• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

GHI VẶT

1

Năm 1995 ông Nguyên Sa cho tôi vài dòng:

“Viết ở Rừng Phong đọc được. Viết tiếp.”

Ông Nhất Tuấn nhắn:

“Nên có sổ tay, ghi những đề tài chợt đến, để dành viết.”

Nghe lời hai ông tôi ghi lên giấy những ý tưởng tôi chợt có, những chuyện hay hay tôi đọc được trong sách báo. Ðể dành khi có hứng lấy làm đề tài viết thành bài. Hôm nay – một ngày đầu Tháng Chín 2013, tôi mở quyển sổ ghi chuyện ra đọc. Tôi trích một số những chuyện tôi ghi. Mời quí vị đọc. Có chuyện tôi thêm lời bàn loạn. Như chuyện vị Thần Sisyphus trong Thần Thoại Hy Lạp và chuyện ông Tiên Ngô Tôn Cương của truyền thuyết Tầu, hay chuyện cuộc Tình Romeo Juliet của Anh và truyện nàng Lưu Vô Song  của người Tầu.

* Sisyphus: Tên vị Thần trong Thần Thoại Hy Lạp, nguyên là Vua Corinth – được tả trong Odyssey, khi chết xuống Âm Ty, bị phạt phải đẩy một tảng đá từ chân núi lên đỉnh núi. Lên tới đỉnh núi, tảng đá lăn xuống chân núi, Sisyphus lại phải đẩy tảng đá lên đỉnh núi. Cứ vần đá như vậy mãi.

* Dậu Dương Tạp Trở: Ngô Cương, người đời Hán, tu thành tiên, mắc lỗi bị đày vào Cung Trăng, phải cầm rìu đẵn một cây quế. Nhưng cứ đẵn đến đâu thân cây quế lại mọc ra đến đấy. Công việc làm không bao giờ xong, mất công vô ích.

* Truyền Kỳ Mạn Lục: Lưu Vô Song, vợ chưa cưới của Vương Tiên Khánh, bị tuyển nhập cung làm cung phi. Nghĩa sĩ Cổ Áp Nha dùng kế, đưa thuốc độc cho Lưu Vô Song uống, Lưu chết. Xác Lưu  đưa ra khỏi cung. Gia đình Lưu lãnh xác về nhà, Cổ Áp Nha cho Lưu uống thuốc giải độc. Lưu Vô Song sống lại, kết hôn với Vương Tiên Khánh. Vợ chồng đưa nhau đi trốn, sống với nhau trọn đời. Truyện cuộc Tình Romeo và Juliet của Shakespeare giống như truyện Tầu vừa kể. Tình tiết uống thuốc độc, chết, sống lại như nhau, khác nhau ở điểm Romeo và Juliet là bi kịch, hai nhân vật chính chết thảm, chuyện Lưu Vô Song có kết cuộc được gọi là “có hậu.”

Bài Thơ được cho là “thủ bút: chữ viết” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nếu đúng thì bài Thơ này được Cố Thi sĩ làm trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1976. Sự kiện này cho  biết tại sao cùng thời gian ấy nhiều văn nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn bị VC bắt giam mà không ông nào gặp, hay nhìn thấy ông Vũ Hoàng Chương trong tù. Gần như tất cả các văn nghệ sĩ, ký giả đều bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Luư, riêng ông Vũ Hoàng Chương bị giam khoảng 10 tháng ở Nhà Tù Chí Hòa.

Bài Thơ được cho là “thủ bút: chữ viết” của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nếu đúng thì bài Thơ này được Cố Thi sĩ làm trong Nhà Tù Chí Hoà năm 1976. Sự kiện này cho biết tại sao cùng thời gian ấy nhiều văn nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn bị VC bắt giam mà không ông nào gặp, hay nhìn thấy ông Vũ Hoàng Chương trong tù. Gần như tất cả các văn nghệ sĩ, ký giả đều bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Luư, riêng ông Vũ Hoàng Chương bị giam khoảng 10 tháng ở Nhà Tù Chí Hòa.

* Cà Cuống. Văn Nghệ Tiền Phong xuất bản ở Mỹ, Số 513, ngày 15 tháng 6, 1991.

Một số nhỏ nhà văn lớp trước
Hồi mới đây sang được Hoa Kỳ.
Mấy ông nay đã qua thì
Viết văn còn có ra gì nữa đâu.
Thế nhưng vẫn tự cao, tự đại,
Vẫn tưởng mình là bố người đời.
Thật là rởm, thối quá trời.
Trong làng chữ nghĩa cứ đòi ngồi trên.
Chao ôi khắm vô biên, vô tả,
Còn nặng mùi hơn cả mắm tôm.
Y như cục kít thối om
Thế mà vẫn tưởng mình thơm ngạt ngào.
Người ta đang cười vào mũi đó.
Mà mấy ông không rõ, không hay.
Ðít cà cuống, chết còn cay.
Hũ Mắm

* Ðỗ Phủ:

Thính viên thật hạ tam thanh lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

* Ðinh Hùng:

Rồi những đêm sâu bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya.
Ðâu đây u uất hồn sơ cổ,
Từng bóng ma rừng theo bước đi.

Trải sông nước, vượt qua ngàn châu thổ
Ta đến đây nghe vượn núi kêu sầu.
Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ,
Ta nằm trên cỏ lặng yên nghe.
Thèm ăn một chút hoa man dại,
Rồi ngủ như loài muông thú kia.

CTHÐ: Một chiều xưa tôi đến phòng Thanh Nam trong bin-đinh Cửu Long. Thanh Nam nói với tôi về đoạn thơ trên:

“Mày thấy không? Hút xong trong người háo, thèm ăn rau tươi.”

Tôi thấy Thanh Nam – không nghiện – nói đúng. Tôi nhiều lần hút xong thấy tim phổi nóng ran, khô queo, thèm ăn vài miếng dưa leo.

* Ðinh Hùng

Em hãy cười lên vang cõi âm
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
Những hồn phiêu bạt bao năm cũ
Nay đã vào chung một chỗ nằm.

* James Joyce

Chamber Music

Gentle lady, do not sing
Sad songs about the death of Love,
Lay aside sadness and sing
How Love that passes is enough.
Sing about the long deep Sleep
Of Lovers that are dead, and how
In the grave all Love shall sleep
Love is aweary now.

2

* Thơ H2T

Nhạc Trầm

Ðừng hát một mình
Bài ca buồn những cuộc Tình dở dang.
Thôi sầu hãy hát theo đàn
Tình Yêu như ngọc, như vàng cho nhau.
Trong bóng đêm sâu
Những người yêu ngủ giấc sầu ngàn năm.
Trong lòng một tối Tình nằm
Bây giờ chắc mệt như tằm rũ tơ!

* H2T

Những người Yêu nhau không cần nói là họ yêu nhau

Là vợ chồng chúng ta vẫn Yêu nhau.

* Dante:

Không gì buồn bằng trong đau khổ nhớ lại hạnh phúc đã qua.

* Arnand Salacrou:

Ta thấy ta đau khổ trong bất hạnh nhiều hơn ta thấy ta sung sướng trong hạnh phúc.

* Sigmund Freud:

The goal of all Life is Death.

* Ðinh Hùng. Thơ đăng trên bích báo – báo viết tay, chỉ có một bản, dán trên tường – trong Ðại Hội Luyện Quân Lập Công VM Quân Khu 3 tại Phù Tế, Ứng Hòa 1947.

Bóng Cờ Nương Tử

Còn ngát dư hương mùa Ðại Hội
Ta về nhắn gió bốn phương xa
Có nàng du kích miền duyên hải
Ðẹp giữa thao trường như cỏ hoa.
Nàng tự đồi sương, dặm cát về
Biển cồn hò hẹn với sơn khê
Mắt xanh dợn mấy mùa hoang đảo
Như gió ngàn phương cuộn sóng thề.
Nàng đã về theo tiếng núi sông
Ánh sao vàng mái tóc phiêu bồng
Chín lần gươm báu trao tay đẹp
Trung dũng lòng hoa thắm sử hồng.
Nàng đã về theo gót lữ đoàn
Ngập ngừng theo nhịp bước chân đan
Nàng ca ảo diễm hồn cây cỏ
Nghe vọng huyền âm nhạc khải hoàn.
Chợt hiện bóng cờ nương tử cũ
Ta về mơ chuyện gái Châu Phong
Từ đâu thoảng gió thùy dương hát
Nàng đã trao hồn cho núi sông.

*  Vũ Hoàng Chương

Duyên

Tặng các chiến sĩ Trường Huấn Luyện Sĩ Quan Lê Lợi Quân Khu III năm 1948. Bài thơ đăng trên bích báo của trường.

Mùa lạnh đã về, kìa..ai chiến sĩ
Áo nhung trao mỏng mảnh ấm gì chăng?
Ngùn ngụt sa trường vương tử khí
Ðàn quạ đen bay rợp bóng Cô Hằng.
Ðau đớn quá áo nàng Bân chậm gửi
Trời quan san ảm đạm khói mờ mây
Những tay ngọc sao còn chưa dệt cửi
Ðã lâu rồi trống trận nguyệt lung lay.
Và ai đó ngồi vui quanh lửa ấm
Chuyện thế gian, thời cuộc nở thâu đêm
Có giây phút cảm thông ngoài vạn dậm
Mơ ai về chia xẻ gối chăn êm.
Ta hàn sĩ nửa đời lưu lạc mãi
Xót cho ai cùng lạnh giấc tha hương
Ðây nhầu lấm vạt áo xanh quằn quại
Ðấy chinh bào thôi cũng ướt đầm sương
Bông ấm áp vải dầy ta chẳng có
Ðể dâng ai chung một hội, một thuyền
Ta rút sợi tơ lòng van với gió
Gửi dùm đi tạm chút gọi là Duyên.

* Làn Gió Giao Thần

Thơ bà Ðinh Thục Oanh, bà vợ ông Vũ Hoàng Chương, làm ngày 18 Tháng Giêng năm 2003.

Cánh hạc tung trời một sớm mai
Oanh ca lạc lõng vọng hiên ngoài
Canh khuya thao thức nghe chuông điểm
Gối lẻ âm thầm thấm lệ rơi.
Năm tháng dần trôi phai sắc áo
Long đong thân thế tiếc chi đời
Mộng tan rồi, sóng đời xanh biếc
Về bến sông nào mới thảnh thơi.

*Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt kể:

Mùa đông những năm đầu cuộc kháng chiến, Hội Phụ Nữ Liên Hiệp, gọi tắt kiểu Vẹm là Liên Nữ, mở chợ phiên. Gặp tuần mưa dầm dân không ai đến. Chợ phiên ế, các phụ lão trongt vùng bị vận động đi chợ phiên. Các cụ trèo qua những ụ đất trơn, nhiều cụ té sưng cả mặt. Bèn có câu đối:

Liên Nữ lỗ to, Liên Nữ ế.
Lão Thành trầy trật, Lão Thành sưng.

Anh Hiếu Chân nói:

“Bài thơ “Cáo Bệnh Thị Chúng: Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai..” là thơ của một thiền sư Tầu, không phải là thơ ông Mẫn Giác. Bọn Tầu đưa ra bằng chứng từ lâu. Ông Mẫn Giác thích bài thơ ấy, chép lại. Khi ông chết, người ta tìm thấy bài thơ ấy trong số giấy tờ của ông. Ngô Tất Tố cho bài thơ vào tập Thơ Lý Trần, ghi là thơ Mẫn Giác. Từ đó mỗi Tết đến lại có người kể bài thơ ấy là thơ ông Mẫn Giác.”

* Ðinh Hùng kể:

Năm 1946 ở Hà Nội, Hồ Dzếnh muốn kết thân với Việt Minh nên viết bài ca tụng Hồ Chí Minh, nhưng bọn VM tảng lờ không kết với Hồ Dzếnh. Cùng năm ấy Ngọc Giao yêu người phụ nữ tên Ngọc, nhưng không được yêu lại. Văn nghệ sĩ Hà Nội có câu:

Hồ Dzếnh dính Hồ, Hồ chẳng dính
Ngọc Giao giao ngọc, Ngọc không giao.

Xuân Diệu làm Ðoan, Xuân Riệu lậu.
Trái tim nổi loạn, trái tim la.

* Quang Dũng

Ðường về quê hương
Ðường về quê hương, về quê hương
Không thấy quê hương, chỉ thấy đường.
Em đã đi trên đường nhựa ấy
Hai mươi năm trước lá thu vàng.
Ðường về quê hương, về quê hương
Em mặc áo vàng hay áo tím
Mắt em lơ đãng nhìn chân mây
Anh vịn thành xe, tay trong tay.
Ðường về quê hương, về quê hương
Có một ngày sao mà bất tận
Hai mươi cây số tưởng vô vàn
Dài đến bây giờ vẫn chứa chan.
Ôi con chim đậu nhành giây điện
Lại giống ngày xưa chuyện nắng thu
Em đã xa rồi – chim gọi nắng
Em còn nghe thấy nữa bao giờ.

* H2T:

Ví ví von von..Anh cho một quả ôm con mà về.
Thẩn thẩn thơ thơ..Anh cho một khúc ngẩn ngơ mà về.
Hội hội hè hè..Anh cho một quẻ nín khe mà về.
Bút bút văn văn..Anh cho một quắn lăng xăng mà về.
Bút bút nghiên nghiên..Anh cho một nghiến ngả nghiêng mà về.

* Ngày 16 January 2004, Tết đến, ông bạn Nguyễn Cố Nhân  gửi cho câu đối:

Tuần đọc Công Tử đôi bài, viết ở Rừng Phong, cảm khái cách gì, chữ nghĩa dao đâm, tội có oan đâu Biệt Kích.
Tháng xem Hoàng Hải dăm trang, chuyện nơi Ðất Trích, ngậm ngùi biết mấy. Văn chương lửa bốc, bút không sợ nữa Ðăng Lưu.

H2T cám ơn, và xin sửa một tiếng:

Tù không sợ nữa, Ðăng Lưu.

* Ông Hư Chu kể năm 1950 ông được ông Trần Trung Viên, soạn giả Văn Ðàn Bảo Giám, nhờ hiệu chính Văn Ðàn Bảo Giám. Trong số những bài thơ ông Hư Chu bỏ đi có bài “Sịt Tắc “của Tú Xương:

Sịt tắc..Mày rao dã điếc tai.
Tiền thì không có, biết vay ai.
Hay mày bán chịu tao vài bát
Có tiền tao trả một thành hai.

* Những năm 1940 Thi sĩ Trần Huyền Trân sống trong một túp lều bên cái ao sau xóm cô đầu Khâm Thiên. Thi sĩ gọi cái ao này là Ðầm Liên Hoa. Nhà văn Lê Văn Trương làm bài thơ:

Ao đĩ trồi lên một túp lều
Nhân tâm thiên hạ nổi lều bều.
Có chàng thi sĩ trong lều ấy
Nói chuyện yêu đương sớm lại chiều.

* Thơ Mặc Thu làm trong đám tang Mai Thảo:

Sân ga một đám đứng chờ tầu,
Toàn bạn già xưa biết mặt nhau.
Tầu chật, có người lên được trước.
Chậm chân kẻ đợi chuyến tầu sau.
Một đi là chẳng quay đầu lại.
Áo trắng trên người đủ kín thân.
Ra đi giống thuở ai vừa đến
Tầu suốt trăm năm chỉ một lần.
Sân ga thấp thoáng bóng người già
Họ sẵn sàng về cõi thật xa
Hình như trong đám trông chờ ấy
Có bạn thân tình, có cả ta.

* Tô Châu. Hồn Việt Số 259. Tháng Tư 2005.

Vô đề

“Dữ hơn rắn độc” đàn bà.
“Vịnh Kiều Tại Ngục ” chút quà gửi em.
Ðất Hồ lục truyện xưa xem.
Nghìn năm còn bóng trăng hoen mộ sầu.
“Hồng Loan, Hồng Ngọc “nay đâu?
Rừng Phong Công Tử bạc đầu ngóng ai?
Ông có than hoài cũng rứa.
Bạn ông gần tịch hết dzồi.
Sài Gòn nơi ông sống chết
Kiều giờ thơm lắm, ông ơi!
Bẩy Bó ông còn gân quá.
Gừng ông vừa già vưà tươi.

* Thơ Hoàng Hải Thủy Rừng Phong Ngày Mồng Năm Tết 2005.

Liêu lạc bi tiền sự.
Chi ly tiếu thử thân.
Quạnh hiu buồn chuyện trước kia
Vẩn vương nhớ lại, cười khì tấm thân.
Sớm mai trời đất vào Xuân,
Thương thì thương nhé, có ngần ấy thôi.

* Thơ Dương Bá Trạc

Nguyễn Văn Quyên

Giữ ngựa tuy hèn cũng chúa tôi.
Gan trung ngứa tiết sợ gì ai.
Cường quyền chúa gặp quân vô lễ.
Quốc thể tôi liều bịch mấy thoi.
Dùi dắng đã không tình cấp nạn,
Hung hăng lại giở thói khinh người.
Anh Ngô biết mặt thằng này chửa?
Giữ ngựa tuy hèn cũng chúa tôi.

Mỗi lần đọc bài thơ này tôi – CTHÐ – lại ngậm ngùi cái nhục vong quốc, nhục nhờ người, nhục bị người khinh bỉ. Ông Nguyễn Văn Quyên chuyên dắt ngựa cho Vua Lê Chiêu Thống. Ông theo Vua chạy sang Tầu. Vua Lê thường vào cung xin yết kiến Vua Thanh để xin Vua Thanh cấp quân đưa Vua về nước. Bọn vua quan nhà Thanh bỏ rơi Vua Lê, chúng không tiếp Vua Lê, chúng ra lệnh cho bọn lính canh cửa cung không cho Vua Lê vào cung. Vua Lê năn nỉ nên bị chúng xô đẩy. Ông Nguyễn Văn Quyên thấy Vua bị bọn lính Tầu làm nhục, ông đánh chúng: “Sao chúng mày dám hỗn với Vua nước tao?” Bọn lính Tầu xúm lại đánh ông. Ông Nguyễn Văn Quyên bị đánh hộc máu chết.

* Thơ Trần Văn Hương

Nhớ vợ xưa

Vừa mới ngày nào đã đủ năm.
Bồi hồi chuyện cũ nghĩ còn căm.
Dặc dài những tưởng bền tơ nhện,
Tráo trác ai hay đứt ruột tằm.
Sao cội đa xưa chưa hết lá,
Mà con đò cũ chẳng còn tăm.
Ôm cầm gượng nối dây uyên lại,
Biết khúc đàn kia lựa có nhằm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: