• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thần Dược VINAGRA

Có thể tìm được Dây Thần Dược VINAGRA bên hồ nước này.

Có thể tìm được Dây Thần Dược VINAGRA bên hồ nước này.

Mười năm trước trong một bài Viết ở Rừng Phong tôi ngỏ ý tôi muốn bắt chước ông Lê Quý Ðôn trong việc ông đọc những sách xưa, thấy chuyện hay hay, ông ghi lại, làm thành tập “Kiến Văn Tiểu Lục,” tập sách Ghi những chuyện Thấy, Nghe nho nhỏ. Tôi muốn tôi cũng ghi lại những chuyện nho nhỏ tôi thấy hay hay tôi đọc được trong những trang sách của người xưa, trước hết là đăng lên báo, lên Internet, để đồng bào tôi đọc, làm thành một tập như tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục” của ông Quế Ðường Lê Quý Ðôn, một văn phẩm tác giả viết từ 300 năm trước.

Tôi thấy tôi làm việc ấy – việc ghi lại những chuyện hay, nhỏ, vui, lạ trong sách – đăng báo, xuất bản thành sách thân tặng những người Việt Nam không có điều kiện và thì giờ đọc, ghi như tôi  có ích, có giá trị hơn là những bài tôi viết linh tinh lang tang về những chuyện ruồi bâu như chuyện đả kích bọn Kỳ Nhông, bọn Việt Bợ Ðít Cộng sản, hay chuyện bới móc những sai lầm trong văn phẩm của người khác. Việc đọc, ghi lại, làm thành một tập, với tôi thật dzễ làm. Chỉ có Hay, Dzở . Tất nhiên. Nhưng từ ngày có ý định ấy đến nay đã mười mùa lá phong rơi trên Rừng Phong, tôi  chưa làm được.

“Ý trung nhân! Ngô lão hỹ! Em yêu ơi, anh già rồi.”

Sáng nay Virginia cuối hạ, đầu thu, trời dịu mát, lất phất mưa, tôi mời quí vị đọc vài trang, vài chuyện ghi trong tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục” của ông Tiến sĩ Triều Lê Quế Ðường Lê Quý Ðôn.

Ðây là lý lịch quyển Kiến Văn Tiểu Lục tôi có, tôi đọc, tôi học, tôi trích: Sách do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa in lần thứ nhất năm 1961 tại Sài Gòn. Dịch giả Trúc Viên Lê Mạnh Liêu. Kiến Văn Tiểu Lục  đến với tôi khoảng năm 1965. Năm 2000  Kiến Văn Tiểu Lục từ Sài Gòn đến Rừng Phong với tôi. Từ 10 năm nay đêm đêm tôi vẫn thường đọc lại những trang Kiến Văn Tiểu Lục và Vân Ðài Loại Ngữ.

Những trang đầu tập “Kiến Văn Tiểu Lục” ghi khoảng 100 câu người xưa nói và viết, toàn những lời khuyên tốt cho người đời. Những sách loại Minh Tâm Bảo Giám có trích nhiều câu trong “Kiến Văn” như những câu sau đây:

Nhĩ bất văn nhân chi tội, mục bất đổ nhân chi đoản, khẩu bất ngôn nhân chi quá.

Tai không nghe chuyện tội lỗi của người, mắt không thấy những vụng kém của người, miệng không nói những sai lầm của người.

Bià sách Kiến Văn Tiểu Lục bản in năm 1963 ở Sài Gòn. Quyển sách có số tuổi 50 năm. Sách này hiện nằm trong Tàng Kinh Các Rừng Phong.

Bià sách Kiến Văn Tiểu Lục bản in năm 1963 ở Sài Gòn. Quyển sách có số tuổi 50 năm. Sách này hiện nằm trong Tàng Kinh Các Rừng Phong.

Khi đọc câu trên đây – tôi, CTHÐ – thấy từ ngày sang Kỳ Hoa và viết những bài Viết ở Rừng Phong, tôi đã viết đả kích nhiều người. Tôi chạy tội với chính tôi bằng cách nghĩ tôi không đả kích ai về đời tư của người đó, tôi chỉ trích họ trên những gì họ viết, họ làm, những trò nham nhở phản bội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.

Giới tửu hậu ngữ, giới thực thời sân. Nhẫn nan nhẫn sự, thuận bất thuận nhân.

Không nói sau khi uống ruợu, không giận dữ khi đang ăn. Nhịn được chuyện khó nhịn, thuận với người không thuận mình.

CTHÐ: Tôi vẫn làm theo lời khuyên trên đây ngay trước khi tôi biết cuộc đời có lời khuyên ấy.

Ða ngôn đa bại, đa sự đa lự.

Nói nhiều sẽ bị nhiều thất bại, Bới việc sẽ có nhiều chuyện phải lo.

Thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong.

Ham thích nhiều sẽ tiêu phí nhiều. Chưá nhiều tiền của sẽ bị nguy đến thân.

CTHÐ bàn loạn: Lời nhận xét trên đây – đa tàng tất vong – rất đúng với những ông trọc phú-gian thương-vị kỷ ở Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Những ông nhà giầu, những ông con buôn bỏ của chạy lấy người không kịp, bị bọn Bắc Cộng lấy hết tài sản, giam tù, tra hỏi, khảo của; những ông này bị tù tội chỉ vì cái tội có nhiều nhà, vàng, đô-la. Nhiều ông vì có nhiều mấy thứ đó mà chết thảm trong tù.

Sự bất khả tố tận, thế bất khả dụng tận, ngôn bất khả đạo tận, phúc bất khả hưởng tận.

Việc đời không nên làm hết, thế lực không nên dùng hết, lời nói không nên nói hết, phúc không nên hưởng hết.

Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô mỹ giả thị ngô tặc.

Người kể điều xấu của ta là Thầy ta, người kể cái Hay, cái Ðẹp của ta là tên Giặc hại ta.

CTHÐ: “Ðạo ngô ác giả thị ngô sư, đạo ngô mỹ giả thị ngô hảo hữu.”

Người nói những cái Xấu, cái Dzở, cái Dzơ, cái Bẩn, cái Ngu, cái Tục Tĩu, cái Cu Ly Cu Leo  của ta là Thầy ta. Ðúng dzậy, đúng thôi. Nhưng người nói những cái Hay, cái Ðẹp của ta là bạn tốt của ta. Sao ta lại gọi Bạn Tốt của ta là Giặc?

Sự bất can kỷ, phân hào mạc lý.

Việc không liên can đến mình thì đừng dzính dzô.

CTHÐ: Tôi thấy lời khuyên này không được chỉnh. Thấy thằng ác ôn làm hại người khác, ta cứ bình chân như vại, vì thằng ác đó không làm hại ta với vợ con ta?

Vô đạo nhân chi đoản, vô thuyết kỷ chi trường. Thi nhân thận vật niệm, thụ thi thận vật vong.

Không nên nói cái kém của người, không nên khoe cái hay của mình. Làm ơn cho ai đừng nhớ, chịu ơn ai đừng quên.

Hiếu nghị luận nhân trường đoản, thị phi, vi đại ác.

Những kẻ hay bàn luận việc hay dở, phải trái của người là bọn đại ác.

CTHÐ: Nói, viết, bàn luận về những việc làm hay, dở, phải, trái của người đời sao lại bị coi là bọn đại ác? Nói, viết, bàn luận, khen chê đúng là việc ta phải làm. Chỉ cần “đúng.”

Tôi ngừng bàn loạn về những cách ngôn, châm ngôn, lời hay, ý đẹp trong “Kiến Văn Tiểu Lục.” Tôi sẽ viết tiếp về những lời này trong một bài sau. Nay mời quí vị đọc chủ đề của bài này: “Bịa chuyện, Nhận vơ”:

o O o

Cho đến những năm trước năm 1940 ở Bắc Kỳ vẫn còn cái tục – thói quen – người đau ốm không đi bệnh viện, không dùng thuốc mà cho người nhà đến những đền miếu nghe nói là nơi có Thần Thánh tuy không phải là thầy thuốc mà nổi tiếng hay chữa bệnh cho dân, xin cái gọi là “tàn nhang, nước thải” về cho người bệnh uống để trị bệnh. “Tàn nhang” là tro từ cây nhang bị đốt cháy, “nước thải” là nước đã cúng Thần, nước đã được Thần dùng rồi.  Năm tôi – CTHÐ – 10 tuổi, năm 1942, 1943, việc người bệnh uống cái gọi là “tàn nhang, nước thải” không còn nữa.

Mời quí vị đọc nguyên nhân cái tục “người bệnh uống nước thải hoà tàn nhang” của ông bà ta ngày xưa. Tôi – CTHÐ – chắc đây cũng là việc ông bà ta bắt chước người Tầu.  Chuyện “Tàn nhang, nước thải” An Nam được ghi trong tác phẩm “Kiến Văn Tiểu Lục“ của ông Quế Ðường Lê Quý Ðôn.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao y bản chánh. Tập 2. Trang 340

Ðền Ðức Cao Sơn Ðại Vương ở làng Láng Giản, huyện Chí Linh. Tục truyền Ðại Vương chữa bệnh rất giỏi, thường hiện làm ông lang đi chữa  bệnh đậu, bệnh sởi cho trẻ em. Có người ở Sơn Tây, con vừa lên đậu vưà lên sởi, may gặp ông già nói là chữa được, bèn đón về nhà, bốc thuốc chữa. Quả nhiên đưá con khỏi bệnh, mới hỏi họ tên và quê ở đâu, ông già nói:

– Ta tên là Cao Sơn, nhà ta ở đầu cái hồ thôn Láng Giản, huyện Chí Linh.

Người kia theo lời mang đồ đến tạ, thấy đó là ngôi đền cao ngất như ngọn dáo, quanh đền cây cối xanh um, mới biết là Thần hiển thánh. Từ đấy Ðại Vương nức tiếng là Thần Y. Ai có bệnh cứ mang đồ lễ chay, và một bình nước trong, đến quì dâng trước đền, xưng tên, kể rõ bệnh trạng, xin Thần chữa cho. Nhiều người được khỏi bệnh. Người xa, người gần, đến xin chữa bệnh hay bán con, rất đông.

Ngưng trích.

Trong tiểu thuyết Số Ðỏ của Vũ Trọng Phụng có đoạn Cụ Cố Hồng — nhân vật sống mãi với câu nói “Biết dzồi.. Khổ lắm.. Nói mãi.. ” khi bệnh được người nhà đi xin “tàn nhang, nước thải” ở cái đền gọi là Ðền Bia về cho uống.

Dường như – tôi nhớ lơ mơ – người bệnh uống tàn nhang, nước thải trong Số Ðỏ không phải là ông Cố Hồng mà là ông bố của ông Cố Hồng.

Kiến Văn Tiểu Lục. Sao Y Bổn Chánh hai chuyện “Nhận Vơ.” Tập 2. Trang 344.

Người đời thường sai lầm về việc xưa. Tập “Thi Liên Hợp Bích” – CTHÐ: Sách Tầu –  ghi chuyện:

Vua Thánh Tổ nhà Minh ra vế đối: Si, My, Võng, Lạng, tứ tiểu quỷ.

Ông Giải Tấn đối: Cầm, Sắt, Tỳ Bà, bát  đại vương.

Vua khen:

– Câu đối hay như trời sinh ra vậy.

Thế mà truyện ta thì vẫn cho câu đối đó là của ông Vũ Duệ người bản triều.

Phần “Tùng Thuyết” ở sách Thuyết Phu có chuyện:

–  Ông Dương Ức đời Tống đi sứ sang nước phương Bắc. Bắc triều làm lễ tế Hoàng Hậu, cử ông vào đọc văn. Khi mở bản văn tế chỉ thấy giấy trắng, không có một chữ. Ông liền đọc:

Duy linh
Vu Sơn nhất đoá vân
Lăng Uyển nhất đoạn tuyết
Ðào Nguyên nhất chi hoa
Thu không nhất luân nguyệt.
Khởi kỳ:
Vân tán, Tuyết tiêu, Hoa tàn, Nguyệt khuyết!
Phục duy thượng hưởng

Dịch

Kính nghĩ Ðức Bà xưa
Non Vu một đám mây, Vuờn Lãng một chòm tuyết
Nguồn Ðào một cành hoa
Trời Thu một vầng nguyệt
Ðâu ngờ:
Mây tán, Tuyết tan, Hoa tàn, Trăng khuyết!
Xin kính hưởng.

Vua Tống Chân Tông rất mừng về tài mẫn tiệp của ông Dương Ức. Thế mà ta thì cứ cho đó là chuyện ông Nguyễn Ðăng Cảo ở triều ta.

Sách “Triều Dã Thiêm Tải” ghi chuyện:

Cao Thôi Ngụy đời Ðường thích làm trò cười. Vua sai nhẩy xuống sông xem đáy sông có gì lạ không. Cao lặn xuống sông. Lúc sau nổi lên, há miệng cười lớn. Vua hỏi có chuyện gì mà cười, Cao nói:

– Thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy nói với thần: “Ta gặp Hoài Vương vô đạo mới phải nhẩy xuống sông Mịch La, anh nay gặp Minh Chuá, xuống đây làm gì?”

Vua vui lòng, thưởng cho Cao trăm tấm gấm.

Thế mà ta cứ cho đó là chuyện ông Lương Thế Vinh. Rõ thật là nhận vơ, chuyện của người nước khác nhận là chuyện người nước mình.

Ngưng trích.

CTHÐ phụ đề Việt ngữ: Tác giả “Kiến Văn Tiểu Lục” viết về một số chuyện của người Tầu, được ghi trong sách Tầu, vậy mà những người Việt  cứ nhận, cứ khoe đó là những chuyện do người Việt làm. Tác giả “Kiến Văn” kể và kết:

“Rõ thật là biạ chuyện.”

Kính thưa Lê Quế Ðường Tiên sinh: Ông cha tôi không “biạ chuyện“, ông cha tôi chỉ “nhận vơ.” Cái Tật Nhận Vơ nay vẫn còn trong số những Tật Xấu của chúng tôi.

Chuyện đọc Văn Tế “Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết ” là chuyện của người Tầu đời Tống, có ghi trong sách của Tầu. Ông cha tôi “nhận vơ” đó là chuyện của dân tộc mình. Thời ông Lê Quí Ðôn đang sống, ông cha tôi kể nhân vật đọc Văn Tế trong chuyện là ông Nguyễn Ðăng Cảo. Sau đó khoảng trăm năm, nhân vật đọc Văn Tế được đổi ra là ông Mạc Ðĩnh Chi. Chuyện Ông Trạng Mạc Ðĩnh Chi đọc Văn Tế ở triều đình Tầu được kể trong rất nhiều sách văn học nước tôi. Ba trăm năm trước ông Lê Quý Ðôn đã viết đó là chuyện người Tầu, ghi ở sách nào.vv..vv. Chắc cũng có nhiều người đọc “Kiến Văn Tiểu Lục” nhưng dường như chẳng ai cho chuyện “nhận vơ” như thế là không nên. Ông Dương Quảng Hàm, người được coi là nhà làm sách văn học kỹ, đúng nhất Việt Nam, cũng ghi chuyện “Trạng nguyên Mạc Ðĩnh Chi đi sứ sang Tầu đọc văn tế ” trong một quyển Việt Nam Văn Học Sử của ông.

Nhắc lại cho đúng: Ông cha tôi không “biạ chuyện,” ông cha tôi “nhận vơ.” “Nhận vơ” tồi hơn “bịa chuyện.” Muốn “Biạ chuyện” người bịa phải có tài tưởng tượng, tài sáng tác. “Nhận vơ” lấy chuyện hay của người làm chuyện của mình.

Nay mời quí vị đọc một chuyên Hay Hay, Vui Vui – Chuyện Có Thật – trong “Kiến Văn Tiểu Lục”:

Kiến Văn Tiểu Lục. Tập 2, trang 366,367.

Làng Tử Cầm ở huyện Chương Ðức. Phiá Tây làng có hơn 10 ngọn núi đá, trong đó có một cái động. Hồi gần đây có làm một tòa hành cung ở trên núi nên đổi tên là xã Châu Long.

Châu Canh, người đời nhà Trần, ở làng này. Người ta kể: Nhà Châu Canh nghèo, ông bố mất sớm, bà mẹ Canh dọn hàng bán nước ở chân núi. Thôn ấy có một ngọn núi đá, trên đỉnh núi có khối đá hình dáng như con cóc ngồi xổm; ở chân núi phiá đông có khu đất khá rộng, giữa khu đất là một cái hồ. Buổi chiều khi mặt trời về phiá Tây, ánh nắng chiếu in bóng con cóc trên đầu núi xuống mặt hồ. Trước mặt hồ là khu ruộng rộng khoảng vài mẫu, dáng đất như hình dao cầu cắt thuốc.

Một hôm có một người Tầu đi qua, vào quán uống nước, thấy mẹ con Canh nghèo quá, thương hại bảo Canh:

“Bên núi này có một ngôi đất rất tốt, bóng con cóc trên núi ngự trên ngôi đất này. Ta chỉ cho anh làm nhà mà ở trên chỗ đất ấy. Chỉ trong ba năm là anh được làm quan, được ở gần vua. Nhưng khi anh đã là quan sang giầu rồi thì anh phải dẹp ngay căn nhà đó, anh làm nhà nơi khác mà ở. Nếu cứ ở chỗ đó, anh sẽ gặp tai hoạ.”

Canh làm theo lời ông thầy Tầu, làm căn lều trên chỗ đất được chỉ, Canh sống trong lều đó, ngày đi cày thuê, cuốc mướn cho người. Năm Canh 20 tuổi, dân trong vùng tổ chức một ngày xuống hồ bắt cá. Canh đi bắt cá với người làng. Ðang mò bắt cá thì dây đeo cái rọ chứa cá của Canh bị đứt, Canh ghé vào bờ lấy một sợi dây leo bên hồ làm dây buộc rọ. Dây này quấn quanh bụng Canh. Buộc dây một lúc Canh thấy duơng vật của anh cứng lên, anh xấu hổ cứ đứng duới hồ nước, không dám lên bờ. Mọi người về hết. Bà mẹ Canh không thấy anh con về, chạy ra hồ tìm. Canh kể chuyện buộc dây leo cho mẹ nghe, bà mẹ anh bảo anh cởi cái dây leo đó ra. Canh cởi ra, dương vật anh sìu xuống. Canh thấy lạ, đem sợi dây leo về nhà, phơi khô, cất đi. Ít ngày sau Canh đem dây ra buộc quanh bụng, lại thấy dương vật ngổng lên như lần trước. Bèn cho là vật quí, gác lên gác bếp.

Năm sau, Vua Trần Dụ Tông mắc chứng dương nụy – liệt dương – sai xá nhân đi khắp nước rao tìm thầy chữa bệnh. Một xá nhân ghé vào hàng nước của bà mẹ Châu Canh. Canh nghe chuyện Vua bệnh, mừng lắm. Tự nói mình có thuốc chữa. Xá nhân đưa Canh về kinh đô. Canh đem sợi dây nấu với nước như nấu canh, cho Vua uống. Vua dùng vài lần thấy hết bệnh, trong thưởng và trọng đãi Canh, cho Canh ở ngay trong cung để gần vua.

Canh trở nên giầu sang, nhưng không nghe lời cảnh cáo của ông thầy Tầu, không đi ở chỗ khác mà lại cho làm toà nhà lớn nơi cái lều cũ.

Vì được sống trong cung vua, Canh thông dâm với các cung nữ. Chuyện vỡ lỡ, Vua không nỡ giết Canh, chỉ  đuổi Canh ra khỏi cung.

Ngừng trích.

Chuyện xưa về thứ  Dây Leo thần kỳ ghi trong Kiến Văn Tiểu Lục đến đây là hết.

Nửa đêm, xứ người, nằm trong phòng yên lặng, đèn vàng, an ninh, đọc sách. Chuyện xưa Châu Canh Dây Leo Cường Dương Tuyệt Dziệu làm tôi théc méc.

Ấp quyển “Kiến Văn” lên ngực, tôi nhắm mắt, suy nghĩ:

“Chuyện được ông Lê Qúy Ðôn ghi trong sách chắc phải là chuyện có thật. Nếu mình còn trẻ, 40, 50 tuổi cũng còn được, mình sẽ về xứ Bắc Cộng – mình không về để ăn chơi, tất nhiên mình không về để bợ đít bọn Bắc Cộng đang rẫy chết – mình sẽ về tìm làng Tử Cầm của ông Châu Canh. Làng Tử Cầm trong “Kiến Văn Tiểu Lục.” Mình về đấy tìm sợi Dây Leo Thần Lực ngày xưa. Mấy trăm năm dzồi, chắc là khó tìm, nhưng tại sao lại nghĩ là sẽ không sao tìm được? Mình mà tìm được thứ Dây Thần ấy, mình gây giống, mình sản xuất ra Thần Dzược Vinagra, mình bán ra khắp thế giới. Người thế giới sẽ biết đến đất nước Việt Nam, sẽ biết ơn nước Việt Nam. Thần Duợc Vinagra an ninh hơn, công hiệu hơn, dễ dùng hơn Viagra của Mỹ. Khi VINAGRA ra đời, mấy anh Mỹ nhờ sản xuất Viagra mà thành tỷ phú chỉ có nước khóc.“

Ðến đây tạm chấm dzứt chuyện Thần Dược Vinagra.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: