• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

CHUYỆN HAI NGƯỜI

Chuyện hai người ở đây là chuyện ông Nhà Văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt  và ông Nhà Văn Vũ Khắc Khoan.

Tranh CHÓE

Tranh CHÓE

Tôi được quen biết hai ông. Tôi thân với ông Hoạt, tôi không được thân với ông Khoan, nhưng có thời gian chừng 6 tháng tôi làm việc chung một tòa soạn nhật báo với hai ông.

Thời gian đó vào khoảng tháng Sáu năm 1964. Tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý, dẹp bỏ chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, cho “Quốc Trưởng” Dương Văn Minh ngồi chơi sơi nước. Ông Bùi Tường Huân làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục trong chính phủ Thủ Tướng Nguyễn Khánh – ông Huân, tôi nghe nói là ông anh hay ông em bà vợ ông Vũ Khắc Khoan. Tôi cũng nghe nói ông Bùi Tường Huân được các ông Sư đưa vào chính phủ.  Ông Nguyễn Hoạt được giấy phép ra nhật báo Ngày Nay. Ông Nguyễn Hoạt làm chủ nhiệm, ông Vũ Khắc Khoan làm chủ bút. Thời ấy ông Nguyễn Hoạt được lực lượng Phật Giáo ủng hộ. Ông Hoạt có tham gia phong trào phản đối và cuộc lật đổ chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tôi nghe nói ông có viết và in truyền đơn kể tội cái gọi là Nhà Ngô độc tài, có vài tháng trước ngày đảo chính, sợ bị bắt, ông lánh đi ở nhà khác.

Tháng Tư năm 1964, nhật báo Sàigònmới, nhật  báo Ngôn Luận, hai nguồn tiền lương chính của tôi, bị chính phủ đóng cửa. Tội của hai tờ báo – do Ðỗ Mậu họp báo nói: “Cấu kết với Nhà Ngô.” Ðang kiếm được trên dưới 30.000 đồng một tháng, tôi không kiếm nổi một tháng 5.000 đồng. May cho tôi là nhật báo Ngày Nay mới ra cần một thư ký tòa soạn, Chủ nhiệm Nguyễn Hoạt gọi tôi đến  làm cho Ngày Nay, trả tôi lương tháng 12.000 đồng. Tôi báo tin tôi làm báo Ngày Nay, lương tháng 12.000 đồng với vợ tôi, nàng mừng:

“Thế là mình yên tâm. Có 12 ngàn đồng một tháng, chúng ta sống vững hơn bàn thạch.”

Ông Nguyễn Hoạt cũng như ông Vũ Khắc Khoan, hai ông là nhà văn, không ông nào biết điều hành một nhật báo. Về việc điều hành nhật báo, làm chủ báo, hai ông kém xa ông Chu Tử.

Ban biên tập Nhật báo Ngày Nay rất hùng hậu: có ông Vũ Hoàng Chương làm Thơ Vui mỗi ngày một bài, có ông Nguyễn Gia Trí vẽ biếm họa, ông Nhà Văn Ðỗ Ðức Thu viết phơi-ơ-tông. Chủ nhiệm Nguyễn Hoạt trịnh trọng loan báo Ngày Nay đăng Hồi Ký của Thượng Tọa Thích Trí Quang. Nhưng Ngày Nay  chỉ loan báo mà không có hồi ký. “Ngài”: Thượng Tọa Thích Trí Quang quá bận. Rất có thể Thượng Tọa không hứa nhưng ông chủ báo Ngày Nay cứ loan tin, để ép Thượng Tọa phải viết. Ông Hoạt cho cô cháu ngày ngày đến chùa chờ Thượng Tọa đọc cho cô ghi Hồi Ký, nhưng Ngày Nay vẫn không có hồi ký của  “Ngài” như báo đã loan. Trên manchette báo – manchette: tên báo – có hình Bánh Xe Luân Hồi. Nhưng Phật tử không mua, người không phải là Phật tử lại càng  không mua Ngày Nay. Tờ báo bán không được.

Một số ông bỏ tiền góp vốn cho hai ông nhà văn làm nhật báo, tôi nghe nói số tiền khoảng 1 triệu đồng. Hai ông nhà văn làm tiêu tan số vốn 1 triệu đồng trong khoảng 6 tháng. Với ông Chủ nhiệm Nguyễn Hoạt, ông chủ bút Vũ Khắc Khoan, nhật báo Ngày Nay như cái thùng không đáy. Không còn ông có tiền nào dám bỏ thêm tiền cho hai ông nhà văn đốt. Ngày Nay chết queo. Ðời tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó.

Chuyện xưa rồi, tôi không hào hứng kể nhiều hơn. Tháng Tư 1975 đến, ông Vũ Khắc Khoan chạy thoát sang Hoa Kỳ, ông Nguyễn Hoạt kẹt lại. Năm 1984 ông Nguyễn Hoạt bị bọn cộng an Thành Hồ  bắt về tội phản động. Một đêm khuya năm 1985, người tù chính trị Nguyễn Hoạt bất tỉnh trong phòng tù Số 11 khu ED Nhà Tù Chí Hòa.  Cai Tù cho một anh tù khỏe mạnh cõng, hay bồng, ông xuống cái gọi là trạm xá – phòng bệnh của nhà tù – Ông tù Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong đêm ấy.

Ông chủ nhiệm Nguyễn Hoạt và ông chủ bút Vũ Khắc Khoan của nhật báo Ngày Nay có hai dòng đời giống nhau ở đoạn đầu, khác hẳn nhau ở đoạn cuối. Ðoạn đầu: hai ông cùng là dân Bắc Việt di cư, tên tuổi hai ông nổi lên trong Làng Văn Quốc Gia VNCH cùng một thời, những năm sau năm 1954; đoạn cuối: ông chủ bút Vũ Khắc Khoan sang Mỹ, qua đời ở Mỹ Quốc, ông chủ nhiện Nguyễn Hoạt chết lạnh, chết cô đơn, chết thảm  trong cái gọi là trạm xá – phòng bệnh – của Nhà Tù Chí Hòa.

Ở Mỹ, ông Vũ Khắc Khoan viết:

Ðọc Kinh. Ðoản văn Vũ Khắc Khoan. Nhà Xuất bản An Tiêm ấn hành ở Paris năm 1990. Trích:

Nói ra là bị kẹt

Không nói ra cũng không xong.

Hai câu đầu một bài kệ của một thiền sư Việt Nam sống giữa thế kỷ 17, thiền sư Chân Nguyên. Hai câu kệ, một thế đứng chênh vênh giữa hai ngả hữu vô. Nói hay không nói? Chung cuộc, bài kệ đành phải chấm dứt bằng một nét chấm phá lửng lơ:

Vì anh đưa một nét
Ðầu núi ánh dương hồng

*

Tôi duỗi thẳng chân, ngửa mặt nhìn nắng sớm xuyên qua miếng băng bám nơi khung cửa, ánh nắng lung linh mầu sắc cầu vồng. Tự hỏi nắng sớm đích thực màu gì? Xanh hay đỏ, tím hay vàng, hay là do tất cả màu sắc gặp gỡ mà thành? Nhưng có cuộc gặp gỡ nào kéo dài mãi mãi? Ánh dương đầu núi đâu giữ mãi mầu hồng? Cái thế chênh vênh giữa hũu và vô đâu có thể đời đời tồn tại? Cái khó là nhập vào cái thế đó, không thỏa hiệp, mà vươn lên, và vượt qua. Từ cái phức tạp tìm về cái đơn thuần, tìm về cho tới cái khuôn mặt của chính mình khi mình chưa sinh, chưa thành. Ánh dương hồng khi chưa nhô lên khỏi đầu núi. Cái xôn xao nhú lên trong đêm sắp tàn. Cái đó.

Ngoài vườn tuyết rơi trắng và lạnh trong im sựng của trời và đất. Trong lò củi nổ ròn tan, ngọn lửa thấp cao ấm mầu hổ phách. Ngoài kia, vắng lặng..Trong tôi..vẫn chưa vắng lặng. Trong tôi, tôi vẫn thấy rằng..chưa ổn.

Ðẩy thêm củi vào lò. Củi gỗ cây phong phơi nỏ từ vào thu, lửa như bốc ngọn từ lòng gỗ. Mộc trung sinh hoả. Mộc tận hỏa hoàn diệt. Lửa sinh trong lòng gỗ. Gỗ hết lửa không còn. Lửa không còn, nghĩa là sao? Lửa sẽ biến thái tuy vẫn tồn tại hay cũng như khói và mây, lửa sẽ trở về, sẽ đi vào lòng cái đó tuyệt mù?

*

Tôi đặt cuốn Duy Ma Cật xuống bên lò sưởi, nhồi thuốc vào tẩu, hít hơi thuốc đầu trong ngày. Hơi thuốc thơm tỏa ấm gian phòng. Bất giác tôi nghĩ đến một mùi hương lạ. Một mùi hương như một phương tiện nói pháp. Mùi hương cõi nước Giáng Hương. Trở lại cuốn kinh:

“Qua khỏi 42 số cát sông Hằng cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương, đức Phật thị hiện nơi đó là Phật Hương Tích. Mùi hương nước đó so với mùi hưong cõi trời, cõi người và các cõi Phật ở mười phương, nó thơm hơn hết. Ðức Phật Hương Tích lấy mùi làm phương tiện để nói pháp. Chúng sinh cõi nước Chúng Hương nghe mùi hương mà ngộ đạo.”

Tôi hít dài một hơi thuốc. Ðầy phổi. Hơi thuốc nghe như có pha trộn nhiều mùi hương cũ tôi tưởng đã phai, đã tuyệt mù. Mùi úa hoa ngọc lan, mùi ấm hoa hồng, mùi ngát hoa cau, mùi đạm hoa sói, hoa ngâu, mùi đắng hoa sấu nắng hè tháng sáu, mùi nồng hương đêm dạ lý. Và mùi ngát của nhang.

o O o

Ông Nghiêm Xuân Hồng, ở Mỹ, viết về ông Vũ Khắc Khoan.

Ðọc Kinh. Nghiêm Xuân Hồng: Nhân Ngày Kỵ Họ Vũ.

Tôi bình sinh tin quỷ thần cùng chuyện luân hồi, mặc dầu rất lười biếng việc cúng kiếng. Vì thiển nghĩ không có lý gì chỉ có đơn độc một kiếp sống chợt đột khởi lên rồi lại tan biến vào hư vô, cũng như trong pháp giới huyền hoặc này, không lý gì lại vỏn vẹn chỉ có người và súc sinh.. Ðó cũng là một câu chuyện mà xưa kia, trong nhiều lúc trà dư, tửu hậu, Vũ Khắc Khoan và tôi hay nhắc đến.

Một lần, tôi bảo họ Vũ rằng những chuyện Liêu Trai đều là việc có thực xảy ra trong dân giả, không phải là những ngụ từ châm biếm của họ Bồ đâu. Một danh sỹ như họ Bồ đâu có thì giờ  viết châm biếm, và đó đều là những mẩu tình duyên giữa những loài quỉ mị cùng những thư sinh nhiều mộng tưởng  và từng trồng nhiều tình căn.

Cách đây chừng một năm, tôi có dịp được ngồi thuyền du ngoạn trên một chiếc hồ lớn tỉnh Hàng Châu..Ðứng trên mạn thuyền, chợt nghĩ tới những vị quỉ thần nơi biển hồ đó đã từ lâu không được nghe một giọng nói của người tụng thần chú Thủ – lăng – nghiêm. Nên tôi đã khởi tâm tụng 3 biến thần chú đó lớn tiếng và rải xuống mặt hồ.

Tôi cũng ít hay nhớ nhung nhưng lúc đó, không hiểu tại sao, tôi bỗng cảm thấy rộn ràng nhớ họ Vũ.

Trên đường về, tôi trạnh lòng nghĩ rằng có thể là họ Vũ đã thọ sinh làm một vị thần nơi hồ này. Vì cái vụ đó có thể hợp với duyên nghiệp và tâm tình của anh ta.

Tịnh Liên

Nghiêm Xuân Hồng

Và đây là chuyện ông Vũ Khắc Khoan viết về ông Nghiêm Xuân Hồng.

Tịnh Liên lão ông với Khoan tôi vốn là chỗ thâm giao, lại là móng vuốt trong chốn thiền môn, mê đọc kinh như tuổi hai mươi mê đọc thư tình, gần đây vì thương cho sự hoang rậm của lòng người xa nước, nên đã dốc lòng đem tất cả cái sở đắc của mình mà viết lời sơ giải mấy bộ Ðại Thừa. Viết đến đâu hoằng bá đến đó và đều đều gửi tới Khoan tôi, với lời răn nhủ rằng: Này ông Vũ Khắc Khoan ơi, ông phải bớt đàn đúm với bọn lãng tử để dành thì giờ mà tu tỉnh đọc kinh. Rằng:

“Này Vũ Khắc Khoan, ý ông thế nào? Giả sử có người đem 7 món báu chứa đầy cả đại thiên thế giới mà bố thí thì người đó có nhiều công đức hay không?”

Tôi rằng:

“Thì nhiều.”

Ông chỉ đợi có thế, tiếp ngay

“Ấy thế mà còn thua một người chỉ thọ trì 4 câu kệ hay nhẩm thầm một đoạn kinh. Biết không?”

Biết rồi nhưng khốn một nỗi Khoan tôi căn cơ thô lậu, tâm thức lại hay lưu luyến tiếng tơ, tiếng trúc, cho nên chân tuy đĩnh đạc bước thẳng mà vẫn thấy tạt ngang vào nơi ca lâu, tửu quán, giọng cất lên muốn bàn câu đạo lý mà vô tình vẫn họa cùng một điệu với tiếng cười hô hố của đám lãng tử sông hồ. Cũng do vậy mà bao nhiêu kinh sách bạn vàng gửi đến, thảy đều được trịnh trọng xếp lên giá sách, giữ gìn cẩn thận. Thế thôi. Nhưng ngại đọc. Thảng hoặc có miễn cưỡng mở ra thì cũng loáng thoáng mấy trang cho đến khi khựng lại trước những danh từ dựng lên chất ngất.

Trước mặt, sau lưng, bên tả, bên hữu, trên đầu. Như một hàng rào nhọn hoắt. Như một tấm lưới trùng trùng. Tôi choáng váng tìm định nghĩa. Tôi đặt vấn đề. Rút cuộc, cuốn kinh từ giá sách được mở ra trên bàn đọc, lại trở về nguyên chỗ cũ, trên giá sách. Miệng Phật lại nín thinh. Khoan tôi lại lầm lũi trở về cái thế giới chữ nghĩa cũ kỹ ngày xưa.

o O o

Ðọc Kinh. Ðoản văn của Vũ Khắc Khoan. An Tiêm xuất bản năm 1990, 60 trang, trong có 10 trang bài ông Mai Thảo viết, tựa đề “Thế giới Vũ Khắc Khoan.”

Tôi – CTHÐ – chỉ trích vài đoạn đầu trong bài ông Mai Thảo, khi ở Cali, viết về ông Vũ Khắc Khoan:

Thế giới vũ khắc khoan

Những người du khách Mỹ hồng hào no ấm y phục xứ lạnh dầy nặng sặc sỡ đi về thường từ mười năm nay ở phi trường Minneapolis, tiểu bang Minnesota, lâu lâu một lần, lại nhìn thấy đơn độc khác lạ giữa họ một cặp vợ chồng Á châu, như  họ, cũng tới phi trường đợi chờ một giờ máy bay cất cánh.

Cặp vợ chồng đó, sau mỗi mùa đông Minnesota, càng đi thêm vào cái phong thái lão, hạc tách thoát trong suốt là khởi sự của tuổi già. Tuy người chồng vạm vỡ, lùn thấp và người vợ mảnh mai cao gầy đi đứng vẫn nhanh nhẹn vững thẳng giữa cái suối người Tây phương ào ạt ở chung quanh.

Họ cùng tiến vào một phòng đợi tường gương sáng láng nhìn xuống một phi đạo đông bắc dài vút giữa cái địa hình thủy mạc kỳ ảo diễm lệ của Vạn Hồ. Nhìn cặp vợ chồng gốc gác từ xa thẳm đông phương huyền bí này giữa một phi trườøng Mỹ sánh vai ngồi xuống ghế ở một góc đợi riêng, như họ chỉ có thể ở cạnh nhau suốt một đời như vậy, mọi người có thể đặt ra nhiều giả thuyết. Từ những giả thuyết bình thường nhất đến những giả thuyết khác thường nhất. Về thân thế họ. Về nguồn gốc họ. Cả chuyến bay họ đang đợi chờ một cách vừa hết sức ung dung vừa vô cùng nhẫn nại, để bay lên. Vẻ lẫm liệt rất Thái Cực Ðạo của người chồng nước da đồng hun và mái tóc trắng tuyết ( hồi còn trẻ, tao chỉ đánh một cái là thằng đó chết ) hợp đồng với vẻ âm u nhợt nhạt của người bạn đời, suy nghĩ – chỉ cần thêm một giọt tưởng tương của võ hiệp Kim Dung – đến một cặp lão trượng hiền lành ngồi kia nhưng giấu kín võ công cao cường vô tả, đến tuổi gác kiếm quy ẩn rồi mà vẫn còn phải dùng phản lực Mỹ, bởi một mối thù ở xa giải quyết chưa xong. Rồi thấy họ trao quẹt, trao thuốc cho nhau cùng đốt cùng phì phèo hút, lại có thể nghĩ họ là cặp vợ chồng Ðông Y Phúc Kiến, tới địa phương để kiểm tra một thần dược mọc giữa đám kỳ hoa, dị thảo trùng điệp của Vạn Hồ.

Và chuyến đi? Họ đi đâu? Xuống sa mạc phương nam tầm thù? Hay lưu lạc đã một đời nay trên đường quy hồi cố hương, ở một điểm nào đó của Á châu xa thẳm, mặc áo vải, đi giày cỏ, gặp lại giòng sông xưa, thềm nhà cũ, xóm giềng và con cháu sau bao năm xa cách, sống an nhàn phần đời còn lại dưới vòm trời từ tuổi trẻ đã ra đi.

Ngưng trích

Nhà Văn Vũ Khắc Khoan

Nhà Văn Vũ Khắc Khoan

CTHÐ: Tôi viết sang chuyện người thứ hai trong bài “Chuyện Hai Người.” Ông Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tôi thân với anh nên tôi gọi anh là anh.

Theo tôi, quê ngoại của anh Hoạt là làng La Khê, một làng quê cách thị xã Hà Ðông khoảng 2 cây số. Vào một mùa hè tôi không nhớ là năm bao nhiêu, 1942 hay 1943, anh Hoạt dậy khóa học hè hai tháng ở trường Tự Ðức, một trường tiểu học tư ở thị xã Hà Ðông. Trong số học trò của anh có tôi. Năm 1958 tôi gặp lại anh ở Sài Gòn, anh làm báo Tự Do, tôi làm báo Sàigònmới. Anh không nhớ tôi, tôi nhớ anh, tôi kể với anh năm xưa tôi là học trò của anh. tôi kết thân với anh.  Những năm đầu ở Sài Gòn anh viết truyện dài phơi-ơ-tông “Trăng Nước Ðồng Nai ” trên báo Tự Do. Rồi truyện dài “Tỵ Bái.” Anh thế chân ông Mai Nguyệt viết mục “Nói hay Ðừng” trên báo Tự Do. Thời ông Tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư Lệnh Quân Khu 1, Quân Ðoàn 1, ông Tướng mời anh Hoạt  làm cố vấn chính trị. Nhờ thời gian này và nhờ ông Tướng giúp,  anh có tiền mua căn nhà mới khang trang hơn ở trong xóm Cổng Xe Lửa số 6 đường Trương Minh Giảng. Vì ở sau nhà thờ Bùi Phát, xóm này có khi được gọi là Xóm Bùi Phát.

Dòng thời gian qua mau. Những năm 1981, 1982, anh Hoạt và tôi cùng sống buồn và túng thiếu. Có những chiều buồn quá chịu không nổi  tôi đến rủ anh đi uống rượu. Chúng tôi phải chung tiền mới có 20 đồng tiền Hồ thổ tả đủ để mua hai bìa đậu hũ sống, một gói lạc rang, một cút rượu trắng, uống với nhau trong chợ Bùi Phát. Chúng tôi tửu lượng kém, chỉ một cút rượu cũng đủ cho hai anh em tôi có một chiều đỡ buồn.

Năm 1984, tôi bị bắt Tháng 4. Cùng bị bắt với tôi là các anh Doãn Quốc Sĩ, Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Dương Hùng Cường, cô Lý Thụy Ý. Một tháng sau anh Hoạt bị bắt vào Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Tháng 5 năm 1985 anh Hoạt sang Nhà Tù Chí Hòa trước chúng tôi. Tháng 6 năm 1985 khi tôi xách mùng chiếu vào phòng 10 khu ED Nhà Tù Chí Hòa, anh Hoạt ở phòng tù 11 cùng khu.

Phòng tù chúng tôi sát nhau nhưng anh Hoạt và tôi ít khi trông thấy  nhau, chúng tôi cũng chẳng có tin gì, chuyện gì để nói với nhau. Chỉ một lần duy nhất  phòng tù số 10 được mở cửa cho tù ra xách nước, tôi ra ngồi ở hành lang, anh Hoạt ở phòng tù số 11 trông thấy tôi. Chúng tôi trao đổi với nhau vài câu.

Anh Hoạt nói:

“Lúc tôi đi, tôi dặn con gái tôi: con nhớ ngày này làm giỗ cho bố. Vợ tôi nói: “ Ông có về với tôi thì về, tôi không đi thăm ông được đâu, tôi yếu quá rồi.”

Và anh nói:

“Có câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Một ngày tù bằng ngàn năm ở ngoài. Mình ở tù 600 ngày rồi. Tính ra mình nhiều tuổi hơn ông Bành Tổ.”

Anh đọc qua song sắt cho tôi nghe bài thơ Ðường anh làm trong tù. Tôi nghe mà không nhớ. Như tôi đã kể, có thể vì bị cao áp huyết, lại chịu không nổi cảnh nhốn nháo, lao xao trong phòng tù quá đông người, nhốn nháo đầy người tù 6 giờ sáng đến 10 giờ đêm,  nên vào khoảng 11 giờ đêm, người tù Nguyễn Hoạt nằm ngất. Một anh tù trẻ trong phòng tù số 11 la lớn qua hai hàng song sắt:

“Báo cáo cán bộ: phòng 11 có người bệnh nặng. Xin cấp cứu.”

Sau chừng 10 tiếng la vang động khắp Lò Bát Quái, cai tù trực đêm lạch xạch chùm chìa khóa, lên mở cửa phòng tù, cho một anh tù trẻ, khoẻ cõng người tù bệnh xuống cái gọi là trạm xá. Từ phòng 9, anh Hoạt được cõng qua trước phòng 10 trong có tôi. Sáng hôm sau tôi được tin anh Hoạt đã chết trong đêm.

Tôi nằm phơi rốn trong nhà tù Chí Hòa 4 năm nhưng tôi không biết cái gọi là “trạm xá” của Chí Hòa nó nằm ở khu nào của nhà tù lớn này. Tôi không một lần đến đó. Nghe nói đời sống của người tù ở trạm xá đỡ khổ hơn. Người tù bệnh được nằm giường, được ăn cơm nóng, canh nóng. Phòng bệnh ít người nên yên tĩnh hơn phòng tù tập thể. Theo cái gọi là Luật nhà tù Việt Cộng, người tù chết bị đưa xuống nhà xác trong nhà tù. Tù chết ở Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Ðăng Lưu, hay ở những nhà giam quận, đều được đưa về Nhà Xác Chí Hòa. Tại đây bọn gọi là pháp y mổ, xẻ, cắt tanh bành xác người tù. Chúng làm thế để chúng học về cơ thể con người. Không bao giờ có chuyện nhà tù Việt Cộng giao xác người tù chết trong tù cho người nhà mang về chôn. Chúng sợ cuộc đưa ma biến thành cuộc nhân dân biểu tình lên án chúng. Người tù chết, bọn cai tù gọi vợ con người tù đến nhà xác nhìn mặt người tù lần cuối, chúng cho xác người tù vào áo quan do chúng cung cấp, cho quan tài lên xe nhà tù, đưa lên chôn ở nghĩa địa Lái Thiêu. Vợ con người tù có thể lên xe chở quan tài người tù. Tôi chỉ thấy có ông Tù Hồ Hữu Tường, đang chịu án tù, được về chết ở nhà ông. Nhưng đó là do ông đau nặng, người nhà ông được cai tù cho phép đưa ông về bệnh viện Sài Gòn chữa. Xe do người nhà ông HH Tường mướn. Xe về gần đến Sài Gòn  thì ông Tường tắt thở, anh công an trại tù cho đi theo xe còn trẻ, muốn có dịp dạo chơi Sài Gòn, bằng lòng cho người nhà ông Tù đưa xác ông về nhà ông.

Không biết có lúc nào trong đêm người tù Hiếu Chân Nguyễn Hoạt tỉnh lại và biết là mình đang nằm trơ trọi, đói, lạnh chờ chết trong nhà tù cộng sản hay không? Tôi không thể và tôi không dám tưởng tượng anh Hoạt nghĩ gì trong khoảnh khắc anh tỉnh lại trước khi chết. Tưởng tượng lúc ấy anh nghĩ gì và gán ý nghĩ ấy cho anh là hỗn xược với anh. Ở Mỹ Quốc, buổi sáng mùa đông, ông Vũ Khắc Khoan nằm trong phòng ấm, giường ấm, lò sưởi gỗ phong khô nổ lách tách, nhìn hoa tuyết ngoài cửa sổ nghĩ sự đời. Ðêm khuya trong phòng bệnh nhà tù Chí Hòa tối âm u, lạnh, hôi, tanh, tôi nghĩ có thể lúc ấy anh Hoạt thèm một hơi khói thuốc lào.

Tháng Tư năm 1986, trước khi bọn Cộng họp cái gọi là Ðại Hội 6, bọn Tòa ÁnThành Hồ định đưa nhóm chúng tôi ra tòa; trong lệnh gọi ra tòa do một nhân viên tòa án đem vào nhà tù đọc cho chúng tôi nghe có ghi tên anh Nguyễn Hoạt. Bọn tòa án gọi người tù ra tòa mà không biết rằng người tù ấy đã chết.

Những năm 70, trong một tiệm hút ở Cây Da Xà, anh Hoạt nói:

“Tầu nó có câu này: Cần tiền như anh nghiện cần đếu thuốc phiện sau bữa ăn.”

Anh nói:

“Mượn như Lưu Bị mượn Kinh Châu.”

Một lần nằm đọc tờ báo Xuân, anh nói:

“Bài “Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai” là bài kệ của một thiền sư Tầu. Ông Mẫn Giác thích bài đó, ông ấy chép lại. Ông ấy chết, người ta tìm thấy bài kệ ấy trong số giấy tờ của ông. Ngô Tất Tố vớ được, viết là của Mẫn Giác. Tầu nó đã viết mấy bài về chuyện ấy với bằng chứng. Mà mình thì Tết nào cũng lôi bài ấy ra, ca là của Mẫn Giác.”

Anh kể:

Thời kháng chiến.. ở.. Hội Liên Hiệp Phụ Nữ làm chợ phiên. Trời mưa dầm. Chợ phiên không có khách. Hội Phụ Lão Cứu Quốc bị động viên đi chợ phiên. Các cụ đi, đường trơn lại có ụ đắp, nhiều cụ ngã sưng cả đầu. Có cụ làm câu đối:

“Liên Nữ lỗ to, Liên Nữ ế.
Lão Thành trầy trật, Lão hành sưng. “

Nếu anh Hoạt sang được Mỹ, tôi chắc ngoài việc viết anh còn hoạt động chính trị, vì anh là người trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng, cùng hệ phái với ông Nguyễn Tường Tam.

Tôi hay nằm bên bàn thờ Cô Ba Phù Dung với anh Hoạt. Anh hay đi hút nhưng anh không bị nghiện như tôi. Anh có cái xe ô tô 2 chevaux nên anh thường chở tôi vào hút trong khu gọi là Cây Da Sà ở Phú Lâm. Khu này là khu của người Tầu Bắc Việt di cư, khu có nhiều tiệm hút. Ở đây các tiệm hút mở cửa gần như công khai– có lần anh Hoạt đưa ông Nhất Linh vào đây hút. Tôi nhớ anh kể chuyện ngày xưa anh trẻ, một tối bà chị anh đi lấy bộ y phục của anh ở tiệm giặt ủi để sáng mai anh mặc đi làm:

“Chị tôi mắt kém. Trời đã tối lại mưa. Chị tôi ngã xuống giếng. Tôi nghe tiếng chị tôi gọi lên “Cậu ơi. Cứu chị với.” Khi người ta đưa chị tôi lên được khỏi giếng, chị tôi đã chết.”

Con gái anh, cháu Vĩnh, nay là cô giáo, Vĩnh có tập Thơ mới xuất bản. Thơ Vĩnh có hồn, rất được.

o O o

Ði thuyền trên một cái hồ ở Hàng Châu, ông Tịnh Liên cư sĩ Nghiêm Xuân Hồng nghĩ về ông bạn họ Vũ của ông:

“Trên đường về, tôi trạnh lòng nghĩ rằng có thể là họ Vũ đã thọ sinh làm một vị thần nơi hồ này.”

Tôi – CTHÐ – théc méc: “Không biết ông Nhà Văn Vũ Khắc Khoan đã làm  những công đức gì với dân Tầu mà ông được Thượng đế Tầu cho làm Thần một cái hồ ở Hàng Châu!”

Ông Mai Thảo viết về vợ chồng ông Vũ Khắc Khoan:

Vẻ lẫm liệt rất Thái Cực Ðạo của người chồng nước da đồng hun và mái tóc trắng tuyết  chỉ cần thêm một giọt tưởng tương của võ hiệp Kim Dung – đến một cặp lão trượng hiền lành ngồi kia nhưng giấu kín võ công cao cường vô tả, đến tuổi gác kiếm quy ẩn rồi mà vẫn còn phải dùng phản lực Mỹ, bởi một mối thù ở xa giải quyết chưa xong. Rồi thấy họ trao quẹt, trao thuốc cho nhau cùng đốt cùng phì phèo hút, lại có thể nghĩ họ là cặp vợ chồng Ðông Y Phúc Kiến, tới địa phương để kiểm tra một thần dược mọc giữa đám kỳ hoa, dị thảo trùng điệp của Vạn Hồ.

Và chuyến đi? Họ đi đâu? Xuống sa mạc phương nam tầm thù?”

CTHÐ: Phải là Nhà Văn Nhớn chân chính mới có thể viết những lời hùng, huyền đẹp như thế về một cặp vợ chồng người Việt như trăm ngàn cặp vợ chồng người Việt khác trong một phi cảng Mỹ.  Việc hai vị lão trượng hút thuốc thoải mái trong phi cảng Mỹ cho người đời sau biết trong những năm nhị vị đáp phi cơ Mỹ từ Minnesota về California, nước Mỹ chưa có chuyện Cấm Hút Thuốc Lá nơi công cộng.

Ðêm Thanksgiving 2013, nhớ và thương anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, tôi có mấy câu:

Cùng một tội, trong tù lận đận
Tù gập tù, biết mấy thương nhau.
Từ xa Bùi Phát bấy lâu
Chí Hòa lao ngục gối sầu hôm mai.

Advertisements

6 Responses

  1. Phan Nghị có làm việc cho VC.hay không thì cũng khó khẳng định
    vì hoạt động tình báo thường bí mật và người đó được sống hay
    chết thì tuỳ thuộc vào tổ chức trực tiếp mà ông ta dính líu.Trừ ra
    người đó nổi tiếng và tiết lộ hành tung là có lợi cho CsVN.chẳng
    hạn như P.X.Ẩn hay V.N.Nhạ.Còn loại làng nhàng hay tép riu thì
    nhà nước VC.cũng chẳng cần gì phải tiết lộ.
    Về Phạm Ngọc Thảo thì phải tự xử vì “mission” bị thất bại nên bị
    xem như vô thừa nhận,để tránh nghi ngờ từ phía VNCH.
    Có điều đáng chú ý là nhà văn Vũ Bằng có giấy chứng nhận “CÓ CÔNG với CÁCH MẠNG”,dù đọc những gì ông ta viết thì chẳng
    có gì gọi là làm việc cho VC.cả.
    Theo tôi,VNCH.thua trước hết là ở mặt trận tình báo,phản gián vì
    sau khi TT.NĐDiệm sụp đổ thì VC.phục hồi hoạt động nằm vùng
    và những cán bộ giỏi về tình báo của VNCH.đều bị thủ tiêu hay
    tù tội với lý do là “dư đảng Cần Lao”.Từ thất bại về tình báo-gián
    điệp dẫn đến thất bại toàn cục như những quân bài Domino.

  2. […] phố – di sản văn hoá của một đô thị (FB Hậu Khảo Cổ/ Trần Hùng). – CHUYỆN HAI NGƯỜI (Hoàng Hải Thủy). – Đa phu -1 (Nguyễn Quang Lập). – Nguyên Sa (Phan Nguyen). – VĂN HÓA […]

  3. Ông Bùi tường Huân là em vợ ông Vũ khắc Khoan.
    Vào nội các của Nguyễn Khánh là do đảng Đại Việt mà ông gia nhập lúc 16 tuổi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: