• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TÌNH TRONG CÕI U MINH

LỤC CHÂU. Giai nhân trong Cõi U Minh.

LỤC CHÂU. Giai nhân trong Cõi U Minh.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích Ngày 20 Tháng Sáu 2013.

Năm 1990 đi tù về nhà, tôi mua ngay một máy chữ để viết. Bài Tình U Minh này là một trong mấy bài viết thứ nhất của tôi sau 8 năm tù đầy. Mới đây tôi tìm lại được bản truyện viết bằng máy chữ, tôi gõ computer bài viết gửi đến các bạn  ở chín phương trời, mười phương đất. Ðây là lần thứ nhất bài tôi viết từ 20 năm trước được đăng. HHT

Nhân vật chính trong truyện này là Ngưu Tăng Nhụ, một Tể Tướng đời Ðường, nhân vật thứ hai là Ðỗ Mục, Thi sĩ đời Ðường.

Ngưu Tăng Nhụ người thời Vãn Ðường, sống cùng thời với Thi sĩ Ðỗ Mục.. Với tôi – CTHÐ – Ðỗ Mục là tác giả những bài thơ tứ tuyệt lãng mạn nhất trong Rừng Thơ Ðường. Ngưu Tăng Nhụ hơn Ðỗ Mục khoảng hai mươi tuổi. Khi Ðỗ Mục thi đỗ, mới bước chân vào hoạn lộ, Tăng Nhụ đã làm quan to. Tuy Ðỗ Mục cũng đỗ tiến sĩ như Tăng Nhụ nhưng không phải bất cứ ông tiến sĩ nào cũng làm quan to hay tất cả những ông tiến sĩ đều có quan chức ngang nhau. Có những tiến sĩ làm Tể tướng, Thượng thư, có những tiến sĩ già đời làm huyện lệnh hay giữ những chức thư lại như thông phán, thư ký.

Khi Tăng Nhụ làm Thứ Sử Dương Châu, ông lấy Ðỗ Mục về làm bí thư cho ông. Dương Châu là nơi phồn hoa đô hội, nơi ăn chơi có những kỹ viện với nhiều nàng ca kỹ đẹp nhất thời bấy giờ. Nhờ  là thư ký riêng của quan Thứ Sử, Ðỗ Mục  có dịp thỏa tình phóng lãng đến mười năm ở Dương Châu – Ðỗ Mục sống ở Dương Châu như cá ở trong nước – vì Ðỗ Mục sống, yêu, làm thơ trong mười năm ở Dương Châu nên  thiên hạ có bốn câu Thơ Tuyệt Cú đúng là Tuyệt Cú:

Lạc phách giang hồ tái tửu hành.
Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh.
Thập niên nhất giác Dương Châu mộng,
Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh!

Tưởng khỏi cần phải viết rõ thi sĩ tác giả bài thơ trên là Ðỗ Mục, cũng không cần dịch nghĩa bài thơ “Lạc phách giang hồ..” Quá nhiều người Việt đã biết bài thơ này, những người Việt chỉ biết có ba chữ Hán ” nhất, nhị, tam..” cũng biết nghĩa bài thơ. Bài viết này chỉ nhắc đến Ðỗ Mục để làm nổi vai trò của Ngưu Tăng Nhụ, để thấy rõ tính cách con người Ngưu Tăng Nhụ.

Khi về làm bí thư cho Thứ sử Dương Châu Ðỗ Mục đã nổi tiếng là thi sĩ thiên tài, vì vậy chàng được Thứ sử đặc biệt trọng thị và trọng đãi. Là người tài hoa, lãng mạn lại được sống ở Dươnng Châu, đất phồn hoa đô hội nhất thời, Ðỗ Mục được dịp “lạc phách giang hồ” thoải mái. Gần như đêm nào Ðỗ Mục cũng vui chơi, không ở ca lâu, tửu quán thì cũng hành lạc qua đêm ỡ những kỹ viện. Ðỗ Mục yêu nhiều nhưng không gắn bó lâu dài với người đẹp nào, do đó chàng bị mang tiếng là “ người bạc tình.”

Mười năm tỉnh giấc mộng Dương Châu
Ðược cái tiếng là gã bạc tình ở lầu xanh.

CHIÊU QUÂN. Tranh do người đời sau tưởng tượng vẽ ra.

CHIÊU QUÂN. Tranh do người đời sau tưởng tượng vẽ ra.

Ðỗ Mục đắm mình trong những cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm với người đẹp đến mười mùa lá đổ ở Dương Châu, cho đến một ngày đẹp trời Ngưu Thứ Sử  trang trọng báo cho Ðỗ Bí Thư Lang biết chàng được gọi về kinh đô và sẽ được trao một chức vụ mới. Khi lâm biệt Ngưu Thứ Sử trao cho Ðỗ Bí Thư một cái tráp tặng phẩm. Ðỗ mở xem, tráp đựng đầy những bản báo cáo do những viên công an chìm có nhiệm vụ đi theo Ðỗ Bí Thư mỗi đêm để một là: xem chàng đi đâu, giao thiệp với những ai, hai: ngầm bảo vệ chàng. Báo cáo nào cũng ghi: ngày nào, đêm nào, Ðỗ Bí Thư uống rượu ở đâu, nghe hát ở nhà nào, ngủ đêm ở nhà nào, ngủ với cô nào vv. Và báo cáo nào cũng ghi ở cuối bản hai chữ “Vô dạng“: Vô dạng cũng như Vô Sự, không có chuyện gì quan trọng cả. Ðến lúc đó Ðỗ Mục mới biết lòng ưu ái và tình cảm của Ngưu Tăng Nhụ đối với mình. Từ đó cho đến hết đời Ðỗ Mục tuyệt đối trung thành với Ngưu Tăng Nhụ.

Ngưu Tăng Nhụ, như đã nói, là người có tài kinh luân lại kiêm cả thiên tài văn nghệ. Ðặc biệt  Tăng Nhu viết thể loại truyện ký rất độc đáo. Tôi – CTHÐ – không biết Tăng Nhụ viết truyện vào thời nào – thời ông chưa làm Tể tướng, thời ông đang làm Tể tướng hay viết trong thời ông bị thất sủng về nhà ngồi chơi sơi nước? Chỉ biết ông là tác giả bộ U Quái Lục, chuyện Tăng Nhụ gặp Vương Chiêu Quân ở trong bộ truyện này.

U Quái Lục là những chuyện xẩy ra trong cõi u u minh minh, cõi nửa âm nửa dương, nửa cuộc đời này và nửa không phải cuộc đời này. Tên truyện Tăng Nhụ gập Chiêu Quân là Chu Tần Hành Kỷ.

Chu Tần Hành Kỷ viết theo thể tự truyện: nhân vật chính tự kể chuyện mình, xưng là tôi, một thể loại truyện rất ít được dùng ở Á Ðông. Ngay cả trong đời này những chuyên viên viết tiểu thuyết hiện đại vẫn còn ngại việc xưng : “tôi” trong truyện. Nhưng trước ta hơn ngàn năm người viết Ngưu Tăng Nhụ đã xưng “tôi” trong truyện ngắn Chu Tần Hành Kỷ của ông. Ðây là bản tóm lược truyện Chu Tần Hành Kỷ. Tác giả xưng “tôi” trong truyện, trong bản tóm lược truyện này – để quí bạn dễ theo rõi truyện – Tăng Nhụ ở ngôi thứ ba.

Ngưu Tăng Nhu kể:

Năm Trinh Nguyên, đời vua Ðường Túc Tông, Tăng Nhụ đi thi. Trên đường vào kinh đô chàng đi đến vùng chân núi Ô Cao Sơn. Ðêm trăng mùa thu thật đẹp, chàng lạc đường đi tới một trang viện lớn. Từ trong trang viện có hương thơm phảng phất bay ra. Ngưu gõ cổng trang viện xin ngủ nhờ một đêm. Người quản môn hỏi tên tuổi khách rồi trở vào báo với Viện Chủ. Một lúc sau một số thị nữ áo xanh ra mời Ngưu vào viện. Ngưu thấy trong viện có đình tạ, lầu son, gác tiá, cửa vàng, cột cẩm thạch. Chàng hỏi đây là trang viện của vị nào, các thị nữ chỉ cười mà không trả lời. Ngưu được đưa tới đại điện. Trên thềm điện có tới cả trăm thị nữ áo hồng, áo đỏ đứng dàn. Chính điện rủ rèm son, các thị nữ bảo Ngưu quì lậy. Lậy xong, chàng nghe từ trong rèm tiếng người đàn bà nói ra:

— Thiếp là Bạc Thái Hậu, mẹ của Hán Văn Ðế. Ðây là miếu của thiếp. Chàng là người lạ, không có việc gì phải tới đây, nhưng sao đêm nay chàng lại tới?

Tăng Nhụ nghe nói, biết đây là một vụ “minh ngộ”: cuộc gặp trong cõi u minh. Chàng trả lời chàng đi về kinh tới đây bị lạc đường, xin Thái Hậu cho tá túc một đêm. Thái Hậu ra lệnh cuốn rèm và mời Ngưu lên điện.

Bạc Thái Hậu nói:

— Thiếp là Thái Hậu nhà Hán, chàng là danh sĩ nhà Ðường. Giữa chúng ta không có chia cách quân thần, vậy không nên giữ lễ nghi quá đáng.

Bạc Thái Hậu mời Tăng Như dự tiệc. Lúc ấy trên điện đã có hai vị nữ khách. Một vị là Thích Phu nhân — Phu nhân của Hán Cao Tổ Lưu Bang — vị thứ hai là nàng Vương Tường Chiêu Quân, đời Hán Nguyên Ðế.

Tới đây là đoạn tác giả tả dung mạo, nhan sắc của hai giai nhân đời Hán. Tất nhiên cả hai nàng cùng đẹp. Chi tiết đáng kể là tác giả tả Thích Phu nhân trạc ngoài hai mươi tuổi, Vương Tuờng Chiêu Quân được tả trẻ tuổi hơn Bạc Thái Hậu. Ta có thể tưởng tượng trong đêm minh ngộ này Chiêu Quân ở vào số tuổi từ hai mươi nhăm đến ba mươi.

Bạc Thái Hậu lại cho mời thêm hai vị khách. Tăng Nhụ nghe trên không có tiếng đàn sáo và tiếng xe đi tới. Rồi hai giai nhân từ trên mây bước xuống, tha thướt đi vào điện.

Bạc Phu nhân giới thiệu nàng giai nhân áo vàng, mũ ngọc, trạc ba mươi tuổi:

— Nàng đây là Thái Chân Phi tử của Ðường triều…

Khi biết nàng là Dương Quý Phi, Tăng Nhụ vội vàng làm lễ. Vì Thái Chân là Quý Phi triều Ðường, Ngưu Tăng Nhụ là thần tử nhà Ðường, Quý Phi tuy không phải là Hoàng Hậu song cũng là vợ Thiên tử, thần tử phải kính lễ. Nhưng Dương Quý Phi nói:

— Thiếp đắc tội với tiên đế, hoàng triều không cho thiếp được vào hàng hậu phi, hành đại lễ với thiếp là không đúng.

Nàng lậy tạ Ngưu Tăng Nhụ.

Số là trong đời Ðường Minh Hoàng, An Lộc Sơn nổi loạn, gây binh lửa, chiếm kinh đô, Ðường Minh Hoàng phải chạy vào đất Thục. Bọn quan tướng khiếp nhược đổ lỗi gây loạn cho Dương Quý Phi, Ðường Minh Hoàng phải giết nàng ở Mã Ngôi Pha – Ðèo Mã Ngôi – Về sau Túc Tông, con của Ðường Minh Hoàng, lên ngôi, cho gạch tên Dương Quý Phi ra khỏi Sổ Bụi Ðời, không cho nàng được có linh vị nơi tôn miếu, không được cúng tế. Vì vậy Dương Quý Phi không nhận lễ thần tử của Ngưu Tăng Nhụ.

Vua Ðường thời Ngưu Tăng Nhụ đỗ tiến sĩ là Ðức Tông, con của Túc Tông, cháu Ðường Minh Hoàng. Như vậy Ðức Tông, đúng ra, phải gọi Dương Quý Phi là bà nội ghẻ mặc dầu Dương bà nội thơm như múi mít toàn thân không có qua một mụn ghẻ nào.

Bạc Thái Hậu giới thiệu nàng giai nhân thứ hai:

— Ðây là Thẩm Thục Phi, triều Tề.

Ngưu Tăng Nhụ làm lễ với Thẩm Thục Phi như làm lễ với Vương Chiêu Quân. Bạc Thái Hậu mời mọi người vào tiệc.

Như vậy dạ tiệc minh ngộ có một Thái Hậu, ba nàng vương phi, một chàng danh sĩ. Và một giai nhân nổi tiếng nữa, giai nhân thứ năm này là nàng Lục Châu.

Lục Châu là người thiếp yêu của tỉ phú Thạch Sùng đời Tấn. Lục Châu là ca kỹ, được Thạch Sùng yêu thương đem về chung sống trong Kim Cốc Viên — Vườn Kim Cốc — ở Hà Nam. Thạch Sùng vì quá giầu nên bị bọn tướng lãnh sứ quân và bọn lãnh chúa địa phương ghen ghét, hãm hại để chia, chiếm tài sản. Anh tướng Tôn Tú và anh lãnh chúa Hà Nam là Triệu Vương Luân liên kết với nhau để giết Thạch Sùng. Ngoại truyện kể  ngoài việc giết Thạch Sùng để chiếm tài sản, Tôn Tú còn muốn chiếm Lục Châu. Trước đó Tôn Tướng quân đã ngỏ lời xin Thạch Sùng đem Lục Châu “cho” hắn. Do đó Thạch Sùng cho rằng Lục Châu là một nguyên nhân lớn trong những nguyên nhân làm y mất mạng. Khi quân của Tôn Tú đến, Thạch Sùng đang ở trên lầu trong Vườn Kim Cốc với Lục Châu, y nói với Lục Châu:

— Anh vì em mà chết!

Lục Châu nói:

— Em chết trước anh!

Nàng nhẩy từ trên lầu cao xuống đất, chết  trước mắt Thạch Sùng.

Ba, bốn trăm năm sau, Ðỗ Mục — chàng thi sĩ “lạc phách giang hồ bạc hãnh danh” đến Vuờn Kim Cốc, tưởng nhớ người đẹp ngày xưa đã tự tìm cái chết ở đây để tạ tình người yêu thương nàng, Thi sĩ làm bài thơ tứ tuyệt để đời, bài thơ làm cho Lục Châu nhẩy lầu trở thành bất tử dù không nhắc đến tên Lục Châu:

Phồn hoa sự tán trục hương trần
Lưu thủy vô tình, thảo tự xuân.
Nhật mộ đông phong oán đề điểu
Lạc hoa do tự trụy lâu nhân!

Thơ HHT phóng tác:

Phồn hoa hương sắc cũng tiêu tan
Nước chẩy vô tình, cỏ vẫn xuân.
Chiều tà ai oán chim kêu gió
Hoa rơi như kẻ rớt Lầu Tần.

Lục Châu cũng đến dự tiệc, nhưng Dương Thái Chân, Thích Phu Nhân, Vương Chiêu Quân, Thẩm Thục Phi đều là vương phi — vợ vua — Lục Châu chỉ là vợ bé của một anh thuờng dân nhà giầu. Vì vậy, theo đúng hệ thống giai nhân, tác giả giới thiệu bốn vị vương phi  long trọng và chỉ nói sơ qua là Lục Châu đến dự tiệc theo Thẩm Thục Phi.

Thế nhưng sau đó, trong Ngũ Ðại Giai Nhân mà Ngưu Tăng Nhụ tưởng tượng chàng được gập, chàng lại diễn tả Lục Châu với những nét lãng mạn nhất.

Nếu quả thực Ngưu Tăng Nhụ là tác giả truyện “Chu Tần Hành Kỷ” – tôi viết “nếu quả thực” vì đời sau có thuyết cho rằng truyện CTHK không phải do Ngưu Tăng Nhụ viết mà là do địch thủ chính trị của họ Ngưu thuê thợ viết viết ra, để tên họ Ngưu, để ghép Ngưu vào tội “khi quân.” Ngày xưa tội khi quân còn nặng hơn cả tội phản quốc. Tác giả CTHK khi quân ở chi tiết này;

Trong lúc ăn tiệc Bạc Thái Hậu hỏi hiện nay ai đang làm vua? Ngưu đáp:

— Ðấng kim thượng là Ðức Tông, trưởng tử của Túc Tông Hoàng Ðế.

Dương Quý Phi cười:

— Con của Trầm Bà nay làm thiên tử à? Kỳ dzậy?

Như đã nói, Vua Ðường Ðức Tông là cháu của Ðường Minh Hoàng, do đó vua là hàng cháu của Dương Quý Phi. Bà nội gọi con dâu bằng cái tên Trầm Bà khinh miệt thì cũng đúng thôi, nhưng người đời, những tên chuyên nâng bi thì kẻ vạch rằng chính Ngưu Tăng Nhụ cố ý dùng lời của Dương Quý Phi để phỉ báng Nhà Vua — không những chỉ phỉ báng Vua mà còn phỉ báng của bà mẹ của Vua nữa — đây là cái tội thời quân chủ cho là tội đại nghịch vô đạo. Ai phạm tội này là bị xử tử, có khi vợ con kẻ phạm tội cũng bị giết.

Và đây là cái tội đại nghịch vô đạo thứ hai của tác giả Chu Tần Hành Kỷ: Buổi dạ yến ly kỳ có một không hai trong lịch sử tiểu thuyết Trung Hoa càng đi dần vào khuya các vị thực khách càng tỏ ra thân mật và cởi mở. Năm vị giai nhân đều làm thơ bầy tỏ tâm sự của mình. Lục Châu, được kể là em nuôi của Thẩm Thục Phi, thổi tiêu, làm thơ; bài thơ của Lục Châu là bài thơ đặc sắc nhất:

Thử điạ nguyên phi tích nhật nhân
Ðịch thanh không oán Triệu Vương Luân.
Hồng tàn, lục tụy hoa chi hạ,
Kim Cốc thiên niên cánh bất xuân!

Nghĩa: Ðất này không phải là đất của người ngày xưa, hoặc không còn người xưa nưã. Tiếng địch vẫn còn oán hận mãi Triêu Vương Luân. Sắc hồng, mầu đỏ tàn tạ dưới những cành hoa, vườn Kim Cốc ngàn năm không có xuân.

Thơ H2T:

Ðất này chẳng phải đất tình nhân.
Tiếng tiêu oán mãi Triệu Vương Luân.
Hoa tàn, lá uá trên cành lạ,
Kim Cốc ngàn năm không có xuân.

Thế rồi dạ tiệc kéo dài mãi cũng phải đến giờ tàn, dù đây là cõi u minh những linh hồn cũng cần ngủ.

Bạc Thái Hậu – chủ nhân – hỏi:

— Ngưu Tú Tài từ xa đến, đêm nay vị nào sẽ làm bạn với chàng?

Mọi người đều đưa lý do thoái thác, Thích Phu Nhân nói:

“Như Ý Nhi, con của thiếp, từng làm vua. Thiếp không làm được việc này.”

Thẩm Thục Phi nói:

” Ðông Hôn Hầu vì thiếp mà nước mất, thân vong, thiếp không thể phụ nghĩa..”

Bạc Thái Hậu nói:

— Dương Thái Chân là quý phi của Tiên Ðế Ðường triều, không thể nói được chuyện này với Thái Chân. Mời Lục Châu..?

Lục Châu nói:

— Thạch Vệ Uý tính nghiêm lại rất ghen. Nay tuy người đã chết rồi, thiếp vẫn phải giữ dìn.

Bạc Thái Hậu bèn nói với Chiêu Quân:

— Chiêu Quân sang Hồ làm vợ Chúa Thuyền Vu, sau lại làm vợ trưởng tử của Thuyền Vu. Thiết nghĩ nàng có thể tự do được. Nàng làm ma ở đất Hồ lạnh lẽo mãi, phỏng có được ích gì? Mong nàng đừng chối từ.

Chiêu Quân không nói gì, chỉ cúi mặt thẹn thùng. Tiệc tan, Ngưu Tăng Nhụ được đưa vào phòng ngủ của Vương Chiêu Quân.

Sáng ra mọi người chia tay, Ngưu Tăng Nhụ đi được vài dặm mới tỉnh lại hoàn toàn ; đến lúc đó chàng mới biết đêm vừa qua chàng ngủ trong Bạc Hầu Miếu.

o O o

Thay nhau làm Vua

Ta vừa nghe kể lại, một cách sơ sài và giản dị, truyện Chu Tần Hành Kỷ được cho là do Ngưu Tăng Nhụ viết vào cuối đời nhà Ðường, cách thời chúng ta hơn một ngàn năm. Ðoc truyện Tầu đôi khi tôi lấy làm lạ khi thấy ở một nước quân chủ kịch liệt như Trung Hoa, vào giữa thời chế độ quân chủ cực thịnh nhất trong lịch sử nhân loại, nơi Vua là đấng chí tôn, Vua được tôn lên hàng thần thánh, Vua là Con Trời, nhưng cũng chính ở đất nước ấy, vào thời kỳ ấy, lại có những tư tưởng “khi quân” cũng kịch liệt không kém. Triết học, văn học Trung hoa thời xưa vẫn có rải rác đây đó những tư tưởng tự do, dân chủ, những tư tưởng về tự do, dân chủ mà loài người cả ngàn năm sau ở nhiều nơi còn chưa ý thức được.

Như ở Thế kỷ Thứ Năm, nhà tư tưởng Mạnh Tử công khai tuyên bố:

“Dân vi qúy, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Dân là quý, xã tắc quý thứ nhì, vua không là cái gì cả..”

Vậy mà Mạnh Tử có bị tù tội, đọa đầy ngày nào đâu. Lời nói ấy của Mạnh Tử không bị đời Vua nào xóa bỏ, cấm dân tàng trữ. Lại như  nếu ta đoc kỹ Tây Dy Ký — đọc nguyên bản chữ Hán — ta thấy nhiều đoạn những người Việt dịch Tây Du Ký đã bỏ không dịch. Những dịch giả Việt chỉ dịch những đoạn truyện gay cấn như  Tôn Ngộ Không đánh nhau với Ngưu Ma Vương, Trư Bát Giới lạc vào Ổ Nhện vv.. Nhưng chính trong những mẩu chuyện nho nhỏ ngoài lề lại có những chi tiết thật hay. Như đoạn Ðường Tăng bị yêu quái bắt, Ngộ Không đánh không lại phải đi tìm người cứu, lạc vào một thôn ấp, đêm nghe tiếng những thôn dân ngồi bên bếp lửa nói chuyện phiếm với nhau. Họ nói đến chuyện làm vua và nhắc đến câu:

— Hoàng đế luân lưu tố.
Minh niên đáo ngã gia…

Nghĩa là: “Vua thay phiên nhau làm. Sang năm đến lượt nhà ta làm vua…”

Làm gì có chuyện “Thay phiên nhau làm vua..” xanh rờn một cây như thế.? Ngay cả vào cái thời gọi là dân chủ cộng hoà này những chức vụ Tổng Thống do bọn phó thường dân bỏ phiếu bầu vẫn thuộc về những anh có tiền, có thế, có người ủng hộ, sức mấy mà những anh phó thuờng dân được thay phiên nhau mà làm. Nhưng cả ngàn năm xưa ở nước Tầu quân chủ, người dân Tầu đã có câu:

“Hoàng đế thì cứ  theo lệ thay phiên nhau mà làm. Sang năm đến lượt nhà ta làm Hoàng đế..”

Tưởng tượng ra và viết ra, viết xuống giấy Tầu trắng, viết bằng mực Tầu đen, chuyện mình gập toàn những bà vợ vua, tuy là những bà vợ các ông vua thời trước và gập đây là gập trong cõi u minh, nhưng dù là vợ vua thời trước thì cũng vẫn là vợ vua, là một việc làm táo bạo trong thời quân chủ. Vương Chiêu Quân tuy chưa hẳn là vợ Hán Nguyên Ðế nhưng cứ nói đến Chiêu Quân là người ta nhớ đến Hán Ðế. Vậy mà không những người viết Chu Tần Hành Kỷ chỉ bạo gan viết ra chuyện được gập Vương Chiêu Quân, được ăn tiệc, uống rượu với Vương Chiêu Quân mà thôi, tác giả còn liều mạng tả chuyện được được ân ái với Vương Chiêu Quân trọn một đêm chan chưá, mê ly hắt hủi. Chỉ riêng cái tội làm tình với Chiêu Quân thôi Ngưu Tăng Nhụ đã đủ mất chỗ đội mũ rồi, chưa kể cái tội dám khinh bỉ Ðương Kim Thiên Tử bằng câu:

“.. Con của mụ Trầm  nay làm Vua à? Kỳ dzậy?”

Nếu Ngưu Tăng Nhụ đích thực là tác giả Chu Tần Hành Kỷ thì ông là một trong ha, bốn người viết truyện đầu tiên của loài người. Không những ông chỉ viết truyện, ông còn viết truyện khoa học giả tưởng. Ông còn là vị Tể tướng — có thể nói là duy nhất — viết tiểu thuyết và thành công với tác phẩm. Nếu Chu Tần Hành Kỷ là truyện do những người đối lập — đối lập không đúng, cạnh tranh, tranh quyền chức — với họ Ngưu làm ra để hại họ Ngưu, bằng cách gây ra một vụ án văn chương, vu tội “khi quân” cho họ Ngưu thì ta phải công nhận tác giả Chu Tần Hành Kỷ là một tay viết đoản thiên tiểu thuyết kiệt xuất.

Ðể rồi tới năm, sáu trăm năm sau ngày văn học Trunng Hoa có đoản thiên tiểu thuyết Chu Tần Hành Kỷ, những nhà quan lại làm thơ đời Lê Hồng Ðức nước Ðại Việt làm những bài thơ thương khóc Vương Chiêu Quân:

Hồng Ðức Thi Tập:

Ngàn năm bia để lòng vàng đá
Muôn kiếp trời còn tiết giá sương.
Tăng Nhụ duyên chi mà gặp gỡ?
Phan Từ ngậm bút chuyện hoang đường.

Các nhà thơ nước Việt đờ Lê Thánh Tôn đặt câu hỏi trong thơ:

“Cái nhà anh Tăng Nhụ có duyên gì mà được gặp Vương Chiêu Quân, anh tu mấy kiếp mà được ân ái với Vương Chiêu Quân trọn một đêm thu muộn??”

Hỏi như vậy có nghĩa là các ông có đọc  truyện Chu Tần Hành Kỷ. Có đọc các ông mới biết chuyện Tăng Nhụ được ngủ với Vương Chiêu Quân. Và nếu đọc truyện tất các ông cũng thấy câu nói của Bạc Thái Hậu:

— Chiêu Quân sang Hồ làm vợ Chúa Thuyền Vu, sau lại làm vợ trưởng tử của Thuyền Vu..

Câu nói ấy cho ta thấy rõ  không có chuyện Chiêu Quân, sau khi ông chồng già Vua Hồ  hai năm mươi, suôi sáu tấm, không chịu làm vợ anh con của chồng theo tục của người Hồ, và nàng chết vì tự tử. Nếu Chiêu Quân không tự tử, nếu nàng chịu làm vợ anh con chồng thì tất nhiên là không có chuyện ở đất Hồ lạnh lẽo cỏ trên các ngôi mộ đều trắng, riêng cỏ trên mộ Chiêu Quân có mầu xanh. Tất cả những chuyện Vương Chiêu Quân luyến chúa, tư gia, sầu khổ, gửi tình sầu vào tiếng đàn tỳ-bà và “thanh trủng – mồ xanh” chỉ là huyền thoại.

Nhưng dù biết đó là huyền thoại, người ta — trong số có chúng ta — vẫn thấy thích thú, thấy ấm lòng vì huyền thoại. Ta nhắc lại hai câu cuối trong bài thơ “Ðề Ðộng Từ Thức” của Lê Quý Ðôn:

Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng
Thuỳ thức Thiên Thai diệc hí trường..!

Người đời khổ mãi vì giấc mộng Thiên Thai. Ai biết  Thiên Thai cũng là chuyện giả dối, chuyện không có thực, chỉ là kịch!

Lê Quý Ðôn nói chắc hơn cua gạch: “Không có Thiên Thai..” Cho đến hôm nay, tôi nghĩ chúng ta có thể nói với nhà học giả họ Lê hai câu,

Câu một:

— Thưa ông… Nếu có Thiên Ðường, có Ðịa Ngục thì cũng có Thiên Thai. Người ta chỉ biết có Thiên Ðường, Ðịa Ngục hay không có sau khi người ta chết. Ông cũng còn sống như chúng tôi, làm sao ông nói chắc ràng ông biết có những gì sau khi người ta chết?

Câu hai:

— Thôi đi ông ơi. Ông làm như ông là Tổ sư cái gì ông cũng biết. Bộ chỉ có mình ông biết là không có Thiên Thai hay sao? Chúng tôi cũng biết làm gì có Thiên Thai nhưng chúng tôi cứ nghĩ là có Thiên Thai. Cho ấm lòng chúng tôi đôi chút. Nào có hại gì. Tuy nghĩ rằng đời có Thiên Thai và Thiên Thai ở một nơi nào đó nhưng chúng tôi đâu có tên nào bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ vợ con, bỏ cuộc sống khổ não này để lang thang đi tìm Thiên Thai đâu! Con người hung hăng làm những việc ác độc vì cho rằng chết là hết. Nếu con người nghĩ rằng sau khi chết họ sẽ phải trả lời về những tội ác họ làm khi họ sống, trả lời ở một nơi nào họ mù tịt nhưng ở nơi đó họ không còn quyền lực gì nữa; và ở nơi đó họ phải chịu trừng phạt nặng, khủng khiếp vì những tội ác họ đã gây ra, chắc sự hung hăng tàn bạo của họ phải dịu đi, dù không dịu hết cũng dịu phần nào. Lại nữa nếu con người nghĩ rằng mình ăn hiền, ở lành, trọn đời không làm hại ai, không làm ai đau khổ, khi chết mình sẽ không bị trừng phạt, mình sẽ không bị khổ sở, chắc con người sẽ hiền hậu, lương thiện hơn nhiều. Vậy thì có Thiên Thai hay không có Thiên Thai, chuyện đó là huyền thoại hay không phải là huyền thoại.., nào có quan trọng gì. Những chuyện đó có làm cho chúng ta sống tốt hơn, sống đỡ khổ hơn không? Ðó mới là điều quan trọng.

Tài liệu về Thạch Sùng, người chết vì yêu Lục Châu, trên Internet:

Ðời Tấn. Giả Hậu định chiếm quyề hành. Một hoàng thân là Triệu vương Tư Mã Luân, đem quân vào cung, bắt vua Huệ Ðế phải bỏ Giả Hậu, rồi bắt Giả Hậu giết đi, bình được mối loạn Giả Hậu. Tư Mã Luân  nắm giữ binh quyền. làm Tướng quốc, tin dùng một vị tướng là Tôn Tú.

Tôn Tú biết Thạch Sùng có nàng ái cơ  Lục Châu, nhan sắc xinh đẹp lạ thường, lại thêm cầm kỳ thi họa đều giỏi, múa hát rất hay, vẫn được Thạch Sùng yêu mến, để ở riêng trên lầu Kim Cốc. Tôn Tú muốn chiếm lấy Lục Châu, sai sứ đến đòi Thạch Sung dâng nàng.

Khi sứ đến, Thạch Sùng ra tiếp. Sứ giả nói:

“Tôn thị trung (tức Tôn Tú) nghe nói ngài có người hầu đẹp, sai tôi đến đây muốn mượn ngài người đẹp ấy.”

Thạch Sùng gọi ra vài mươi người thị nữ, cho sứ giả chọn, nhưng sứ giả nói:

“Mấy người này đều đẹp, nhưng quan Thị trung bảo tôi phải tìm được nàng Lục Châu. Xin ngài đưa Lục Châu ra đây để tôi rước về dâng cho Tướng quốc.”

Thạch Sùng nói:

“Không được, Lục Châu là ái cơ của ta.

Sứ nói:

“Quân hầu am hiểu sự đời, sao không nhận rõ thời thế hiện nay, nếu ngài cưỡng lệnh, ắt có vạ to. Quân hầu nên nghĩ lại.”

Thạch Sùng nhất định không nghe. Sứ phải trở về báo lại với Tôn Tú. Tôn Tú cả giận, muốn giết Thạch Sùng, lại nhân có thù cả với bạn đồng liêu của ông là Phan Nhạc, bèn vào bẩm với Tư Mã Luân:

“Thạch Sùng, Phan Nhạc có ý tạo phản, ỷ thế giàu có âm mưu làm loạn, coup ngôi vua, nếu bây giờ không trừ đi, sau hối không kịp.”

Tư Mã Luân nói:

“Nếu thế thì cứ bắt nó giết đi.”

Tôn Tú được lệnh, đem 200 quân đến vây nhà Thạch Sùng. Thạch Sùng đang ở trên lầu trong vườn Kim Cốc với nàng Lục Châu, thấy quân kéo đến, hô lệnh bắt. Thạch Sùng  nói với Lục Châu:

“Ta vì nàng mà mắc hoạ.”

Lục Châu khóc:

“Quân hầu vì thiếp mà phải tội, thiếp  vì Quân hầu mà chết. Thiếp xin chết trước.”

Nàng nhảy từ lầu cao xuống đất. Quân lính vào bắt Thạch Sùng. Khi bị giải đến pháp trường, Thạch Sùng mới biết mình bị xử tử, bèn khóc than rằng:

“Bọn người giết ta, chỉ vì tham vàng bạc của ta!”

Người áp giải nói:

“Ðã biết tiền của hay làm họa cho người, sao không cho bớt đi từ trước?”

Thạch Sùng bị chém chết, gia sản bị tịch thu. Năm đó ông 52 tuổi.

Tương truyền, Thạch Sùng chết uất ức, khí uất không tan hóa thành con vật thuộc lớp bò sát gọi là thạch sùng, cứ tắc lưỡi như tiếc của. Thạch sùng là con mối, sống trên tường nhà, thường tắùc luỡi kêu như những tiếng “ tiếc, tiếc.”

Bạch Cư Dị làm thơ về Chiêu Quân:

Chiêu Quân Từ

Hán sứ khước hồi bằng ký ngữ,
Hoàng kim hà nhật thục nga my.
Quân vương nhược vấn thiếp nhan sắc,
Mạc đạo bất như cung lý thì.

Thơ H2T:

Lời Chiêu Quân

Hán sứ sắp về xin gửi nhắc:
Ngày nào vang bạc chuộc nhau cùng?
Quân vương nếu hỏi thăm nhan sắc,
Ðừng nói không bằng lúc ở cung.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: