sao ta gọi đồng “franc” của Pháp là đồng “quan”?

_ Cái tên “câu-lạc-bộ” ở đâu ra? Tiếng gì của người Tây phương làm ngôn ngữ ta có tiếng “câu-lạc-bộ”?

Ðây không phải là việc “phơi bầy hiểu biết”. Tôi đã viết nhiều lần: Chữ nghĩa, hiểu biết của tôi đựng không đầy cái lá mít. Từ ngày bánh xe lãng tử sang Kỳ Hoa Ðất Trích tôi không làm việc gì khác ngoài việc đọc và viết, hai việc tôi yêu thích nhất. Thấy trên những trang sách có chuyện gì hay hay, lạ lạ, những chuyện tôi chưa biết, những chuyện đến lúc đọc chúng tôi mới được biết, tôi nghĩ chắc nhiều người cũng không biết như tôi, chắc những người đó khi đọc và biết những chuyện ấy cũng thích thú như tôi, nên tôi ghi chép và hôm nay tôi kể lại ở đây vài chuyện.

Tôi vẫn nghe nói câu “Khoẻ như vâm”, tôi cũng thường nói  ”Khoẻ như vâm”, nhưng tôi không biết “vâm” là con vật gì. Mới đây đọc “Tuyết Xưa” của tác giả Trần Ngọc Ninh tôi mới biết “vâm” là “voi”. “Vâm” tiếng gọi con voi của dân Hà Tĩnh. “Khoẻ như vâm” là “Khoẻ như voi”. Từ bao năm tôi vẫn nghe nói, vẫn nói “luá chiêm, gạo chiêm” nhưng nếu ai hỏi “Tại sao gọi là luá chiêm, gạo chiêm?” tôi không trả lời được. Cũng nhờ ông Trần Ngọc Ninh tôi được biết “lúa chiêm” là lúa của người Chiêm Thành, là giống luá, mùa luá cuả người Chiêm, trồng theo thời vụ và cách thức của người Chiêm. Trước đời Lý nước ta không có lúa chiêm, vụ chiêm; từ đời nhà Lý ông cha ta vào chiếm đất Chiêm Thành mới biết cách và làm theo cách trồng lúa của người Chiêm nên từ đó ta gọi mùa lúa đó là vụ chiêm, thứ gạo đó là gạo chiêm.

Xin viết ngay: những chuyện linh tinh tôi kể ở đây có thể có chuyện không đúng. Tình thật, tôi thấy trên sách thế nào, tôi chép lại như thế, tôi không bịa ra những chuyện này.

Tại sao ta gọi đồng “franc” là đồng “quan?”

Bến Nghé Xưa. Sơn NamMột quan tiền của ta (600 đồng) được người Pháp trị giá ngang với một đồng frăng của họ, vì vậy, đồng  frăng (âm là phật-lăng) gọi là đồng quan.

Tại sao đồng bào ta gọi tem thư là “ cò thư”, dán tem vào thư là “dán cò?” Tiếng “cò thư” chỉ có ở miền Nam. Vì cái tem thư thứ nhất người Pháp phát hành ở Nam kỳ in hình con cò, nên người Nam gọi tem thư là cò thư, dán tem là dán cò. Tiếng “tem” – timbre – ta dùng quá quen, coi như tiếng Việt, như tiếng “đi gác, đứng gác, phiên gác”, từ tiếng garde của Pháp.

Câu-lạc-bộ: Tiếng Club của người Anh, người Tầu phiên âm là “Cơ-lơ-bơ”, ông cha ta bắt chước người Tầu, thành “Câu-lạc-bộ.”

Câu-rút: Trong nhiều sách kinh Thiên Chuá Giáo xưa ta thấy viết “Chuá Cứu Thế chịu nạn trên câu-rút!” Câu-rút là tên phiên âm của tiếng Cross.

Ba gai. Tiếng để gọi những anh lính vô kỷ luật. Ba gai, ba đồ..! Ba gai từ tiếng pagaille của Pháp. Trong “Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam” tác giả Vương Hồng Sển viết “tiếng ba gai có lẽ do tiếng Pháp bagarre”,ø không đúng.

Nhũn như con chi chi: Thành ngữ của  người Bắc kỳ. Cỗ bài tổ tôm, cỗ bài chắn có 120 cây, có chữ Hán và hình người, từ hàng nhất đến hàng cửu, tức từ số một đến số chín. Có năm quân bài số một, quân chi chi là quân bét nhất, kém hạng nhất trong số 5 quân bài hạng bét ấy. Nói “nhũn như con chi chi” là nói thái độ của người biết mình hèn kém.

Gàn bát sách: Cũng tiếng của ngườii Bắc; người Trung, người Nam không biết “gàn bát sách” là cái gì. Cũng trong cỗ bài chắn có cây bát sách. Không biết vì sao người Bắc cho quân bài này là gàn, nên gọi những ông gàn dở trên cõi đời này là những ông gàn bát sách. Người Bắc còn tục lệ bỏ cỗ bài chắn – cỗ bài này cũng dùng để đánh tổ tôm – vào quan tài người chết, để “bọn quân bài theo hầu hạ người chết”, nhưng bỏ cây bài bát sách ra vì sợ “ thằng bát sách này nó gàn, nó làm, nó nói những việc, những chuyện gàn dở làm người chết khó chịu.”

Cây: tiếng dùng thay cho tiếng “lạng”. Mộtä “cây vàng” là một lạng vàng. “Cây” là tiếng lóng, xuất từ ngôn ngữ của giới kỳ bẽo Sàigòn – “Kỳ bẽo”: cờ bịch, cờ bạc – Giới tổ chức những sòng xóc đĩa ở Sàigòn – tất cả là dân Bắc kỳ ri cư – từ khoảng năm 1960 xếp những chồng giấy bạc 50.000 đồng để khách dùng đánh bạc. Mỗi cọc tiền 50.000 đồng, được chằng dây cao su, như thế được gọi là một cây. Sau khi bọn quân đội Bắc Việt Cộng xâm chiếm Sàigòn, phong trào vượt biên tự phát, người cả nước vượt biên. Ðồng tiền Hồ đã không có một xu giá trị nào lại còn mất giá thê thảm, mất giá dài dài, những người tổ chức các cuộc vượt biên không lấy tiền người đi vượt biên mà lấy vàng. Tiếng “cây” được người cả nước dùng. Người có “cây” đi vượt biên, người không có “cây” mơ chuyện vượt biên, ước ao có “cây” để vượt biên; người cả nước vượt biên, cái cột đèn đi được nó cũng đi. Năm 2003  người Việt không còn chung “cây” lên tthuyền vượt biên, tiếng “cây” vẫn được dùng.

Ai là người Việt Nam ở tù lâu năm nhất?

Ta có Nguyễn Chí Thiện bị bọn Bắc Việt Cộng bỏ tù ba lần, cộng thời gian tù là 23 năm, ta có hai ông tù chính trị Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Ðan Quế ông nào cũng bị bọn Bắc Việt Cộng nhốt tù trên dưới 20 năm. Nhưng quán quân ở tù Việt Nam, người Việt Nam tù lâu Vô Ðịch  có lẽ là ông này:

Trưng Kỳ. Truyện nôm cuả Trương Quốc Dụng, quan nhà Nguyễn, có tên đường ở Sàigòn. Trích:

Ông nội tôi là Trãi Hiên tiên sinh không ưa đạo Phật và thuật số. Cuối đời Lê, cụ đỗ hương cống. Cụ hay làm thơ về thời thế, thường có ý vị thương đời.

Cụ không chịu luồn cúi kẻ quyền quí, bị Ðoàn Nam Vương Trịnh Khải bắt giam. Từ trong tù cụ gửi thư ra cho bạn, trong thơ cụ có câu:

Ngày nào Long Phúc đổi
Ngày ấy đón tôi về.

Người ta coi cụ là danh sĩ nên không nỡ hại cụ đến tính mệnh. Ðến khi họ Trịnh bị diệt, cụ mới được tha. Tính ra cụ bị tù  47 năm. Xã tôi tên là Long Phúc. Vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc nên phải đổi là Long Phú.

Như chuyện ông Trương Quốc Dụng viết thì người tù Trãi Hiên Trương Quốc Kỳ có tài tiên tri, ở trong tù mà biết có ngày tên làng mình sẽ đổi, và ngày tên làng mình đổi là ngày mình được tự do. Không thấy ghi rõ ông làm gì, ông chống Chuá Trịnh như thế nào mà ông bị Chuá Trịnh bỏ tù đến 47 năm. Chắc tình trạng tù đầy ngày xưa không đến nỗi man rợ như cảnh tù đầy thời Việt Cộng. Nói là bị tù, rất có thể ông tù Trương Quốc Kỳ chỉ bị Chuá Trịnh ra lệnh quản thúc ở một nơi nào đó, ông vẫn sống thoải mái như ở nhà ông, ông không phải sống trong ngục như những tù phạm thường dân. Nguyễn Huệ đánh ra Thăng Long, Ðoan Nam Vương Trịnh Khải chạy lên Sơn Tây, bị dân bắt nộp cho quân Tây Sơn, Trịnh Khải dùng dao đâm cổ tự vẫn. Nhà Trịnh đến Trịnh Khải là hết.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc…

Nhiều người biết chuyện Tầu con cuốc tên Tầu là Ðỗ Vũ, Vua nước Thục, bị mất ngôi vua, tiếc hận, hoá thành con chim chuyên lủi trong bụi rậm – lủi như cuốc – kêu những tiếng “cuốc, cuốc..”, ít người biết rõ tại sao anh Vua Thục này bị mất ngôi. Chuyện kể anh ngoại tình với vợ một anh cận thần tên là Biệt Linh. Chuyện đổ bể, anh phải nhường ngôi vua cho Biệt Linh. Người xưa coi Vua là nước, ngôi vua là nước, những anh vua mất ngôi được gọi là mất nước. Anh Vua Thục chỉ bị mất ngôi vua, anh đâu có bị mất nước, dù mất ngôi vua anh vẫn sống trong nước anh, anh nhớ ngôi vua của anh, anh đâu có nhớ nước. Anh Vua Thục ở tít tắp bên nước Tầu xa khơi mờ mịt, nếu anh hoá thành con chim cuốc thì chỉ ở nước Tầu của anh có loại chim cuốc ấy thôi, tại sao ở xứ Bắc kỳ Việt Nam cũng có chim cuốc? Hình như xứ Trung kỳ, xứ Nam kỳ không có chim cuốc, cũng không có chim đa đa. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia..!

Chuyện câu đối giữa Ðặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm.

Khi còn hàn vi ở Thăng Long, họ Ðặng làm bài thơ về chuyện vay tiền:

Lẩn thẩn Ðồ Thường đã tới đây.
Có tiền cho giật tạm năm chầy.
Năm chầy không được, ba chầy vậy.
Phiếu mẫu đền ơn cũng có ngày.

Ðồ Thường vào Nam theo Gia Long,năm 1802 được Gia Long cho làm Tổng Trấn Bắc Thành, tức Bắc kỳ. Có tư thù với Ngô Thời Nhiệm, Ðặng Tổng Trấn cho bắt Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy Ích, em rể của Ngô Thời Nhiệm, kết tội “là nho sĩ mà ra làm quan với Nhà Ngụy Tây Sơn,”, nhà Nguyễn Gia Long gọi nhà Nguyễn Tây Sơn là “Ngụy”. Việc kết tội, hành tội là do lệnh của Gia Long. Hai ông Ngô, Phan bị căng nọc ở Văn Miếu đánh đòn vì tội trên. Ông Ngô Thời Nhiệm bị đòn đau, chết sau đó, ông Phan Huy Ích sống sót. Vài năm sau Gia Long Nguyễn Ánh phát động chiến dịch giết hại công thần, vu cho Ðặng Trần Thường  tội phản nghịch, ra lệnh treo cổ Ðặng Trần Thường. Ðồ Thường huynh hoang mấy năm rồi bị giết còn thê thảm hơn Ngô Thời Nhiệm. Thành phố Sàigòn có tên Ngô Thời Nhiệm trên bảng tên đường.

Người đời truyền tụng chuyện họ Ðặng chiến thắng hiu hiu tự đắc ra câu đối:

Ai công hầu, ai khanh tướng? Trong trần ai ai dễ biết ai!

 Người chiến bại Ngô Thời Nhiệm đối:

Thế Chiến quốc, thế Xuân thu! Gặp thời thế thế thời phải thế!

Câu đối tuyệt hay. Tôi nghi trong số người đương thời có người  cảm khái vì chuyện Ngô Thời Nhiệm-Ðặng Trần Thường mà làm ra đôi câu đối đó, không phải do Ðặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm làm. Như nhiều người tôi chỉ biết có đôi câu đối trên của Ðặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Chí Thiện kể cho tôi nghe Ngô Thời Nhiệm, trước khi chết, có để lại một câu nói về số mệnh của họ Ðặng. Câu ấy như sau:

Ai tai Ðặng Trần Thường!
Chân như yến xử đường.
Vị Ương cung cố sự,
Diệc thị nhữ thu trường.

Thương thay Ðặng Trần Thường!
Như con chim én sống nhờ nơi đầu nhà.
Việc cũ xẩy ra ở Cung Vị Uơng.
Cũng sẽ là số phận của ngươi!

Con chim én làm tổ nơi đầu nhà, nhà cháy, chim én bị vạ lây. Ðời Hán, Vua Hán Lưu Bang và vợ giết hại công thần ở Cung Vị Ương, Ðặng Trần Thường rồi cũng sẽ bị giết như những công thần nhà Hán.

Tôi nghi câu trên cũng là do người đời sau đặt ra, không phải do Ngô Thời Nhiệm để lại. Nếu câu đó là của họ Ngô thì ông là người biết trước việc họ Ðặng sẽ bị Gia Long treo cổ, ông biết trước cái chết của người mà ông chẳng biết gì về cái chết, cái sống của ông, ông không biết nhà Nguyễn Tây Sơn chỉ trị nước được có 14 năm, ông không biết đến năm đó ông gặp tai hoạ đến mất mạng. Không có lý!

Ai là người Việt đầu tiên đến Mỹ Quốc?

Ai là người Việt đầu tiên đến Washington D.C, thủ đô Hoa Kỳ? Ai là người Việt thứ nhất được Tổng Thống Hoa Kỳ tiếp kiến ở Bạch Cung? Người Việt Nam đó là ông Bùi Viện, nhà ngoại giao thời Vua Tự Ðức. Ông Bùi Viện được phái ra nước ngoài tìm cách cầu viện những nước Tây phương như Ðức, Anh, Mỹ, yêu cầu họ giúp Việt Nam chống Pháp. Thời xưa ấy các nước Tây phương đang tranh nhau thuộc địa ở Á châu, có nhiều khả năng các chính phủ Anh, Ðức, Hoa Kỳ giúp Việt Nam chống Pháp xâm lăng, để Pháp không một mình làm chủ Việt Nam. Ðược Lãnh Sự Mỹ ở Hương Cảng giới thiệu, Bùi Viện đi đường biển từ Hương Cảng đến Thủ đô Hoa Kỳ năm 1873, ông được Tổng Thống Abraham Lincoln tiếp ở Bạch Cung, nhưng vì ông không có quốc thư, ông không phải là Sứ thần chính thức của Việt Nam nên Tổng Thống Hoa Kỳ không thể thảo luận quốc sự được với ông. Ông trở về nước tâu trình sự việc với nhà vua, lấy quốc thư đi sang Hoa Kỳ lần thứ hai, nhưng khi ông trở lại đất Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị ám sát, Hoa Kỳ đang có nội chiến, Tổng Thống Ulysse Simpson Grant đang phải đối phó với nội chiến, Sứ giả Việt Nam lại trở về nước tay không.

Hai chuyến sang Mỹ của ông Bùi Viện không thu được một lợi ích gì cho nước Việt. Rất có thể năm xưa ấy, năm 1873, chuyến đi biển của ông từ những bến Hương Cảng, Hoành Tân, qua Thái Bình Dương sang Hoa Kỳ phải mất ít nhất là ba tháng; chắc ông đến hải cảng San Francisco, từ San Francisco ông đi xe lửa, hay xe ngựa, sang Washington DC chắc phải mất nửa tháng. Ước chừng vậy thôi, nhưng chuyện ta có thể biết chắc chắn là năm ấy ông Bùi Viện không thể ngờ  một trăm năm mươi năm sau ngày ông đến Mỹ con cháu ông sống đầy trên đất Hoa Kỳ, con cháu ông rầm rộ biểu tình chống Cộng ở Washington DC; từ nước nhà ông đi sang Mỹ vất vả trong ba tháng mới tới, tức 90 ngày, 90 đêm, con cháu ông từ Mỹ về Sàigòn, từ Sàigòn sang Mỹ chỉ trong có một đêm, một ngày. Kông thể biết ông phà7i chi bao nhiêu “cây” cho hai chuyến đi Mỹ của ông, con cháu ông những năm 2000 đi Mỹ, về Sàigòn chỉ mất có ba “cây” cho hai chuyến đi, về.

Hai danh tướng của ta là người ái nam-ái nữ, nôm na là người “lại cái.”: Tướng Lý Thường Kiệt ở đất Bắc, Tướng Lê Văn Duyệt ở miền Nam. Tướng Lý Thường Kiệt bắc đánh Tống, nam bình Chiêm, mất năm 1105, Tướng Lê Văn Duyệt mở mang bờ cõi nước ta ở miền Nam, mất năm 1832. Hai ông Tướng Lại Cái mà uy vũ hơn người, có công lớn với đất nước, được nhân dân kính trọng, thờ cúng. Từ sau Tướng Lại Cái Lê Văn Duyệt quân đội Việt Nam không có thêm ông Tướng Lại Cái nào, chỉ có nhiều anh Tướng lại cái về tinh thần.

Ðồng bào Thượng? Ðồng bào Tầu Chợ Lớn???

Năm 1956 một số người Tầu ở vùng duyên hải Móng Cáy, Hòn Gai, Quảng Yên, dùng thuyền vượt biển vào miền Nam. Nha Báo Chí Bộ Thông Tin, ông Bộ Trưởng Trần Chánh Thành, ra  thông cáo kêu gọi nhân dân giờ ấy, ngày ấy “đến bến Sàigòn chào đón đồng bào Hoa kiều tránh nạn cộng sản, đến đất  tự do..” Thông cáo được đọc trên đài phát thanh quốc gia, được đăng trên các nhật báo. Nhật báo Tự Do phang một bài móc lò nhân viên Bộ Thông Tin dốt, dùng bậy tiếng “đồng bào”: người Tầu không phải là “đồng bào” của người Việt, người Việt không thể coi, không thể gọi người Tầu là “đồng bào” của mình. Nha Báo Chí Bộ Thông Tin phải ra thông cáo nhận lỗi và cải chính.

Hán Việt Từ Ðiển Ðào Duy Anhđồng bào: có nghĩa hẹp, nghĩa rộng. Con chung một lòng cha, một lòng mẹ đẻ ra là nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì trời là cha lớn, mẹ là đất lớn, tất thẩy loài người là con chung một bào thai mà đẻ ra, nên có nói rằng: tứ hải đồng bào, thế giới đồng bào. 

Tôi vẫn nghĩ đồng bào của tôi là những người Việt Nam, những người con Lạc, cháu Hồng, những người có Ông Tổ là Hùng Vương,có ông bố là Lạc Long Quân, có bà mẹ là bà Âu Cơ; tôi vẫn nghĩ những người Thượng không phải là con Lạc, cháu Hồng, họ không phải là đồng bào của tôi. Tôi vẫn quen dùng tiếng “đồng bào” theo nghĩa hẹp.

Có thể vì quê kệch, vì già lão, vì bảo thủ, vì cố chấp, vì không theo kịp trào lưu tư tưởng hiện đại, tôi không thể coi người Tầu Chợ Lớn, người Chàm, người Miên là “đồng bào” của tôi, tôi lại càng không thể mở miệng nói “đồng bào Mỹ của tôi..” Nói thế tôi thấy tôi lố bịch, tôi không biết dùng đúng tiếng mẹ đẻ của tôi.

Tôi thấy nếu dùng tiếng “đồng bào” theo nghĩa rộng: hằm ba lằng síu oắt tất cả mọi người sống lổm ngổm, nhung nhúc, nhong nhóc trên trái đất này đều là “đồng bào” của nhau,”đồng bào” với nhau, tiếng “đồng bào” bị mất cái nghĩa đẹp, cái tính, cái tình thân thương ruột thịt của nó. Và nói thế tôi sợ những “đồng bào Tầu, đồng bào Nhật, đồng bào Mỹ, đồng bào Lèo, đồng bào Cam-pu-chia, đồng bào HMong, đồng bào Công-gô, đồng bào Dzăm-ba-bu-ê..của tôi” sẽ kiện tôi về tội tôi phỉ báng họ, nhục mạ họ!

Ðến đây tạm chấm dứt chương trình của Ban Tùm Lum!

8 Responses

  1. […] – Yêu nhau vượt chết (Hoàng Hải Thủy). […]

  2. […] – Nhà nước độc tài lợi dụng quyền hành đàn áp nhân dân (Chuacuuthe). – Yêu nhau vượt chết (Hoàng Hải Thủy). – Áp lực khi nhà bất đồng ra nước ngoài (BBC). “Ông Toàn […]

  3. Cám ơn ban tùm lum về tùm lum thông tin hay ho

  4. Nhiệm , Ích , Thường cùng học một thầy . Năm có khoa thi thầy bảo : ” trò Nhiêm lần này mang trạng còn Ích mang phó về cho thầy ” . Thường hỏi :” còn con ?!” thầy không nói gì . Khóa đó Nhiệm đỗ trạng nguyên , Ích đỗ bảng nhỡn , Thường không đạt được gì , buồn, vào Nam phò Nguyễn Ánh .Gia Long dẹp xong loạn Tây sơn cho Thường làm quan , về Bắc xử những kẻ theo phò bọn Tây sơn . Trong phiên giải Nhiệm và Ích , Thường hỏi ” Ai công hầu ai khanh tướng , trên trần ai ai dễ thắng ai ” Nhậm trả lời :” Thế chiến quốc thế xuân thu , gặp thời thế thế thì cứ thế ” Ích thầm ngăn …thế thì phải thế … Nhưng Thường đã nghe thấy và phóng lao đâm chết Nhiệm . Gia Long thấy Thường ác độc nên sau cũng loại trừ !. Lịch sử người Việt không có ” ba người ngự lâm pháo thủ ” không có ba người bạn như thiền sư Suzuki …!.

    • @tô huy cơ
      Cuối đời nhà Lê, nhà Trịnh và Nguyễn tranh giành quyền bính làm người dân lầm than khổ sở. Loạn kiêu binh nhà Trịnh và sự chuyên quyền của bọn Trương phúc Loan càng làm người dân phẫn uất. Nhà Tây Sơn nổi lên là đúng mong ước của người dân. Trong mấy năm dẹp nhà Trịnh, đánh bạt nhà Nguyễn, đánh tan quân xâm lăng Xiêm La và nhà Thanh. Công lao của nhà Tây Sơn và đặc biệt anh hùng Nguyễn Huệ không thể chối cãi. Đó là một triều đại chính thống như các triều đại nhà Trần, nhà Hậu Lê. Ông không nên có lời lẽ bất kính với nhà Tây Sơn.

  5. Chào bác Tây độc mạnh giỏi.
    Bác chấp làm gì người cõi trên,sống,học tập(nhồi sọ) dưới mái trường xh cướp ngày.Đối với bậc cõi trên chỉ có booc hù và đẻng cướp sạch(cs) là chính thống ,là top of đờ nai ,còn ngoài ra đều nà ngụy tất. Ngẫm nghĩ nếu không có bọn ngụy Tây Sơn đánh tan tành CON CHÁU CỦA TÔ định(sầm nghi đống,hứa thế hanh đều tử trận…) thì bây giờ hổng chừng tui mí bác đều có cái đuôi sam…với đời, gặp nhau cứ nị ngộ loạn cả lên. Mới nghĩ đến đó mà nổi da gà Xin vạn lần nhớ ơn nhà “ngụy” Tây Sơn ! À mà bác, nghe nói ng cõi trên có dính chút cọng rau muống mí công tử mình ,đại bác 175 ly thụt ngày đêm mém tới, thế cho nên vuốt mặt nể….hàm râu, bk tui xin kính nhi viễn chi, không dám kiến cò nhiều chỉ biết ngày xưa đi học được dậy rằng nhà Tây Sơn có công đánh đuổi giặc thanh,giúp dân Việt thoát họa xâm lăng và đồng hóa của tàu phù sâu quảng. Nếu không có ngụy Tây Sơn thì bây giờ lam sao có người cõi trên nói bậy.Hổng chừng bi giờ người chỉ biết nói tiếng tàu !!!
    Vai hàng thăm hỏi bác Tây độc và các bác mạnh giỏi. Biết các bác vẫn còn vao trang nhà công tử thường, bk tui rất mừng. Chúc sức khỏe tất cả các bác ,hen gặp lại. Kính, backy54

    • chào bác backy54. Lâu rồi không thấy tiếng bác, rất vui khi biết bác vẫn mạnh khỏe. Tôi cũng chúc bác và các bác khác mọi điều tốt lành.
      Kính

  6. […] – Yêu nhau vượt chết (Hoàng Hải Thủy). […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: