• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

THƠ và SỰ CÙNG KHỔ…

Nhất cùng chí thử khởi công thi?

Nguyễn Du

Trong Bắc Hành Tạp Lục, tập thơ Nguyễn Du làm trong chuyến đi sứ sang Bắc Kinh năm 1813, có bài thơ  về Nhà Thơ Ðỗ Phủ:

Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng Mộ

Thiên cổ văn chương thiên cổ sư
Bình sinh bội phục vị thường ly.
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ,
Thu mãn ngư long hữu sở ty (tư).
Dị đại tương lân không hữu lệ,
Nhất cùng chí thử khởi công thi?
Trạc đầu cựu chứng y thuyên vị?
Ðịa hạ vô linh quỷ bối xi.

Mộ Ðỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương

Văn chương muôn đời, thầy của muôn đời, Bình sinh tôi khâm phụ không lúc nào quên. Cây tùng, cây bách đất Lỗi Dương không biết ở đâu, Giữa mùa thu rồng cá cũng thương nhớ. Sống khác đời nhau nên thương nhau chỉ biết rơi lệ, Một đời cùng khổ đến thế phải chăng là vì thơ? Cái chứng lắc đầu cũ chữa đã khỏi chưa? Chớ để dưới đất bọn quỷ nó cười.

Thơ  Hoàng Hải Thủy phóng tác:

Thơ muôn đời, thầy cũng muôn đời,
Kính phục thi nhân dạ chẳng rời.
Lỗi Dương tùng bách tìm đâu thấy,
Bến thu rồng cá nhớ khôn ngơi.
Khốn cùng đến thế thơ làm hại?
Xót thương về trước lệ thầm rơi.
Lắc đầu bệnh cũ còn hay khỏi?
Ðừng để Âm Ty quỷ chúng cười.

Thi sĩ Trung Hoa đời Ðường. Tem Thư Ðài Loan.

Thi sĩ Trung Hoa đời Ðường. Tem Thư Ðài Loan.

Qua Thơ Nguyễn Du tôi thấy Ðỗ Thiếu Lăng – Ðỗ Phủ — bị bệnh Parkinson: đầu lắc lia lịa, có thể hai tay cũng run, và tôi thấy Nguyễn Du bội phục Ðỗ Phủ, coi Ðỗ Phủ là “ bậc thầy văn chương không những chỉ của ông mà là của muôn đời.” Suốt đời Nguyễn Du thán phục Ðỗ Phủ. Nguyễn Du làm bài thơ nhớ thương Ðỗ Phủ trên đường ông đi sứ sang Bắc Kinh, Trung Quốc năm Quí Dậu – 1813 – Có thể  Thi sĩ  đi qua vùng Lỗi Dương ở tỉnh Hồ Nam, ông biết ở đấy có mộ Ðỗ Phủ nên cảm khái mà làm thơ viếng Ðỗ Phủ.

Ðỗ Phủ chết trong một con thuyền trên sông Tương. Vì nhà nghèo vợ con ông không đưa ngay được di hài ông về an táng ở quê nhà, phải tạm chôn ông ở Nhạc Châu. Người Hán có tục người chết phải được đem xác về chôn ở làng quê, nơi người đó ra đời. Dù xa cách bao nhiêu dặm dường cũng phải đem xác người chết về an táng ở quê người ấy.

Bốn mươi năm sau người cháu của Ðỗ Phủ là Ðỗ Tư Nghiệp đưa hài cốt Ðỗ Phủ về Yển Sư, táng ở chân núi Thú Dương, Hà Nam. Tuy vậy ở Lỗi Dương vẫn có ngôi mộ giả của Ðỗ Phủ, do viên huyện lệnh Lỗi Dương họ Nhiếp xây để kỷ niệm nhà thơ lớn. Người Hán ngày xưa thường xây những ngôi mộ giả những nhân vật lịch sử họ kính trọng, như Quan Vân Trường có cả trăm ngôi mộ trên khắp nước Tầu.

Thi sĩ Rilke

Thi sĩ Rilke

Câu “Thu mãn ngư long hữu sở tư..” lấy ý từ hai câu trong bài Thu Hứng của Ðỗ Phủ:” Ngư long tịch mịch thu giang lãnh. Cố quốc bình cư hữu sở tư: Cá rồng lặng lẽ, sông thu lạnh. Nước cũ ngày nao cứ nhớ thương..”

Khốn cùng chí thử khởi công thi? Vì Ðỗ Phủ thơ hay tuyệt thế mà suốt đời nghèo khổ, nghèo đến không nuôi nổi vợ con và thân mình, để đến nỗi một người con nhỏ của ông phải chết vì thiếu ăn, Nguyễn Du đặt câu hỏi: “Ông khổ cùng đến thế phải chăng là vì Thơ? Phải chăng ta có thể quy tôi làm cho ông khổ cùng cho Thơ?

Trong quyển Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Nhà Xuất Bản Văn Học Hà Nội ấn hành năm 1988, phần chú thích ghi như sau về câu “Khốn cùng chí thử khởi công thi?”:

— Ý nói: do cảnh nghèo khổ quá mà thành thơ hay như thế chứ có phải vốn sinh ra đã làm thơ hay đâu.

Lời phụ chú ngớ ngẩn. Ý thơ rõ như ban ngày: “ Ông khổ cùng đến thế phải chăng là tại vì ông làm thơ hay?” Ðến đây ta phải kể lời luận của Âu Dương Tu về “ Thơ và Sựï Cùng Khổ của Người Làm Thơ”:

Bài Tựa tập Thơ Mai Thánh Du

Tôi nghe người đời nói: thi nhân ít người thành đạt mà lắm kẻ khốn cùng. Phải như vậy chăng? Chỉ vì là những bài thơ được truyền tụng phần nhiều đều do những người cùng khổ đời xưa làm ra. Phàm kẻ sĩ có điều gì uẩn súc mà không đem thi hành được ở đời, đều muốn phóng lãng ở ngoài cảnh núi gò, sông bến, ngắm hình trạng cá sâu, thảo mộc, gió mây, điểu thú, thường xét cái kỳ quái của những vật ấy, mà trong lòng lại uất tích những ưu tư, căm phẫn, mới phát ra những lời oán hận, chê bai, để than thở cho những kẻ ky thần, quả phụ, mà tả những cái khó nói của nhân tìnhVậy đời càng khốn thì thơ càng hay. Không phải thơ làm cho nguời ta khốn cùng, chính vì có khốn cùng rồi thơ mới hay.

Mai Thánh Du Thi Tập Tự. Âu Dương Tu. Nguyễn Hiến Lê dịch.

Âu Dương Tu nói rõ:

Không phải Thơ làm cho người làm thơ  cùng khổ, chính vì người làm thơ có cùng khổ thơ của người đó mới hay.”

Nhưng người đời vẫn cứ cho là: “ Tại ông ấy làm thơ hay quá nên ông ấy cùng khổ.” “Cùng khổ” là “nghèo khổ.” “Nghèo” và “Khổ” luôn đi đôi. Nguyễn Du, khi thấy Ðỗ Phủ thơ hay mà suốt một đời nghèo đói thảm thê, nên hỏi:

“Thầy cùng khổ đến thế phải chăng là vì Thơ?”

Lý Bạch bị đi đầy, Ðỗ Phủ nhớ thương làm bài thơ:

Thiên mạt hoài Lý Bạch

Lương phong khởi thiên mạt
Quân tử ý như hà?
Hồng nhạn kỷ thì đáo?
Giang hồ thu thủy đa.
Văn chương tăng mệnh đạt,
Lị vị hỉ nhân qua.
Ưng cộng oan hồn ngữ
Ðầu thi tặng Mịch La.

Cuối trời nhớ Lý Bạch

Gió mát thổi lên ở nơi cuối trời. Ý người quân tử nay thế nào? Hồng nhạn bao giờ tới? Sông hồ đầy nước thu. Văn chương ghen ghét người mệnh đạt – người thành công. Ma quiû mừng vì có người đi qua. Muốn cùng hồn oan trò chuyện, ném thơ tặng xuống sông Mịch La.

Ðỗ Phủ nhớ Lý Bạch, rồi nhớ Khuất Nguyên tự trầm ở sông Mịch La. Thi sĩ than thở:

Làm thơ hay như Khuất Nguyên, như Lý Bạch, mà cuộc đời khổ sở. Ðó là vì văn chương ghen ghét những người mệnh đạt, văn chương không cho những người làm thơ được thành công trong đời.”

Nguyễn Du coi Ðỗ Phủ là sư phụ, ông chịu ảnh hưởng Thơ Ðỗ Phủ rất nhiều nhưng ông không đồng ý với Ðỗ Sư phụ của ông về chuyện “Văn chương tăng mệnh đạt..”, ông bác bỏ cái thuyết ấy trong bài thơ của ông::

Tự Thán

Tam thập hành canh, lục xích thân
Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân.
Bản vô văn tự năng tăng mệnh,
Hà sự càn khôn thác đố nhân?
Thư kiếm vô thành sinh kế xúc,
Xuân thu đại tự bạch đầu tân.
Hà năng lạc phát qui lâm khứ.
Ngọa thính tùng thanh hưởng bán vân.

Tự than

Ba mươi tuổi, thân sáu thước, Khiếu thông minh khoét đục làm hỏng tính thật của mình. Vốn không có chuyện văn chương có thể ghét được mệnh đạt. Cớ gì mà trời đất lại ghen với người? Nghiệp võ, nghiệp văn đều không thành, sinh kế khó khăn, Xuân thu đắp đổi, đầu thêm bạc. Ước sao có thể cắt tóc trở về rừng xưa Nằm nghe tiếng thông reo ở nửa từng mây!

Thân cao sáu thước, tuổi ba mươi,
Thông minh sai lạc hại cho đời.
Vốn chẳng văn chương nào ghét mệnh,
Có đâu trời đất lại ghen người?
Thư kiếm không thành, sinh kế quẫn,
Xuân thu cứ đến, bạc đầu rồi.
Bao giờ xõa tóc về rừng cũ
Nằm nghe gió thổi lá ngang trời!

Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của Ðỗ Phủ, thán phục Ðỗ Phủ, nhưng ông không làm nô lệ cho ý thức của Ðỗ Phủ. Ðỗ Phủ nói: Văn chương ghét mệnh, Nguyễn Du nói:

“ Làm gì có chuyện văn chương ghét mệnh..! Làm gì có chuyện Trời ghen với người.”

Trong Kiều, Nguyễn Du nói:

Lạ gì bỉ sắc, tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Rõ ràng Thi sĩ nói: ”Trời – Tạo Hóa – ghen ghét những người đàn bà đẹp, Trời vì ghen mà làm cho những người đàn bà đẹp phải đau khổ.” Nhưng trong Thơ Thi sĩ lại nói:

“Làm gì có chuyện Trời ghen người? Vì cớ gì mà Trời lại ghen người?”

Ðây không phải là một điều mâu thuẫn trong quan niệm về nhân sinh của Thi sĩ, không phải là Nguyễn Du bất nhất trong quan niệm của ông về đời người. Ý thức của chúng ta rất phức tạp, đa dạng, lúc ta nghĩ thế này, lúc ta nghĩ thế khác. Ý thức và quan niệm của người thơ tài hoa Nguyễn Du tất nhiên là phức tạp hơn người thường.

Thơ có làm cho người làm thơ phải khổ sở không? Viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi, có thể nói tôi suốt một đời yêu thương, gắn bó, sống chết với việc viết truyện – Với tôi Viết là Hạnh Phúc, tôi đã sống để viết, tôi đã viết để sống và trước 1975 tôi đã sống được với việc viết truyện của tôi.

Trước 1975 ở Sài Gòn, thủ đô Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi, trong hai mươi năm tôi đã sống để viết và tôi đã viết để sống. Sau 1975 tuy biết Viết là Tù, Tội, là có thể Chết vì tác phẩm của mình,  tôi vẫn Viết. Dù vậy tôi vẫn không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi:

”Thơ có làm cho người làm thơ cùng khổ hay không?

Tôi thấy Nguyễn Du đúng khi Thi sĩ nói:

Chữ tài liền với chữ tai một vần…

Ngu si hưởng thái bình. Người có tài thường gập tai họa. Chuyện đó tôi thấy thường xẩy ra trong đời, nhất là trong thời loạn. Ðặc biệt Ðúng là Sống trong Gông Xiềng Cộng Sản mà làm Thơ là rất Dễ vào Tù.

Tôi “chịu” câu nói của Âu Dương Tu:

— Thơ không làm cho người làm thơ cùng khổ, chính vì có cùng khổ Thơ mới hay.

Nguyễn Du sinh năm 1765, mất ngày 16 Tháng Chín, 1820. Ðã 180 năm kể từ ngày Tiên sinh tạ thế. Những năm 1981, 1982, trong căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, tôi phóng dịch khoảng ba mươi bài Thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Những năm ấy trong một bài viết về Thơ Nguyễn Du gửi ra hải ngoại tôi viết:

— Khi người cháu của Ðỗ Phủ đem hài cốt của ông về quê, trên đường đi gập Thi sĩ Nguyên Chẩn. Nguyên Chẩn viết trong bài minh đặt trên mộ Ðỗ Phủ:

— Từ ngày có Thơ không có nhà thơ nào vĩ đại bằng Ðỗ Phủ.

Hôm nay, sau Ðỗ Phủ hơn một ngàn năm, viết về Nguyễn Du, tôi viết:

— Từ ngày Việt Nam có Thơ không có nhà thơ nào tài hoa như Nguyễn Du!

Tôi đã viết những câu trên ở Sài Gòn  hai mươi năm trước – những năm 1981, 1982, khi tôi làm Tập Thơ Chữ Hán Nguyễn Du — Năm nay 2010, Thế Kỷ Hai Mươi Mốt, sống ở xứ người, tưởng niệm ngày tháng Nguyễn Du lìa đời, tôi viết:

— Từ ngày Việt Nam có Thơ không có nhà thơ nào tài hoa như Nguyễn Du.

o O o

Những năm 1960 tôi đọc được lời khuyên của Thi sĩ Rilke gửi cho một thi sĩ trẻ:

“Bạn chỉ nên làm thơ khi bạn thấy bạn không làm thơ bạn chết..”

Từ đó tôi nhiều lần dùng Lời Khuyên trên trong những bài tôi viết. Nay – những năm 2010 – có điều kiện tìm trên Internet, tôi có được những bức Thư gửi người Thi sĩ Trẻ của Thi sĩ Rilke, tôi thấy Lời Khuyên không đúng hẳn như lời tôi vẫn kể.

Ðây là đoạn trích trong Thư Gửi Thi sĩ Trẻ của Thi sĩ Rilke:

Letter One. 17 February 1903

No one can advise or help you — no one. There is only one thing you should do. Go into yourself. Find out the reason that commands you to write; see whether it has spread its roots into the very depths of your heart; confess to yourself whether you would have to die if you were forbidden to write.

Read as little as possible of literary criticism – such things are either partisan opinions, which have become petrified and meaningless, hardened and empty of life, or else they are just clever word-games, in which one view wins today, and tomorrow the opposite view. Works of art are of an infinite solitude, and no means of approach is so useless as criticism.

Thư Số Một. Ngày 17 Tháng Hai 1903

Không ai có thể khuyên hay giúp bạn  trở thành thi sĩ. Chỉ có một việc mà bạn nên làm.Ði vào trong tâm bạn. Tìm cái lý do bắt bạn phải làm thơ, xem nó có mọc rễ trong tận cùng sâu thẳm của tim bạn, tự thú với chính bạn rằng có thể nào bạn chết nếu bạn bị cấm viết.

Ðọc thật ít, càng ít càng tốt, những bài phê bình văn nghệ – những bài loại này đều hoặc là những ý kiến bè phái, do đó chúng chết khô  và vô nghĩa, chúng cứng ngắc và trống rỗng không đời sống, hoặc chúng là những trò xảo lộng chữ nghĩa, trong những bài đó một quan điểm thắng thế hôm nay ngày mai sẽ là một quan điểm đối lập. Việc làm nghệ thuật là sự cô đơn vô biên, không có gì vô ích với nó như việc phê bình.

CTHÐ: Tháng Tám 2013 tôi gửi đến quí bạn bài văn nghệ văn gừng này. Từ lâu tôi  đã quên lãng việc tôi muốn làm khi tôi dùng cái tên “ Viết ở Rừng Phong,” tôi muốn chỉ viết về Tình Yêu và Văn Thơ.

Mời quí vị đọc bài Thơ tôi làm năm 1977 ở Sài Gòn:

Hỏi Ðỗ Phủ

Quốc phá sơn hà tại.
Thành xuân thảo mộc thâm.
Cảm thời hoa tiễn lệ.
Hận biệt điểu kinh tâm.

Ôi.. Thơ Ðỗ Phủ ngàn năm.
Sao Tình phương Bắc, trời Nam ta buồn?
Thính viên thật hạ tam thanh lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm,
Vượn kêu ba tiếng lệ tuôn.
Vượn kêu trăm tiếng, ta còn gì đâu!
Cảm thời, hoa cũng thương đau.
Biệt ly chim cũng qua cầu đắng cay!

Nhà tan, sông núi sao còn đẹp!
Nước mất, thành xưa ai thấy xuân?
Ai mơ Trang Tử, mê hồ điệp?
Ai mộng công hầu, mị giả chân?
Ta đoc Ðường Thi, thương Ðỗ Phủ!
Cảm thương người hay cảm thương thân?
Người lạc Quỳ Châu, liêu Kiếm Các.
Ta sinh Hà Nội, sống Sài Gòn.
Cuối thu sương khói, thuyền cô tịch,
Người nhớ quê nhà, giọt lệ tuôn.

Quê ta đất giải hai ngàm dậm,
Ðỏ nọ, Vàng kia mấy chục năm.
Thân như Do Thái mơ Thành Cổ,
Mà Cổ Thành không chỗ đặt chân.

Người dân kế sách, công danh bạc,
Ta viết ngàn trang truyện não nề.
Thế loạn người thương đời đói rét,
Tàn trận ta sầu cuộc chuyển di.
Công hầu đệ trạch giai tân chủ.
Văn vũ y quan dị tích thì.
Ðược thua, còn mất, kim như cổ,
Riêng có Thơ ngàn thuở vẫn Thi!
Khi ai đó đã lên Cung Nguyệt,
Ngọc Thố, Hằng Nga đã bắt đi.
Ai nằm gác lạnh, ôm đêm lạnh?
Nghe tiếng thời gian chậm bước đi?
Ai hồn địa chấn, tim lôi vũ?
Nghe đáy mồ xưa quỉ xướng thi?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: