• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

Thanksgiving 2013

Trang báo Hồn Việt. Những người trong ảnh: Ngọc Hoài Phương, Hoàng Hải Thủy, Hồng Dương, Lâm Tường Dũ. Cali. January 1995.

Trang báo Hồn Việt. Những người trong ảnh: Ngọc Hoài Phương, Hoàng Hải Thủy, Hồng Dương, Lâm Tường Dũ. Cali. January 1995.

Thanksgiving 2013. Ðêm. Tôi nhớ những người bạn đã làm ơn cho vợ chồng tôi từ năm 1954. Nhiều bạn. Trong số có hai bạn tôi viết lời Tạ Ân trong bài viết đêm nay.

Việc làm của hai bạn làm tôi xúc động. Năm 1974 nhật báo Sàigònmới, nhật báo Ngôn Luận – hai nguồn tiền chính của tôi – bị chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Khánh đóng cửa. Tội “cấu kết với Nhà Ngô.” Ðời tôi và đời sống của vợ con tôi đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó. Tôi thất nghiệp – tôi không có báo nào để làm với lương tháng – chu kỳ lá đa ca dao này kéo dài cả năm. Vợ chồng tôi về ở trong một căn nhà vách ván Xóm Chuồng Bò, đường Petrus Ký. truớc bến xe đò đi Ðà lạt. Một buổi chiều khoảng 5 giờ,  thấy có bóng người đến trước cửa, tôi ra đón. Hồng Dương và Linh Linh Ngọc đến, dắt theo đưá con trai thứ nhất của họ. Hồng Dương bảo tôi:

Hồng Dương trên xe lăn. Ảnh năm 2010.

Hồng Dương trên xe lăn. Ảnh năm 2010.

“Tôi đã nói để Chính Luận mời anh viết phơi-ơ-tông. Xong cả rồi. Mai anh có thể đến đưa bài.”

Trước khi Chính Luận ra số 1, Từ Chung đã mời tôi viết phơi-ơ-tông cho Chính Luận. Tòa báo đã chi cho tôi nguyên một tháng lương. Lúc ấy đời tôi đang tuột dốc, tôi gặp nhiều chuyện bê bối, tôi lãnh tiền mà không đưa bài. Từ Chung là bạn mày tao với tôi. Anh giận tôi. Tôi không thể nào vác mặt mốc đến gặp Từ Chung:

“Tao đói. Thu xếp cho tao viết truyện.”

Hồng Dương thương tôi không có việc làm. Trong một cuộc họp tòa soạn, anh  đề nghị tòa báo mời Hoàng Hải Thủy viết. Nhiều người ngần ngại. Người viết truyện H2T còn nổi tiếng vì cái tật đưa bài muộn, đưa bài thiếu, làm cho ban xếp chữ gặp nhiều phiền nhiễu. Hồng Dương bảo đảm lần này H2T sẽ viết đàng hoàng, không bê bối.

50 năm sau ngày chịu ân ấy, đêm nay, một đêm Tháng 11 năm 2013, tôi viết lời Tạ Ân Hồng Dương.

Nhưng nay dù tôi có nói một ngàn câu: “Hồng Dương ơi.. Cám ơn.” Hồng Dương cũng không nghe, không biết. Cách đây khoảng hai năm,Hồng Dương bị bại liệt. Nay người bạn trẻ hơn tôi khoảng năm, sáu tuổi, vẫn sống nhưng không còn biết, không còn nhớ.

Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi đến Virginia. Tháng 12 cùng năm, Hồng Dương mời vợ chồng tôi sang thăm Cali. Bạn cho tôi có dịp gặp lại những người bạn cũ, bạn mới, những độc giả của tôi.

Lúc 9 giờ tối nay tìm trong bao giấy chứa những bài báo cũ, tôi tìm thấy bài viết của Hồng Dương. Bạn tôi viết bài này trong tháng January 1995. Như vậy, bài này có tuổi đời 18 năm. Bài đăng trên Nguyệt san Hồn Việt.

Hồng Dương, Cảm khái về một chút gì.. rất Hoàng Hải Thủy.

Ông Thủy thân mến,

Từ giữa năm 87 tới nay tôi không viết một trang nào; viết hiểu theo nghĩa viết văn, viết truyện. Tôi gần như quên mất nghề Viết. Như ông nói: “Hồng Dương tự đứng ra ngoài việc Viết.” Thật sự tôi cũng chưa bao giờ thấy tôi đứng ở trong. Hình như tôi chỉ thập thò cạnh chiếu văn nghệ.

Khi ông và bà Alice sang, gặp lại ông bà, tôi có nhiều xúc động. Không biết tôi có được quyền tự coi là thân với ông hay không, nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với ông. Thời lên voi như lúc xuống chó. Khi ái tình được mùa như khi ái tình mất mùa. Không thể quên được.

Vì thế, khi gặp lại ông và bà Alice, tôi cảm thấy có một sức thổi nào đó khơi dậy trong tôi ý muốn viết. Hôm nay tôi viết về ông, bên ông là hình ảnh bà Alice.

Tôi nghĩ trên đời này tất cả những anh đàn ông dù thành công hay thành danh tới đâu cuộc đời hắn vẫn chưa đầy đủ nếu hắn không yêu, không ấp ủ được trọn đời hắn một người đàn bà được gọi là “vợ hiền.”

Nếu ông đồng ý với tôi như vậy thì ông không được chối ông là người đàn ông rất đàn ông, và ông là người đàn ông hạnh phúc nhất, sung sướng nhất cõi đời này. Dẫu rằng tôi biết ông còn nhiều thương tưởng về các con ông sống ở Sài Gòn, về những người thân và về những người bạn đồng nghiệp kém may mắn hơn chúng ta.

Chắc là ông không nhìn thấy những giọt nước mắt xúc động của tôi trong buổi sáng 24 tháng 12, 1994 khi chúng ta ngồi ở bàn ăn  cạnh bếp trong căn nhà ở Fountain Valley. Việc đầu tiên  bà Alice nhờ tôi làm là gửi ngay mấy trăm đô về trả nợ bà bạn của bà và cho ba đứa con của ông bà.

Bà Alice nói đây chỉ là trả nợ tiền, còn cái nợ tình nghĩa thì khó mà trả được. Bởi vì ba, bốn trăm đô-la là số tiền lớn ở Sài Gòn, vậy mà bà bạn quen ở cùng cư xá sốt sắng cho bà vay để trang trải nợ nần trước khi ông bà ra đi. Cho vay không biết đến bao giờ trả, cho vay không biết người vay có trả hay không. Cái Tình đó quả thật nặng, bà Alice nói rất đúng.

Còn ông thì tính ngay đến việc san sẻ chút tiền còm của ông về nước cho một số văn nghệ sĩ đang sống rất rách, rất khổ và tất nhiên là rất cần tiền, trong số có người mới vừa được ra khỏi tù. Có người văn nghệ bạn chúng ta ra tù về nhà thấy bà mẹ anh chết, con anh chết, vợ anh có chồng khác.

 Tôi có tật hay ngưỡng mộ những người biết nghĩ tới nỗi khổ của bạn. Nói huỵch toẹt ra đây là tôi ngưỡng mộ ông. Nên khi nghe ông nói đến việc gửi tiền về nước cho các bạn ta, tôi xúc động không cầm được nước mắt. Tôi tán thành ý muốn của ông là kiếm một số tiền gửi về cho anh em, tiền càng nhiều càng tốt. Tôi tiếp tay với ông, tôi tin rằng nhiều anh em ta ở xứ này cũng tiếp tay với ông.

o O o

Tôi nhớ lại một ngày trong Tháng Tư năm 1976, đang chạy Honda ngoài đường, tình cờ tôi nhìn thấy Minh Vồ ngồi ở băng sau cái xế cát-xăng-cát có tài xế lái, có hai người ngồi hai bên, chạy trên đường Ðinh Tiên Hoàng. Thấy Minh trong xế hộp, tôi thầm nghĩ: “Thằng này giỏi thật. Ði xế hộp với Việt Cộng rồi.” Tôi trên xe hai bánh chạy bên xe Minh Vồ một quãng. Minh trông thấy tôi, anh đưa hai tay lên cho tôi thấy tay anh bị còng, bằng cách ấy anh cho tôi hay anh bị bắt.

Ông cho tôi thắp lên nén hương tưởng nhớ Minh Vồ, bạn ta, người đã bỏ cuộc chơi để phơi phới đi về miền miên viễn.

Tôi báo tin Minh Vồ bị bắt cho các bạn tôi gặp, cuộc báo tin theo lối dây chuyền chưa được mấy ngày thì tôi và nhiều anh em bị bắt như Minh Vồ. Chúng tôi bị còng tay đưa vào Phòng A, Phòng B của Nha Cảnh Sát của ta đường Trần Hưng Ðạo. Dường như anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Hồ Văn Ðồng ngụ ở Phòng B. Phòng A chứa gần sáu mươi mạng. Chưa bao giờ Sài Gòn có cuộc đại hội văn nghệ sĩ-ký giả đông đến như thế.

Lão Ngoan Ðồng Hoàng Anh Tuấn ẩn cư trên Ðàlạt, Lão Quái Khách Lê Văn Vũ Bắc TiếnLão Ký giả Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, Nhà báo hành tung huyền hoặc  Như Phong Lê Văn Tiến theo nhau đi vào phòng giam. Chỉ có vài người không có mặt, trong số có Mai Thảo và Hoàng Hải Thủy, tức Công Tử Hà Ðông, lại tức Gã Thâm, người tôi đang có vài lời cảm khái hôm nay.

Mai Thảo là dân xê-li-bạt-te không bị ràng buộc nợ thê nhi, sau Tháng Tư 75 lại hay phiêu bạt, không ngụ một chỗ, công an VC tìm chưa ra nên chưa bị bắt thì còn có lý, Hoàng Hải Thủy vợ con dầm dề, chỗ ở cố định, việc thộp cổ đâu có khó. Thế thì tại sao chưa thấy bạn ta vào khám họp đại hội quần hùng?

Sau này anh em mới vỡ nhẽ. Ðầu đuôi như sau:

Công Tư khi được tin Ngày N đã tới, bèn lấy cái túi vải nhét vào trong đó vài thứ lỉnh kỉnh như áo thung, sà-lỏn, bàn chải răng, kem đánh răng, cục sà-bông. Ðó là tất cà hành trang cậu chuẩn bị cho cuộc vào nhà tù. Buổi sáng cậu dậy sớm, đeo túi vải lên xe đạp đi lăng quăng kháp nơi. Ðến khi toàn bộ văn nghệ sĩ-ký giả bị bắt bị đưa về Nhà tù Số 4 Phan Ðăng Lưu vẫn không thấy có công tử. Anh em nghĩ lẩm cẩm rằng chắc công tử đẻ bọc điều lại có thánh nhân phù trợ nên bọn công an VC bỏ sót cậu. Giả thuyết khác cho rằng có thể vì thấy cậu chuẩn bị vào tù nên bọn công an chưa bắt cậu, chúng theo rõi cậu để tìm tông tích vài người chúng chưa bắt được.

Nghe nói khi thấy bạn hữu bị bắt hết mà mình thì bị lờ đi, Công Tử Hà Ðông đâm ra ức lòng, cậu ức vì cậu không được bị bắt như anh em, cậu nằm nhà sáng tác những bài ca dao mới, cậu làm thơ gửi ra nước ngoài.

Cuối cùng cậu bị bắt. Tù hai năm cậu được tha về Ngã Ba Ông Tạ. Những văn nghệ sĩ ở tù khi được thả đều được phát cái giấy gọi là  “lệnh tạm tha.” Ra tù đói rách, may cho cậu là cậu vẫn còn nàng Alice. Nàng trước kia trông như đầm, phây phây, da thịt nõn nà, nay nàng gầy đét, xanh mướt, những ngón tay xương xẩu, lòng bàn tay chai cứng. Nhưng đôi môi nàng vẫn thắm, trái tim nàng vẫn tươi mát tình yêu. Ðể trả lời câu hỏi của Công Tử từ hai chục năm về trước:

“Hoa lòng em có về tươi?
Môi em có thắm nửa đời vì anh?”

 Thắm tươi là cái chắc.

 Alice của Công Tử âm thầm, kiên nhẫn, cặm cụi, tỉ mỉ ngồi suốt từ sáng đến khuya làm những bông hoa giấy đem bán ở những nhà thờ, nàng nuôi con và nuôi chồng. Công Tử Hà Ðông sống như ông Tú Xương.

Không được viết, những ngón tay Công Tử ngứa ngáy, cậu mỗi ngày đạp xe từ Ngã Ba Ông Tạ sang Gia Ðịnh học vẽ. Thầy dậy cậu vẽ là họa sĩ Nguyễn Sơn; tất nhiên thầy truyền nghề không lấy tiền, nhưng bút vẽ, cọ, mực mầu cậu bị thiếu.

Trí nhớ của tôi về những tháng năm ấy rất cùn. Tôi chỉ nhớ vào đầu năm 1984 tôi và các con tôi đã có passport, đợi ngày lên phi cơ sang Mỹ, một buổi chiều Công Tử đến nhà tôi.

Trên đầu vẫn có cái mũ phớt. Gặp bữa cơm, cậu ngồi ăn rất thoải mái với bố con tôi. Hai con tôi cũng học vẽ, cậu hỏi xin hai con tôi mấy cây cọ, mấy hộp mực mầu. Sự nghiệp hội họa của cậu chưa ra đâu vào đầu thì bị cắt ngang.

Một tối, ông cụ thân chủ vượt biên của tôi, ngụ trong Cư Xá Tự Do, đến báo tin cho tôi:

“Này ông.. cái ông nhà văn, nhà báo bạn ông trong cư xá tôi bị bắt đêm qua rồi đấy.”

 Tôi cho con tôi đến cư xá hỏi tin người quen, nó về báo tôi:

“Bác Thủy đã bị bắt.”

Thế là bạn ta vô khám lần thứ hai. Tôi vừa thương bạn vừa sợ, nhưng bố con tôi đi thoát.

Lần bị vồ thứ hai này nó đưa Công Tử vô Nhà Tù Chí Hòa. Trong tù không có bút giấy Công Tử làm thơ nhẩm, đọc đi đọc lại cho thật nhớ. Sang Mỹ, cậu ghi xuống giấy những bài thơ  vịnh Kiều cậu làm trong tù, viết thêm lời bình và xuất bản tập Tại Ngục Vịnh Kiều.

Bây giờ cậu mợ đã sang tới đây với anh em. Cậu nói tại cặp giò của cậu mợ yếu nên lê lết gần 20 năm mới sang được xứ Mỹ.

Nhưng không sao. Tuy có chậm nhưng người đến muộn vẫn nhận được những nguồn tình nghĩa trong vắt của bạn hữu. Thế là đủ.

Cậu mợ đều đã trên sáu chục. Ở tuổi này cậu mợ đâu còn sống cho mình nhiều nữa, cậu mợ sống cho người khác nhiều hơn. Cậu mợ đã đau nỗi đau của người như nỗi đau của mình, cậu mợ đã khổ cái khổ của người, cậu mợ đã thấy dung nhan các bạn tàn phai như dung nhan của cậu mợ.

Cậu mợ biết thương các bạn. Xưa kia gặp cậu mợ tôi đã ngả nón chào. Nay gặp lại cậu mợ tôi kính cẩn cúi đầu.

Hồng Dương.

Cõi Sương Mù. Ðầu tháng, đầu năm 1995.

CTHÐ: Những năm 1981, 1982, ở Sài Gòn, Hồng Dương tổ chức vượt biên. Anh là người ký giả VNCH duy nhất tổ chức vượt biên. Người làm báo thứ hai tổ chức vượt biên là Nguyễn Ðức Nhuận, nhưng Nhuận làm trị sư báo, Nhuận không là ký giả đúng nghĩa. Nhà tổ chức Hồng Dương rất mát tay, có nhiều may mắn, không chuyến tầu nào do Hồng Dương cho đi bị mất tích ngoài biển. Hình như cũng không có chuyến nào khách đi bị bắt. Tuy nhiều người biết Hồng Dương tổ chức vượt biên – kể cả tên Công An Huỳnh Bá Thành cũng biết – Hồng Dương không bị bắt, cho đến ngày anh và hai con anh được Linh Linh Ngọc làm bảo lãnh gia đình sang Mỹ.

Người bạn tôi thứ hai tôi viết lời Tạ Ân đêm nay là Trịnh Viết Thành.

Năm 1965, Trịnh Viết Thành làm thư ký tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Khi anh rời báo Tiền Tuyến để sang làm trong tòa soạn tờ báo mới của các bạn anh, anh yêu cầu báo Tiền Tuyến mời tôi về thế chỗ anh. Nhờ Hồng Dương tôi được nhật báo Chính Luận mời viết tiểu thuyết, nhờ Trịnh Viết Thành tôi được làm thư ký tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Ðời tôi, sau chu kỳ đen như mõm chó, nhờ tình thương của hai người bạn, trở lại bình thường. Tất nhiên cuộc sống của tôi không còn phong độ như trước năm 1964.

Năm 1967, Alice và tôi xa nhau một thời gian. Một tối Thành đưa tôi đi ăn ở Nhà Hàng Chương Nam. Anh nói:

“Muốn ăn bouillabsse, chúng mày phải đến đây.”

Khi chia tay, Thành nói:

“Mày đừng có quá buồn. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình thường tám năm, mười năm, có một cái crise. Nếu vượt qua được, vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.”

Chỗ làm cuối cùng của Thành là thư ký tòa soạn nhật báo Quật Cường. Tôi nghe nói báo Quật Cường của ông Nguyễn Khắc Bình, ông Tổng giám đốc Cảnh sát-Công an cuối cùng của Quốc gia VNCH. Sau 1975, Thành ở trong số ký giả bị bắt tù nhiều năm. Năm 1988 Thành từ Trại Tù Khổ Sai Gia Trung- Gia Lai về Sài Gòn. Anh bị bệnh, qua đời ở Sài Gòn năm 1991.

Ði tù lần thứ hai về năm 1990, tôi tìm gặp Thành ngay. Tôi không bao giờ quên lời Thành nói:

“Mày đừng quá buồn..”

Năm 1991 lần thứ hai tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, tôi được nhiều bạn tôi ở nước ngoài gửi tiền về giúp. Năm 1995 khi tôi đến Kỳ Hoa, các bạn tôi lại gửi tiền cho tôi. Tôi chia phần tiền các bạn cho tôi với các bạn tôi sống ở Sài Gòn.

One Response

  1. 1964:Nguyen Khanh, khong phai nam 1974

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: