• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TRĂM NĂM HỒNG LỆ..

bill

Sương sáng sớm, nắng chiều tà.
Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu.

Ngày mùa hạ Virginia, Tháng Bẩy năm 2013.

Năm giờ chiều kẻ viết bài này làm một vòng đi bộ trong Rừng Phong,  trời nắng nóng không khác gì cái nắng nóng mùa nắng ở Sài Gòn, nơi chỉ có hai mùa mưa nắng.

Có thể Virginia nắng nóng hơn Sài Gòn, vì những năm 1981, 1982 tôi có thể giữa trưa đầu trần, trên xe máy, đạp veo veo từ Ngã Sáu Gia Long về Ngã Ba Ông Tạ mà không hề hấn gì. Nay nếu tôi đầu không mũ, đi bộ 15 phút giữa trời nắng Virginia, tôi có thể ngã ngất.

Nhớ lại: những buổi trưa tôi đạp xe đi trong nắng trưa Sài Gòn là buổi trưa những năm 1980, 1981 – những năm tôi Bốn Bó Lẻ Mấy Que tuổi đời; năm nay – 2013 – tôi không thể đi đầu không mũ dưới nắng hạ Virginia, tôi Tám Bó. Ðúng thôi. Có gì lạ? Thấy lạ là ngớ ngẩn. So sánh anh đàn ông 50 tuổi với ông già 80 tuổi, than ông già Tám Boù không khoẻ bằng anh đàn ông Năm Bó là chuyện ngớ ngẩn thứ hai.

Sáng dậy lúc 6 giờ, tôi người cứng đơ, chân tay như không chịu làm việc, ngồi buồn nhìn qua cửa sổ ra Rừng Phong nắng sớm đã vàng óng, tôi nhớ  những buổi sáng năm 1977, 1985, tôi ngồi cú rũ trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Trước mặt tôi chỉ có ca nước lạnh lấy từ vòi nước, thèm một điếu thuốc lá, thèm quá mà không có, tôi không thấy buồn, những buổi sáng ấy tôi không hy vọng nhưng tôi không tuyệt vọng. Những buổi sáng năm nay sao tôi buồn quá. Lại nhớ những năm 1977, 1978 tôi tuổi đời Bốn Bó Lẻ có Mấy Que. Năm nay – 2013 – tôi Tám Bó. Tôi buồn vì tôi già.

Mấy buổi sáng nay hai câu Thơ Bùi Giáng ám ảnh tôi.

Sương sáng sớm, nắng chiều tà,
Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu.

Tôi đã viết về Thơ Bùi Gáng trong bốn, năm bài, hôm nay tôi viết lại. Ông Thi sĩ Cao Tần có lời phê phán: “Công Tử Hà Ðông viết đi, viết lại một chuyện cả triệu lần..

Rất may ông cho thêm câu thòng:

..mà đọc vẫn thấy hấp dẫn.”

Ðược lời như cởi tấm lòng, sáng nay tôi viết một lần nữa về Thơ Bùi Giáng. Bạn nào đọc đoạn này rồi nay đọc lại, hay không đọc, cũng không sao, đoạn này tôi viết cho những bạn chưa đọc.

Tôi không ưa Thơ Bùi Giáng. Tôi thấy Thơ Bùi Giáng chỉ có một số ít bài hay. Trong nhiều bài chỉ có hai câu hay. Bùi Giáng làm Thơ vung vít. Nghe nói đưa cho ông tập vở 100 trang, cây bút Bic. Qua một đêm sáng hôm sau ông trả lại quyển vở, trăm trang trang nào cũng chi chít những thơ. Ông là nhà thơ không biết tự kiểm duyệt. Rõ hơn: Thi sĩ Bùi Giáng không bỏ đi những lời thơ dở.

Nhưng hai câu:

Sương sáng sớm, nắng chiều tà
Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu.

Tôi chịu là Thơ Hay.

Hai câu Thơ ấy ám ảnh tôi mấy hôm nay. Vì “Trăm năm hồng lệ..” tôi viết bài này.

Mời bạn đọc bài Thơ “Trăm Năm Hồng Lệ..” Bốn câu đầu là Thơ Bùi Giáng, những câu sau trong bài là Thơ H2T:

Sương sáng sớm, nắng chiều tà,
Trăm năm hồng lệ có là bao lâu.
Hỏi quê rằng biển xanh dâu.
Hỏi Thơ rằng mộng ban đầu vấn vuơng.
Em về rũ yếm mù sương,
Ngàn năm châu chấu vẫn thương cào cào.
Mân-rô ơi có đêm nào
Mồ anh em ghé Ðộng Ðào suối tuôn.
Lá cồn hoa cũng lên cồn.
Mười hai con mắt liên tồn mười hai.

Thi sĩ từng mong sau khi ông chết, cô đào Marilyn Monroe đến ngồi xổm  đái trên mộ ông, ông sẽ vui lắm.

Những năm 1967, 1968 Sài Gòn có tập Thơ “Lá Hoa Cồn” của Bùi Giáng, những năm 1985 hải ngoại Kỳ Hoa có tập Thơ “Mười Hai Con Mắt” của Bùi Giáng. Tôi vẫn théc méc tại sao không thấy người Việt hải ngoại in lại tập Thơ “Lá Hoa Cồn.” Tập “Lá Hoa Cồn” là tập Thơ đầu của Bùi Giáng, trong có Tinh Hoa của Thơ Bùi Giáng.

Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu.

Thời trẻ tôi sống, tôi yêu, tôi làm việc, tôi ăn chơi. Tôi như mọi người. Ai cũng vậy thôi. Tôi chẳng để ý gì đến chuyện Sống Chết. Ðến tuổi già tôi mới thấy “Trăm năm hồng lệ..”

* Thái Thủy Trăm Năm Hồng Lệ.

Năm 1955, Hiệp Ðịnh Geneve có khoản 2 năm sau Việt Nam sẽ có tổng tuyển cử, tình trạng Nước cắt đôi chỉ là tạm thời. Không biết tại sao tôi là người mù tịt về chính chị, chính em, tôi mù tịt về nhiều mục, nhưng năm xưa ấy tôi nghĩ chắc còn lâu lắm tôi mới có thể về được Hà Nội. Ðang là nhân viên tòa báo Sàgònmới, tôi đề nghị bà Bút Trà cho tôi về Hà Nội, tôi hứa khi trở vào Sài Gòn tôi sẽ viết phóng sự về Hà Nội Cờ Ðỏ. Nhưng báo Sàigònmới là tờ báo do người Nam làm cho người Nam đọc, độc giả báo Sàigònmới toàn là người Nam, không thích thú gì với chuyện Hà Nội Cờ Ðỏ. Bà Bút Trà không cho tôi về Hà Nội. Tôi cứ về. Tôi bỏ việc ngang xương 15 ngày. Khi trở về, bà Bút Trà có cho tôi nghỉ việc, tôi không oán bà.

Nguyễn Ngọc Tú chỉ vẽ cho tôi đường về Hà Nội Ðỏ: đến Bộ Thông Tin xin ông Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái cấp Sự Vụ Lệnh, vé máy bay AirVietnam, từ Tân Sơn Nhứt bay về Hải Phòng, từ Hải Phòng sang Hà Nội, hưá với ông Bộ Trưởng khi trở vào Sài Gòn sẽ viết phóng sự Hà Nội Ðỏ. Tôi làm theo lời Tú. Ông Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái cho ngay tôi sự vụ lệnh, vé máy bay.

Năm 1955, chính quyền Quốc Gia, đúng ra là Quân Ðội Pháp, còn ở Hải Phòng 300 ngày sau ngày ký Hiệp Ðịnh Geneve – Theo lời Tú, về Hải Phòng tôi đến ở nhờ toà nhà của Ðài Phát Thanh Bắc Việt. Ông Bùi Nhung là Quản Ðốc Ðài Phát Thanh. Ông có hai người con trai là Bùi Dương, Bùi Băng. Hai anh này là bạn của Nguyễn Ngọc Tú. Hai anh bằng tuổi Tú và tôi. Bùi Dương là anh, ở Sài Gòn. Bùi Băng, người em, còn ở Hải Phòng.

Buổi tối Bùi Băng đưa tôi đến một tiệm cà phê để gập vài ông văn nghệ, văn gừng Hải Phòng. Trong buổi tối đó tôi gặp Thái Thủy. Anh được giới thiệu là nhân viên Ðài Phát Thanh, anh có làm thơ.

Thái Thủy vào Sài Gòn, làm nhân viên Ðài Phát Thanh Quốc Gia cho đến ngày tan hàng 30 Tháng Tư 1975. Anh là tác giả bài thơ có hai câu:

“Mẹ ơi.. Thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương.”

Sau năm 1975, mấy ông văn nghệ Sài Gòn đổi câu thơ trên:

“Con ơi.. Thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương.”

Thái Thủy bị tù hai lần. Lần tù thứ nhất từ năm 1976 đến năm 1986, lần tù thứ hai từ năm 1994 đến năm 2000. Sang Mỹ HO, anh và bà vợ định cư ở Cali. Năm 2005 anh lên chơi Virginia. Anh là thượng khách của ông Nhà Văn Tạ Quang Khôi, biệt danh Tạ Ống Khói.

Năm 1994 Thái Thủy cùng bị bắt với các ông Vương Ðức Lệ, Mai Trung Tĩnh, Châu Sơn, Ðoàn Viết Hoạt. Tôi kể nguyên nhân vụ các ông trên đây bị bắt: Những năm 1993, 1994, Thi sĩ Vương Ðức Lệ có tiền đô gia đình chi viện từ Mỹ gửi về đều đều nên Thi sĩ có điều kiện mời dăm ông bạn nghệ sĩ đọi đến nhà đãi bia lon. Gần như ít nhất là mỗi tuần một lần nhà Thi sĩ Vương Ðức Lệ có bia lon cho mấy ông bạn ông uống thoải mái.

Thái Thủy kể về nguyên nhân lần tù thứ hai của anh:

“Ðoàn Viết Hoạt sắp đi Mỹ. Muốn có hành trang chống Cộng, anh ta in một tờ gọi là báo bằng roneo. Báo chỉ có một bài của Dương Thu Hương với vài chuyện vặt. Châu Sơn đem tờ báo đó đến nhà Vương Ðức Lệ cho chúng tao đọc. Châu Sơn bị bắt, khai đưa tờ báo của Ðoàn Viết Hoạt cho Vương Ðức Lệ, Mai Trung Tĩnh và tao đọc. Ba thằng chúng tao bị chúng nó bắt..”

Chỉ vậy thôi mà các ông Thái Thủy, Vương Ðức Lệ, Mai Trung Tĩnh, Châu Sơn bị tù người 4 năm, người 5 năm. Ba ông Thái Thủy, Vương Ðức Lệ, Mai Trung Tĩnh ở tù ra sang Mỹ với tư cách tị nạn chính trị. Cả ba ông đều đã trăm năm hồng lệ có ngần ấy thôi ở Kỳ Hoa Ðất Trích.

Trong một bài Viết ở Rừng Phong mới đây tôi viết “..nghe  Thái Thủy kể về chuyện tù tuyệt thực trong Nhà Tù Chí Hòa những năm 1994, 1995, tôi biết bọn Cai Tù Cộng Sản nay sẽ không dám để ông Tù Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực đến chết.”

Thái Thủy kể:

“Tao bị nằm kiên giam chung phòng với ông Thích Không Tánh. Ðoàn Viết Hoạt nằm phòng kiên giam trước mặt. Phòng Hoạt có thằng bộ đội được cử ra lấy cơm cho anh em. Một hôm thằng bộ đội làm gì đó bị thằng công an gác tù nó tát cho một cái. Ðoàn Viết Hoạt mở cuộc tuyệt thực phản đối quản giáo đánh tù. Tao cũng chê cơm tù, nhưng Không Tánh đưa mì chay cho tao ăn. Thằng Trưởng Khu nó cho gọi tao ra nói chuyện. Nó nói:

“Anh Hoạt tuyệt thực là việc riêng của anh ấy, có can dự gì anh đâu mà anh tuyệt thực?”

Tao nói:

“Tôi đi tù với anh em, tôi phải theo anh em.”

Thằng công an đánh tù bị đưa đi nơi khác.

Những năm 1980 người tù nào tuyệt thực là bị bọn Cai Tù không cho uống nước, bỏ cho nằm chết. Trường hợp Tuyệt Thực Hồng Lệ thê thảm của Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc năm 1979.

Trước ngày “Trăm năm hồng lệ..”, buổi tối Thái Thủy – khi đã bại liệt – tối đến nằm trên giuờng, thường gọi phone nói chuyện với bạn cho đỡ buồn. Phone để trên ngực, vợ con mở máy, nhấn số cho, Thái Thủy chỉ việc nghe và nói. Trong số bạn Thái Thủy hay gọi phone có tôi. Tôi nhắc chuyện Thái Thủy gặp tôi lần thứ nhất ở Hải Phòng, Thái Thủy nói:

“Ngày ấy mày là nhân viên nhà báo, mày có lương, tao rách thấy mồ. Nói là nhân viên Ðài Phát Thanh chứ thật ra tao có là nhân viên, nhân viếc gì đâu. Tao cũng có viết vài bài cho Ðài nhưng không phải là nhân viên. Lâu lâu ông Bùi Nhung ông ấy có trăm nào, ông ấy cho trăm ấy.”

Thái Thủy với tôi rất hợp chuyện nhau. Chúng tôi đồng ý với nhau về chuyện anh văn sĩ nào là loại “tiêu bạc giả,” tức dùng văn bí hiểm bịp đời, anh nào viết bậy, anh nào nhân cách không ra gì.

Khi tôi kể chuyện vợ chồng già sống quanh quẩn với nhau, hết chuyện để nói với nhau – viết lại: đã nói với nhau hết mọi chuyện – yêu nhau ra rít, thương nhau hết tình mà đôi khi nói chuyện với nhau cứ ông chẳng, bà chuộc, ủng oẳng cãi nhau vì những chuyện không đâu – Thái Thủy nói:

“Sẽ có ngày mày muốn ủng oẳng với bà ấy mà không còn bà ấy để mày ủng oẳng..”

Thái Thủy ơi.. Ðúng như mày nói: Tao sắp hết còn được ủng oẳng với vợ tao.

* Trăm Năm Hồng Lệ Ðặng Trần Huân.

Những năm 1981, 1982, một hôm tôi đến Nhà Bưu Ðiện Sài Gòn lãnh đồ. Cửa vào phòng phát đồ từ nước ngoài gửi về của Bưu Ðiện ở đường Hai Bà Trưng. Những năm đó nhiều người Sài Gòn sống bằng đồ do người thân ở nước ngoài gửi về cứu trợ. Khoảng 10 giờ sáng,phòng phát đồ đông người, lao xao như tổ kiến. Nộp giấy gọi đến lãnh đồ xong người đến lãnh đồ phải đợi ít nhất là nửa giờ mới được gọi tên đến ghi-sê lãnh đồ. Ðang lớ ngớ trong hành lang đầy người, tôi găïp Ðặng Trần Huân.

Huân đến lãnh đồ như tôi. Tôi được quen biết Huân nhưng không thân. Anh là sĩ quan Cục Tâm Lý Chiến. Các sĩ quan làm văn nghệ không ngồi cả buổi ở tiệm cà phê, đấu láo, uống bia như đám ký giả thường dân. Sau Tháng Tư 1975 những người quen nhau sơ sơ gặp lại nhau cũng cảm khái như bạn thân. Huân và tôi mừng tủi bắt tay nhau. Năm đó chúng tôi chưa có cái trò gặp lại nhau um hun nhau thấm thít. Không có ghế ngồi, chúng tôi ngồi xổm trên lối đi. Những năm 80 tôi còn ngồi xổm được, năm nay – 2013 – ngồi xổm tôi ngã ngửa, không ngã ngửa tôi phải bò, chống hai tay lấy đà, mới lồm cồm đứng lên được.

Huân nói đi tù về anh sống bằng việc mua đi, bán lại những tập sách tranh vẽ Lucky Luke, Sì-trum, Sạc Lô. Anh bầy bán sách trước cổng trường vào giờ trước khi truờng mở cổng và giờ học sinh tan trường về. Anh mua lại hay trao đổi những tập tranh do học sinh xem song mang đến. Tôi biết Huân sống rất vất vả bằng việc bán sách cũ đó. Trong giới văn nghệ sĩ Sài tôi chỉ thấy có hai người chịu làm và sống chật vật nhưng sống đươcï với việc họ làm. Hai người đó là Chú Tư Cầu Lê Xuyên và Ðặng Trần Huân. Chú Tư Cầu bán thuốc lá lẻ, Ðặng Trần Huân bán những tập truyện tranh vẽ.

Tôi nghe kể chuyện cay đắng là có một số ông đi tù về – ít thôi nhưng có – bị bà vợ khinh rẻ, không cho ăn. Các ông không may này phải tự lo nuôi thân. Ðến khi có chuyện các ông được Mỹ cho đi HO sang Mỹ, các ông trở lại có giá, bà vợ các ông “chiêu hồi” các ông.

Tình cờ gặp nhau trong Nhà Bưu Ðiện, Huân và  tôi không có nhiều chuyện để nói với nhau, chúng tôi chỉ nhìn nhau, thương nhau.

Rồi tôi đi tù lần thứ hai. Huân đi HO sang Mỹ trước tôi. Anh ở thành phố Industry, Cali. Tôi sang Mỹ năm 1995. Chúng tôi chỉ nói chuyện với nhau qua phone. Bài viết cuối cùng của Ðặng Trần Huân tôi đọc là bài trong đó Huân trách những người Việt tự nhận mình là Mít. Anh nêu câu hỏi:

“Tại sao lại tự hạ giá mình như thế?”

Tôi định viết cho anh:

“Việc người Việt tự nhận mình là Mít không có gì đáng trách, không phải là việc tự sỉ nhục. Người Việt gọi người Tầu là Tẫu, gọi người Mỹ là Mẽo, gọi người Lào là Lèo. Người Việt tự gọi mình  bằng cái tên Mít là việc tự riễu. Người có ý thức tự riễu mình trước khi riễu người.”

Tôi chưa kịp viết thì Ðặng Trần Huân đã “trăm năm hồng lệ..”

* Trăm Năm Hồng Lệ Nguyễn Tú.

Tất cả ký giả toà báo Chính Luận đều không ai có cái tật ngồi cả buổi đấu láo, uống bia mà không cần biết ai trả tiền. Ða số ký giả Chính Luận trước đó là ký giả báo Ngôn Luận. Từ thời Ngôn Luận, các ông ký giả này đã không có ông nào ngồi cà phê cả buổi. Ông ký giã Nguyễn Tú Chính Luận ở trong sốù ký giả tôi gọi là “tư chức ký giả.”.

Tôi không quen thân với anh Nguyễn Tú. Trước 1975 tôi chỉ được gặp anh vài lần. Những năm 1973, 1974, tôi làm nhân viên USIS, tôi có dịp gặn anh nhiều hơn. Mỗi lần nhân viên Mỹ USIS mở party mời ký giả Việt đến làm quen, party nào cũng phải có anh Nguyễn Tú. Anh nói giỏi tiếng Mỹ. Anh Nguyễn Tú, anh Phạm Kim Vinh, anh Trương Cam Vĩnh, anh Nguyễn Viết Khánh  là bốn người tôi nhờ cậy mỗi khi USIS mở party chào đón ký giả Mỹ, tiểu thuyết gia Mỹ từ Mỹ sang Sài Gòn theo lời mời của USIS; những ông Mỹ này muốn gặp và nói chuyện với những ông nhà báo, nhà văn Sài Gòn. Là nhân viên USIS tôi bị giao cho việc mời các ông ký giả, nhà văn người Việt. Phải mời những ông ký giả Việt nói được tiếng Anh để nói chuyện với khách.

Sau Tháng Tư  75 tôi được tin anh Nguyễn Tú bị bọn Bắc Cộng bắt ngay trong những ngày đầu chúng vào Sài Gòn. Những ngày như lá, tháng như mây..Năm 1982, 1983 tôi được tin anh vượt thoát sang được Hong Kong. Năm 1991, 1992, tôi được tin anh đã sang Mỹ.

Lại những ngày như lá, tháng như mây, năm 1995 tôi đến Washington DC. Trong buổi gặp lại bạn hữu do bác sĩ Phó Ngọc Văn tổ chức tôi gặp lại anh Nguyễn Tú. Hai mươi năm trần ai trong số có đến 20 năm tù tội cho anh Tú và tôi – chúng tôi mỗi người tù 10 năm – tôi mới gặp lại anh Tú. Tôi gặp lại anh trên xứ người. Năm ấy – 1995 – anh Tú còn khoẻ, nhanh nhẹn, anh không khác với anh 20 năm xưa bao nhiêu.

Những ngày hồng lệ qua mau..

Năm 2005 tôi được tin anh Nguyễn Tú suy yếu vì tuổi già. Anh ở một thị trấn cách xa Trung Tâm Eden cả giờ đồng hồ chạy xe. Sang Mỹ anh không lái xe. Mỗi lần muốn có anh trong cuộc họp mặt, các bạn anh phải đến nhà anh đón anh, xong cuộc phải đưa anh về. Chuyến  đón, đưa đến, đưa về mất 4 tiếng đồng hồ. Nhiều người đề nghị anh về sống trong vùng quanh Trung Tâm Eden để anh em đến gặp anh dễ hơn, anh không chịu, anh nói anh ở nhà này quen rồi.

Tôi theo người bạn đến nhà anh thăm anh. Lần đầu mà cũng là lần cuối. Anh sống trong căn phòng trên gác. Cầu thang dốc. Những ngày cuối đời việc anh mỗi ngày xuống thang ra cửa mở hộp thư lấy thư là cả một khó nhọc. Anh sống một mình. Anh nấu cơm lấy, rau thịt có người quen ở gần mua cho. Một mắt anh không còn nhìn được. Anh đeo miếng vải đen che con mắt hư. Anh không có vợ con – một đời anh không yêu ai, không ai yêu anh – anh một mình vào đời, anh sống một mình suốt đời, anh một mình ra khỏi cuộc đời.

Tôi – kẻ viết những dòng chữ này – là người năm 18 tuổi, mới có người yêu thứ nhất, đã tính chuyện cưới nàng làm vợ, ăn đời ở kiếp với nhau, nên tôi thấy lạ một người như anh Nguyễn Tú mà không yêu ai. Người ta có số. Trăm năm hồng lệ của mỗi người khác nhau.

* Trăm Năm Hồng Lệ Hoàng Anh Tuấn.

Tôi được quen Hoàng Anh Tuấn năm 1955. Năm ấy Tuấn từ Pháp về nước cùng với hai ông Nguyên Sa, Trịnh Viết Thành. Hai du học sinh Hoàng Anh Tuấn, Trịnh Viết Thành học ở Pháp cả sáu, bẩy năm mà không ông nào có mảnh bằng nào cả.

Năm 2013, đọc Hồi Ký của ông Huỳnh Văn Lang, tôi được biết ông bạn Hoàng Anh Tuấn của tôi sang Pháp từ năm 1948. Ông cùng sang Pháp với ông Huỳnh Văn Lang, ông Ngô Trọng Anh trên một tầu biển của Pháp.  Tầu sưả khoang tầu thấp nhất – theo lời ông Huỳnh Văn Lang thì khoang tầu này trước đó được dùng để chở trâu bò – 200 ông du học nằm võng vượt biển sang Pháp. Hoàng Anh Tuấn làm đạo diễn những phim Hai Chuyến Xe Hoa, Xa Lộ Không Ðèn.

Năm 1976 Hoàng Anh Tuấn bị bắt tù. Năm 1977 anh và vợ con được Tòa Ðại Sứ Pháp đưa sang Pháp. Sống ở Pháp vài năm, gia đình anh qua Mỹ. Tôi có mấy câu Thơ tặng Tuấn:

Hai Chuyến Xe Hoa về Ðất Mẹ
Bây giờ Xa Lộ Sáng Ðèn chưa?
Ở đây thì ghét, đi thì nhớ.
Sài Gòn mưa thì Pháp cũng mưa.

Hoàng Anh Tuấn là tác giả bài Thơ “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội.” Nhạc sĩ Phạm Ðình hương phổ nhạc bài thơ này.

Thi sĩ Ðạo diễn Hoàng Anh Tuấn trăm năm hồng lệ ở San Jose, Cali.

* Trăm năm hồng lệ Bố Già Ngọc Thứ Lang.

Tên thật của Ngọc Thứ Lang, người dịch The Godfather của Mario Puzo thành truyện Bố Già tên thật là Nguyễn Ngọc Tú. Tú bằng tuổi tôi, ra đời những năm từ 1930 đến 1935. Tôi không biết, tôi cũng không hỏi Tú vào Sài Gòn năm nào, vì nguyên do nào Tú bỏ học ở Hà Nội để vào Sài Gòn.

Năm 1952 khi tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, Sài Gòn yên bình, Sài Gòn quanh năm không có gì lạ xẩy ra nên các báo không có tin giật gân. Một sáng được tin chiếc xe ô-tô buýt từ Tân Ðinh về nhà ga trước chợ Bến Thánh bị lạc tay lái, đâm vào cổng Dinh Gia Long, phóng viên nhà báo Ánh Sáng là tôi đến đó lấy tin. Ðang ghi chép thì nghe tiếng người hỏi:

“Báo nào thế?”

Tôi nhìn lên. Người hỏi là Nguyễn Ngọc Tú. Chúng tôi quen nhau từ đó. Tú là người đưa tôi đến Ðộng Phù Dung Ngô Vĩnh Khang ở trước cổng nhà Kim Chung. Ngô Vĩnh Khang là tên ông chủ động. Tú là người đưa tôi vào toà soạn báo Sàigònmới. Một hôm Tú bảo tôi:

“Tao gặp bà Bút Trà báo Sàigònmới ở Bộ Thông Tin. Bà ấy nói báo cần một ri-pọt-tơ. Mày đến xem.”

Tôi đến gặp bà Bút Trà theo lời Tú. Tôi trở thành nhân viên báo Sàigònmới trong 7 năm, những năm phong độ nhất đời tôi. Một điều đặc biệt tôi thấy ở Tú là trong 20 năm – 1954-1975 – anh không làm nhân viên báo nào hết. Tú nghiện á phiện nặng. Trước 1975 anh đã nghiện chích á phiện vào mạch máu. Khoảng năm 1980 anh bị bắt vào Trại Cai Nghiện ở cạnh Nhà Thờ Bình Triệu. Tôi có theo ký giả Hồ Ông đến đó thăm anh. Rồi tôi được tin Tú bị đưa đi trại cai nghiện Phú Yên. Tú trăm năm hồng lệ ở đó. Bố Già Giao Chỉ Ngọc Thứ Lang không vợ, không con.

Từ năm 1975 tôi có bao nhiêu bạn đã trăm năm hồng lệ:

Trọng Nguyên hồng lệ vì ung thư phổi.

Minh Ðăng Khánh, Minh Vồ hồng lệ sau ba, bốn năm bại liệt.

Anh Trần Việt Sơn, anh Hoàng Vĩnh Lộc, anh Vũ Bằng, anh Thượng Sĩ Nguyễn Ðức Long, anh Hoàng Ly  hồng lệ vì buồn phiền.

Anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, anh Dương Hùng Cường hồng lệ thê thảm trong tù.

Anh Chu Tử trăm năm trên tầu Việt Nam Thương Tín khi tầu trên đường ra biển ngày 30 Tháng Tư 1975.

Chú Tư Cầu Lê Xuyên trăm năm vì tuổi già.

Ký giả Hồ Văn Ðồng bị bọn Cộng bắt giam hai lần. Tôi nhìn thấy anh trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu năm 1985 khi anh bị bắt lần thứ hai. Anh là một trong những người bạn đến đón vợ chồng tôi khi chúng tôi đến phi trường Washington DC. Anh sống ở Virginia. Tôi đưa anh đến nghĩa trang khi anh hồng lệ.

Mai Trung Tĩnh, Vương Ðức Lệ trăm năm vì ung thư, hai anh hồng lệ ở Virginia.

Còn không biết bao nhiêu người bạn tôi đã trăm năm hồng lệ mà tôi không nhớ, tôi không thể kể hết.

Sương sáng sớm, nắng chiều tà
Trăm năm hồng lệ biết là bao nhiêu.

7 Responses

  1. Bai viet hay va cam dong ve than Phan con người .

    Cn . iPhone

  2. trong chuyen tau di phap nam 1948 co ng cau tui, ong di va kg ve saigon
    song nua. Chi di ha-noi song trong 2,3 nam chien tranh 1968, 69 ? Bay gio
    giong nhu Hoang anh Tuan di tay 1948, da “tram nam hong le”​

    HHT viet:

    *Trăm Năm Hồng Lệ Hoàng Anh Tuấn.*

    *Tôi được quen Hoàng Anh Tuấn năm 1955. Năm ấy Tuấn từ Pháp về nước cùng
    với hai ông Nguyên Sa, Trịnh Viết Thành. Hai du học sinh Hoàng Anh Tuấn,
    Trịnh Viết Thành học ở Pháp cả sáu, bẩy năm mà không ông nào có mảnh bằng
    nào cả.*

    *Năm 2013, đọc Hồi Ký của ông Huỳnh Văn Lang, tôi được biết ông bạn Hoàng
    Anh Tuấn của tôi sang Pháp từ năm 1948. Ông cùng sang Pháp với ông Huỳnh
    Văn Lang, ông Ngô Trọng Anh trên một tầu biển của Pháp. Tầu sưả khoang tầu
    thấp nhất – theo lời ông Huỳnh Văn Lang thì khoang tầu này trước đó được
    dùng để chở trâu bò – 200 ông du học nằm võng vượt biển sang Pháp. Hoàng
    Anh Tuấn làm đạo diễn những phim Hai Chuyến Xe Hoa, Xa Lộ Không Ðèn.*

    *Năm 1976 Hoàng Anh Tuấn bị bắt tù. Năm 1977 anh và vợ con được Tòa Ðại Sứ
    Pháp đưa sang Pháp. Sống ở Pháp vài năm, gia đình anh qua Mỹ. Tôi có mấy
    câu Thơ tặng Tuấn:*

    *Hai Chuyến Xe Hoa về Ðất Mẹ
    Bây giờ Xa Lộ Sáng Ðèn chưa?
    Ở đây thì ghét, đi thì nhớ.
    Sài Gòn mưa thì Pháp cũng mưa.*

    *Hoàng Anh Tuấn là tác giả bài Thơ “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội.” Nhạc sĩ Phạm
    Ðình hương phổ nhạc bài thơ này.*

    *Thi sĩ Ðạo diễn Hoàng Anh Tuấn trăm năm hồng lệ ở San Jose, Cali.*

    VHM (cn)
    http://taberd69.clanteam.com

    2013/7/26 Hm Vu

    > Bai viet hay va cam dong ve than Phan con người .
    >
    > Cn . iPhone
    >
    > On Jul 26, 2013, at 12:20 PM, “Hoàng Hải Thuỷ” <

  3. Thưa công tử Hà Đông theo tui thiển ý chử hồng trong hồng lệ có nghĩa là nhiều thật nhiều chớ không có nghĩa là màu đỏ như đa số người có thể hiểu lầm .

  4. Thưa bác HHThủy,Vũ Bằng đóng vai “nằm vùng” đó bác.
    Ông ta được chứng nhận và treo bằng khen có công với
    “cắt mạng” ở trong nhà.
    VB.đóng kịch…câm mấy chục năm không ai biết,ngay cả
    đồng nghiệp như bác.

  5. Bố Già ơi chú Tú chết ở trại Phú văn tháng 12 năm 1978 hình như là chủ tự tử hoặc là bị heart attack cháu không ở cùng b với chú ,chú ở cùng b với Nguyễn trung Cang,người bạn ở cùng b với chú có nói là chú uống khoảng hơn 20 viên thuốc ngừa sốt rét của Mỹ,cháu không thể kiểm chứng được

  6. Bai Chu viet that cam dong. Chu HHT lam chau nho Bo chau qua! Bo chau hien dang khoe manh o VN nhung da 90 tuoi roi!Bo chau co the “tram nam hong le”bat cu luc nao.Cam on Chu da viet mot bai rat hay ve than phan con nguoi…

  7. […] TRĂM NĂM HỒNG LỆ (Hoàng Hải […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: