• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Ông Ngoại Hà Đông

Căn nhà – bên phải ảnh – là nhà Ông Nghiêm Duy Ninh, ông Thị Trưởng thứ nhất của thành phố Hà Đông. Ảnh ghi năm 2000.

Căn nhà – bên phải ảnh – là nhà Ông Nghiêm Duy Ninh, ông Thị Trưởng thứ nhất của thành phố Hà Đông. Ảnh ghi năm 2000.

Ông bố tôi trọn đời không một lần đọc Truyện Kiều, cả làng quê tôi không một người đọc Truyện Kiều, cả làng tôi không có một quyển Truyện Kiều, không những cả làng tôi không nhà nào có quyển Truyện Kiều mà cả làng tôi không có lấy một quyển tiểu thuyết.

Vậy mà tôi mê đọc tiểu thuyết từ năm tôi mới biết đọc chữ, tức ngay từ năm tôi lên sáu, lên bẩy tuổi. Mười một, mười hai tuổi, tôi đã mơ mai sau tôi sẽ viết tiểu thuyết.

Tôi có ảnh hưởng năng khiếu văn nghệ từ bên ngoại chăng? Có thể lắm. Ông Ngoại tôi là ông Nghiêm Duy Ninh, từng là Tri Phủ, và là Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông, ông Thị Trưởng thứ nhất của thị xã. Hà Ðông từng là Ville de Hà Ðông. Những năm tôi 60 tuổi tôi théc méc về chuyện vì sao thành phố Hà Ðông hiền hòa của tôi lại có tên là Hà Ðông.

Théc méc vì nhiều tỉnh nằm quanh Hà Nội, huê mỹ là trong lưu vực sông Hồng, đều có tên đặt theo vị trí của tỉnh với kinh đô Hà Nội, tên xưa là Thăng Long. Tỉnh Sơn Tây ở phía Tây của Hà Nội nên có tên là Sơn Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang ở phái Bắc của Hà Nội nên được đặt tên là Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Ðịnh, Hà Nam ở phái Nam của Hà Nội nên có tên là Nam Ðịnh, Hà Nam. Những cái tên tỉnh đó gọi đúng, Nhưng tỉnh Hà Ðông không nằm ở phía Ðông của Hà Nội, nó nằm lửng lơ con cá vàng ở giữa phía Tây và phía Nam của Hà Nội. Hai tỉnh Hải Dương, Hải Phòng ở phía Ðông của Hà Nội, sao không có tỉnh nào tên là Hải Ðông? Tại sao Hà Ðông không ở phía Ðông của Hà Nội mà lại có tên là Hà Ðông?

Tòa nhà xây năm 1938 ở làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, Hà Đông. Ảnh năm 2000.

Tòa nhà xây năm 1938 ở làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, Hà Đông. Ảnh năm 2000.

Sau ngày 9 Tháng Ba năm 1945, Nhật làm binh biến đảo chính Pháp ở Ðông Dương, lần thứ nhất tôi nghe nói đến hai tiếng Ðộc Lập. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, tỉnh lỵ Hà Ðông trở thành thị xã. Ông Ngoại tôi được mời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông.

Ông Ngoại tôi, ông Phủ Nghiêm Duy Ninh, chỉ làm Thị Trưởng Hà Ðông có 4 tháng, từ Tháng Tư năm 1945 đến Tháng Tám năm 1945, khi Việt Minh làm cái gọi là cuộc Khởi Nghĩa Ngày 19 Tháng Tám cướp chính quyền. Bốn tháng xưa ấy là bốn tháng thật đẹp trong đời tôi. Tòa Thị Chính Hà Ðông mới được xây, mới tinh, có phòng tắm hai vòi bông sen nước máy. Mùa hè, tối nào tôi cũng theo hai cậu tôi đến Tòa Thị Chính tắm vòi nước bông sen đã đời.

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tại chức có 4 tháng ngắn ngủi, từ Tháng Tư năm 1945 đến Tháng Tám cùng năm, nhưng đã làm được việc đem một số gạo từ miền Nam ra Bắc cứu đói. Năm ấy, năm 1945, đường xe lửa, cầu đường, huê mỹ là xuyên Việt, nôm na là từ Nam ra Bắc, bị phi cơ Ðồng Minh, gọi đúng là phi cơ Mỹ, đánh bom tan nát, nhiều chỗ xe hỏa không qua được, phải làm cái gọi là “tăng-bo”, tức transport, hành khách, hàng hóa phải xuống tầu, đi bộ qua một đoạn đường vài cây số bị đánh bom, hay qua cây cầu bị trúng bom, gẫy, đổ., lên chiếc tầu đón ở doạn đường bên kia, di tiếp.  Vì đường đi khó khăn như thế số gạo chở bằng tầu hỏa từ trong Nam phải nhiều ngày mới đến được xứ Bắc. Những thuyền chở gạo lớn đi ven biển chỉ đi được ban đem, ban ngày sợ bị máy bay  đánh đắm.

Lần đầu trong đời tôi nghe nói đến “gạo bông”, tức gạo phải mua, gạo được bán bằng phiếu, hay bằng sổ – chỉ những người được cấp sổ mua gạo mới được mua gạo bông – số gạo được bán theo số người trong sổ. Các ông Trưởng Khu Phố làm danh sách dân trong khu, gửi đến Tòa Thị Chính làm bông mua gạo, các cậu tôi, cả tôi, được dùng trong việc làm bông. “Bông” theo tiếng “Bon pour” của người Pháp.

Ông Ngoại tôi hít tô phê. Nghe mẹ tôi nói ông tôi chơi thuốc phiện và nghiện ngay từ thời ông học ở Trường Hậu Bổ. Cậu tôi kể, cùng học một khóa học với ông tôi là ông Ðặng Vũ Hành, ông này sau làm Bố Chánh, trong khi ông Ngoại tôi ra tri huyện, về tri phủ; ông Hiệu trưởng người Pháp, khi kết thúc khóa học, viết trong bản nhận xét về các học viên:

– Le plus laborieux est Ðặng Vũ Hành, mais le plus intelligent  est Nghiêm Duy Ninh.

Người chăm chỉ nhất là Ðặng Vũ Hành, nhưng người thông minh nhất là Nghiêm Duy Ninh.

Năm 1946, mấy ông chú, ông cậu tôi đến nhà đánh chắn cho ông tôi đỡ buồn. Tôi giữ chân chia bài. Có ông anh tôi từ Hà Nội vào cũng ngồi đánh chắn.

Ông anh tôi bận bộ complet mới may. Một ông cậu tôi khen:

– Bộ com-lê của anh hàng đẹp quá nhỉ.

Ông anh tôi nói:

– Thứ hàng này nó hay lắm ạ. Mình mặc nó, có ngồi bị nhầu hay có nếp, mình đứng lên đi đi, lại lại một lúc nó lại thẳng ra.

Ông Ngoại tôi nói:

– Thành ra nếu có ai hỏi mình… Sao ông không ngồi yên mà ông cứ đi đi, lại lại như thế? Mình nói:

– Ấy… tôi phải đi đi, lại lại để cho bộ quần áo của tôi thẳng ra!

Tôi mới 13 tuổi, nhưng tôi đã thấy ông Ngoại tôi rất có duyên, rất nhanh trí khi nói câu đó. Mấy lần giỗ ông tôi những năm 1970, 1971, tôi nhắc lại chuyện ông Ngoại tôi nói về bộ com-lê của anh tôi năm xưa, có lần mẹ tôi nói:

– Sao lần giỗ nào, anh cũng kể lại chuyện ấy?

Tôi nói:

– Con kể lại vì con thấy chuyện ấy rất hay. Ông Ngoại con phải thông minh và có duyên lắm mới nói được một câu hay như thế. Phải thông minh lắm mới nói trêu được người ta mà người bị trêu không nổi giận được.

Nhà ông Ngoại tôi cũng ở trong thị xã Hà Ðông, cùng phố với nhà tôi, Phố Bóp Kèn, tên Tây là Boulevard de la République, hai nhà cách nhau chừng nửa cây số. Nhà ông Ngoại tôi ở ngã tư đường vào Nhà Thương Hà Ðông. Trong thời gian ông tôi làm Thị Trưởng, một buổi chiều khoảng 4, 5 giờ tôi đang đứng chơi léng phéng trước cửa nhà ông tôi, tôi thấy ông Sĩ Quan Nhật đi tới. Ông này là vị chỉ huy Lực Lượng Quân Nhật đóng trong tỉnh Hà Ðông, ông ở trong tòa nhà đẹp, lớn nhất tỉnh, tòa nhà trước là tư dinh của Công Sứ Pháp. Thấy ông đeo kiếm, đi bộ, từ phía dinh ông đến, tôi nghĩ rất có thể ông đến thăm ông tôi. Mà lúc ấy ông tôi đang nằm hút thuốc phiện trên lầu. Phúc đáo tâm linh, tôi chạy lên gác, nói với ông tôi:

– Ông ơi. Ông Sĩ quan Nhật ông ấy đến. Con sợ ông ấy đến thăm ông.

Phòng khách của ông Ngoại tôi có bộ sa-lông Tầu, giường ngủ và cũng là nơi bầy bàn đèn của ông tôi ở ngay bên bộ sa-lông Tầu. Lúc ấy, bà trẻ của tôi, vợ ba của ông tôi, bà bằng tuổi mẹ tôi, đang nằm tiêm thuốc, ông tôi đang hút. Nếu vào nhà thăm ông tôi, ông Sĩ Quan Nhật sẽ lên đây, ông ta sẽ thấy ông Ngoại tôi, ông Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông, đang nằm làm cuộc… Phi Yến Thu Lâm, nôm na là đang hít tô phe, nôm na hơn nữa là đang hút thuốc phiện!

Thấy tôi chạy lên báo, bà Ngoại tôi nhổm dậy, thổi tắt ngay ngọn đèn, bà bưng cả khay đèn cho xuống gầm giường, lấy mền phủ lên, tôi chạy xuống cửa nhà.

Ông Sĩ Quan Nhật đến thăm ông tôi thật. Tôi cúi chào ông, nói mấy câu chào bằng tiếng Nhật tôi mới học được. Tôi ra hiệu ông đứng lại để tôi vào nhà báo với ông tôi. Khi ông Nhật lên đến phòng khách, ông tôi đã bận áo dài ra chào. Hai vị nói chuyện với nhau bằng cách viết chữ Hán, trò này gọi là bút đàm.

Năm 1949, khi tôi sống trong Trường Huấn Luyện Tình Báo ở Ðại Từ, Thái Nguyên, trong một số báo Cứu Quốc tôi thấy đăng bài thơ của ông Ngoại tôi. Thơ ông Ngoại tôi được Giải Nhì Cuộc Thi Thơ Kháng Chiến của báo Cứu Quốc.

Năm 1976, tôi gặp bà Dì tôi, bà từ Hà Nội vào Sài Gịn, bà là con bà Ngoại Ba của tôi, sinh cùng năm với tôi. Dì tôi đi kháng chiến như tôi. Năm 1950, Dì tôi cũng trở về Hà Nội như tôi, nhưng bà khác tôi ở chỗ sống hai năm ở Hà Nội, bà lại trở ra vùng kháng chiến, còn tôi, tôi vào Sài Gòn, tôi đi làm báo ở Sài Gòn. Năm 1954, bà Dì tôi kết hôn với một Thương Binh Trận Ðiện Biên.

Sau năm 1954, bọn Ủy Viên Tỉnh Bộ Việt Minh ở Hà Ðông in một quyển sách về lịch sử tỉnh Hà Ðông, trong đó dường như chúng có mạt sát ông tôi về tội ông tôi có thời làm Thị Trưởng Thị Xã Hà Ðông. Bà Dì tôi kể chuyện ấy cho tôi nghe, bà nói:

– Ông Ngoại anh làm gì nên tội? Chỉ cần Ông phạm cái lỗi nhỏ như cái móng tay, chúng nó cũng làm to như quả đấm. Nhưng chúng nó có kể ra được tội gì của Ông đâu. Sẽ có ngày Dì chửi chúng nó. Chúng nó viết, …Tên Nghiêm Duy Ninh.. Tên Nghiêm Duy Ninh…

Dì tôi đọc cho tôi chép bài Thơ Kháng Chiến ông Ngoại tôi làm năm xưa, bà nói lẽ ra Thơ ông Ngoại tôi Giải Nhất, nhưng bọn báo Cứu Quốc không muốn thấy Giải Nhất Thơ tờ báo của chúng về tay một ông cựu quan lại nên chúng để Thơ ông Ngoại tôi Giải Nhì, nhưng cuộc Thi Thơ ấy cũng không có Giải Nhất. Rất tiếc khi bánh xe lãng tử sang Hoa Kỳ, tôi đã bỏ mất bài Thơ của ông Ngoại tôi. Dì tôi còn đọc bài Thơ ông Ngoại tôi làm ở làng quê, khi con chó vện của nhà bị người ta bắt mất. Tôi chỉ nhớ được có 3 câu:

Thương thay con Vện nhà ta
Vừa ra khỏi cổng, thế là mất ngay…

… …  …

Thôi thì cổ buộc, chẳng thà hồn bay…!

Năm 1945, tên Ðỗ Mười là Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Ðông. Vì sự ngu ngốc của Ðỗ Mười – Y tổ chức cuộc cướp chính quyền ở Hà Ðông, đưa dân biểu tình vào Trại Lính Khố Xanh đòi Quản Dưỡng, người chỉ huy trại lính, đầu hàng, nộp súng, bị Quản Dưỡng ra lệnh bắn, nhiều người dân Hà Ðông bị chết. Sẽ có một chương tôi viết về Ðỗ Mười và Quản Dưỡng.

Quê ngoại tôi là làng Hòa Xá, Phủ Ứng Hòa, hay Phủ Vân Ðình, tôi không nhớ đúng, tỉnh Hà Ðông. Ði trên đê Sông Ðáy từ phủ Vân Ðình vào Chùa Hương, làng Hòa Xá nằm bên phải, trong lòng sông. Tôi chỉ được về quê ngoại hai hay ba lần thời tôi nhỏ tuổi nên tôi không ghi nhớ được gì nhiều về quê ngoại. Ông Ngoại tôi có một trại trồng mía, nhãn, vải, trại có nhà ép mía nấu mật. Nhà của ông Ngoại tôi trong làng là nhà lầu, lớn, đẹp. Sau năm 1954, bọn cộng sản lấy nhà của ông tôi, dùng làm Nhà Khách, nơi nghỉ của bọn khách cái khối gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa khi chúng đến tham quan. Chúng lấy nhà, cũng được đi, nhưng chúng cu-li ở việc nhà ông tôi có hàng số xi-măng ghi năm 1938 là năm xây nhà, chúng đập hàng số 1938, chúng thay vào đó hàng số 1956, ra cái điều là sau năm 1954 chúng xây nên tòa nhà đó.

Nói về tòa nhà của ông Ngoại tôi, Mẹ tôi ngậm ngùi:

– Ông làm nhà lớn quá, nền nhà cao hơn nền đình. Ngay khi nhà làm xong, người ta đã nói là không khá được.

Năm 1947, quân Pháp mở cuộc hành quân qua vùng làng quê ngoại tôi. Khi ấy, nếu ông Ngoại tôi ở trong tòa nhà trong làng, có thể đã không có gì bất hạnh xẩy ra, nhưng đúng vào hôm quân Pháp bất ngờ ập đến, ông Ngoại tôi ở trong căn nhà ở Trại Vải. Ông Ngoại tôi cho đào hầm trong Trại. Có thể ông Ngoại tôi cho rằng nếu Tây nó đến, nó sẽ vào làng chứ nó không vào trại. Năm ấy, chưa người Việt nào ở Bắc Kỳ có kinh nghiệm về việc đào hầm bí mật, ai đời đào hầm trốn Tây mà lù lù như hầm tránh bom máy bay Mỹ. Bọn lính Tây ném tạc đạn xuống hầm, ông Ngoại tôi, và hai bà Ngoại tôi, Bà Hai, Bà Ba, cùng chết trong hầm.

Ông Ngoại tôi hiếm con trai, bà Ngoại tôi sinh liền ba người con gái, Mẹ tôi là con đầu lòng, bà Ngoại Hai của tôi là em ruột bà Ngoại tôi. Khi tôi 6, 7 tuổi, bà Ngoại tôi đã mất, tôi được gặp bà Ngoại Hai của tôi mấy lần, bà hiền thật là hiền, bà sống ở làng quê, bà cũng lại sinh ra Dì tôi. Thế là hai bà, bốn cô con gái, khi ông Ngoại tôi nạp Bà Ba ông mới có cậu tôi.

Bà Dì của tôi, Dì Lan, con của bà Ngoại Hai của tôi, những năm còn là con gái ở Hà Ðông, có làm thơ, viết văn. Tôi nghe Mẹ tôi kể thơ, văn của Dì tôi được báo ở Hà Nội đăng. Một hôm, có mấy ông nhà báo Hà Nội vào Hà Ðông, đến nhà ông Ngoại tôi để gặp người viết bút hiệu là Sơn Ca, Dì tôi nói Sơn Ca là chị tôi, chị tôi đi vắng.

Những năm 1941, 1942 xẩy ra vụ Dì Lan, bà Thi sĩ Sơn Ca, không biết vì chuyện gì, bỏ nhà vào chùa tu. Ðược tin Dì tôi ở trong một ngôi chùa gần Hà Nội, ông Ngoại tôi nhờ ông Bố tôi đến chùa đón Dì tôi về. Rồi Dì tôi lập gia đình, sống bình yên như mọi người. Chuyện Dì tôi đi tu xẩy ra khi tôi còn nhỏ quá, tôi không được biết gì nhiều.

Quê ngoại tôi, làng Hòa Xá, cũng là làng quê của bà Nữ Sĩ Thụy An, người bị bọn Cộng Sản Hà Nội vu là làm gián điệp cho Pháp, chúng bỏ tù bà 15 năm, bà có họ với Mẹ tôi, bà là vai em Mẹ tôi.

Bàn đèn thuốc phiện đầu tiên, tôi thấy trong đời, là bàn đèn của ông Ngoại tôi. Người nằm bàn đèn hút thuốc phiện thứ nhất tôi thấy trong đời, là ông Ngoại tôi. Trong số cháu nội, cháu ngoại của Ông tôi chỉ có tôi là tên làm văn nghệ, văn gừng và là đệ tử của Cô Ba Phù Dung, nôm na và huỵch tẹt là trong số các cháu của ông tôi chỉ có tôi mần thơ, viết truyện, làm báo và hít tô phe. Những năm tôi 40, 50 tuổi, trong những lúc nhớ ông Ngoại tôi và những ngày sống trong thị xã Hà Ðông hiền hòa, êm đềm, đôi khi tôi nghĩ nếu ông tôi còn sống khi tôi là Hoàng Hải Thủy, khi tôi viết truyện, viết phóng sự vung vít ở Sài Gòn, tôi sẽ được nằm bàn đèn với ông tôi, hai ông cháu vừa đong vừa nói chuyện văn nghệ, văn gừng, chắc ông tôi vui, chắc ông hài lòng vì ông có anh cháu thơ văn giống ông.

Ông Ngoại tôi ra tri huyện, về hưu tri phủ. Tôi nghe mẹ tôi nói ông tôi bị điểm xấu trong Sổ Đen của Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền Pháp. Ông cậu tôi kể chuyện: Năm ông ngoại tôi ngồi tri huyện ở một huyện miên Bắc, có nhân viên Sở Cadastre đến huyện đo đạc lại đất huyện. Nhân viên này người Pháp. Ông ta ở lại huyện vài ngày. Quan Huyện lo cho ông công chức Pháp một chỗ ở riêng, cho một chú lính lệ hầu hạ. Ông Tây này có cái tật gọi là đồng tính luyến ái. Những năm 1970 dân Sài gọi những người bệnh này là Bê Đê – theo tiếng Pédéraste – nửa đêm ông Tây đè chú lính lệ xuống. Chú lính sợ quá kêu toáng lên. Tưởng có cướp, quan huyện cũng phải chạy tới.

Chuyện chỉ có thế. Không có gì quan trọng lắm. Nhưng một nhật báo ở Hà Nội đăng chuyện đó trong mục chuyện phiếm, chuyện khôi hài. Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền nghi ông Tri Huyện sở tại là người kể chuyện đó với phóng viên nhà báo. Ông Huyện sở tại – ông Ngoại tôi – bị cho note xấu. Do đó, ông tôi ra làm việc là tri huyện, về hưu là tri phủ.

3 Responses

  1. […] Cơn mưa tình yêu (Tương tri). – NỤ TẦM THANH 2013 (Hoàng Hải Thủy). – Ông Ngoại Hà Đông. – Hồ Trường An – Nguyễn Chí Thiện vối tập truyện Hỏa Lò […]

  2. […] – Cơn mưa tình yêu (Tương tri). – NỤ TẦM THANH 2013 (Hoàng Hải Thủy). – Ông Ngoại Hà Đông. – Hồ Trường An – Nguyễn Chí Thiện vối tập truyện Hỏa Lò (DĐTK). – Nhà […]

  3. Bác ơi, ông nội cháu bị bắt mất tích tại Hà Đông năm 1947, tịch thu hết tài sản rồi sau đó được chính quyền cho thuê lại cái nhà trên đường Quang Trung. Bác gửi cháu số điện thoại qua duclelo@gmail.com
    Chúng cháu đang muốn tìm ông và xác minh lại một số Thông tin.

    Cảm ơn bác nhiều

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: