• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

BÚI TÓ CỦ HÀNH

Lời khắc trên phiến đá mộ Phạm Duy: Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời, người ơi.

Lời khắc trên phiến đá mộ Phạm Duy:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời, người ơi.

Tháng 12, 2013, tôi đọc “Hồi Ký Phạm Duy” trên Internet. Phạm Duy viết Hồi Ký này ở Hoa Kỳ khoảng năm 1980. Nghe nói những năm xưa ấy – 1980 – Hồi Ký Phạm Duy được đọc trên Ðài BBC, rồi xuất bản thành sách. Tôi trích vài đoạn mời quí vị cùng đọc.

Phạm Duy viết về ông Phạm Duy Tốn.

Bố tôi là một trong những người Việt Nam đầu tiên cắt búi tó và mặc âu phục. Không biết lúc chuẩn bị cắt tóc bố tôi có sai vợ lập ban thờ để làm lễ xin tổ tiên tha cho cái tội tày trời như những người cùng cảnh ngộ hay không? Nhưng sau khi bố tôi cắt tóc, bà tôi buồn rầu và căm giận đến độ từ đó trở đi, mỗi một buổi sáng vừa mở mắt dậy là bà tôi ngồi chửi con. Bà cứ ngồi ở đầu giường, không thèm đi xúc miệng vì muốn làm tăng ác độ của câu chửi :

“Tốn ơi! Mày là thằng con bất hiếu! Mày cắt tóc là mày từ bỏ cha mẹ đó, biết không? Rồi đây tao chết đi thì mày còn có cái gì để mà tóc tang hở mày?”

Kèm theo câu chửi là câu rủa. Ðệm vào câu rủa là một cái bát đàn — loại bát bằng đất nung, rẻ tiền nhất — được bà tôi đập xuống đất vỡ tan. Rủa cho bố tôi chết. Lời rủa có vẻ hiệu nghiệm. Bố tôi chết trước bà tôi hai năm.

CTHÐ: Việc các ông Việt Nam – thời xưa đó là An Nam –  cắt bỏ búi tóc – thường được gọi là “Búi Tó” – chắc xẩy ra vào khoảng những năm 1920 – 1925. Tôi nghe kể nhiều ông Nho An Nam, bắt chước các ông Nho Tầu – coi thân thể mình là do cha mẹ sinh ra; do đó người con không được phá hủy bất cứ cái gì trên thân thể mình: Râu, Tóc, Móng Tay không được cắt. Cắt bỏ ba thứ ấy là can tội bất hiếu. Ông Phan Khôi kể: ngày ông về tỉnh cắt tóc, ông phải đợi đến tối mới dám về nhà ông, ông sợ người làng trông thấy mái tóc mất búi tó của ông, người ta cười. Nhưng người chủ trương việc đàn ông An Nam cắt bỏ búi tó lại là vị khoa bảng nổi danh thời ấy: Tiến sĩ Phan Chu Trinh. Ðây là bài vè ông Phan Chu Trinh làm để kêu gọi đàn ông Việt cắt bỏ búi tó:

Tay trái cầm lược,
Tay phải cầm kéo
Cúp hề! Cúp hề!
Thăng thẳng cho khéo
Bỏ cái hèn này
Cho khôn, cho mạnh.

Chính phủ Bảo Hộ Pháp thời ấy không ép buộc dân An Nam phải cắt bỏ búi tó. Họ cũng không kêu gọi đàn ông An Nam cắt bỏ búi tóc. Trong bài vè, tiếng “Cúp” – Coupe – lần thứ nhất đi vào ngôn ngữ An Nam. Trong những năm từ 1935 người Việt Bắc Kỳ quen nói tiếng “cúp tóc.” Thợ hớt tóc tiếng Pháp là “coiffeur,” do đó ta có tiếng Phó Koáp để gọi những ông thợ hót tóc, tiếng “Phó Nháy” để gọi những ông thợ chụp ảnh, tiếng “Phó Chũi” để gọi những ông thợ may. Thời tôi mười tuổi, những năm 1940, người Bắc quen gọi những ông hớt tóc là Phó Cạo, thường nói là đi cúp tóc.

Ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh. Tiến sĩ Phan Chu Trinh mặc Âu phục y như người Pháp.

Ông Phan Bội Châu, ông Phan Chu Trinh. Tiến sĩ Phan Chu Trinh mặc Âu phục y như người Pháp.

Người Tây Phương – người da trắng – không ép buộc, cũng không kêu gọi, không khuyến khích người Á Ðông – dân da vàng – bắt chước họ về lối sống, về ăn mặc. Người Á Ðông thấy y phục của người Âu Châu đẹp, gọn, tiện lợi nên bắt chước.

Ðọc đoạn Hồi Ký trên của Phạm Duy, tôi khó chịu khi thấy bà mẹ ông Phạm Duy Tốn rủa xả ông nặng lời chỉ vì cái tội ông cắt bỏ cái búi tó.

Phạm Duy: Mẹ tôi là con gái của một ông thầy đồ và trước khi lấy chồng, mẹ tôi là cô hàng bán sách ở phố hàng Gai. Tôi không biết tên họ của ông bà ngoại nhưng một hôm gặp bà dì ruột ở Sài Gòn vào khoảng 1970 thì dì nói: ”Mày có biết bà họ gì không? Họ Lưu, dòng dõi Lưu Vĩnh Phúc đó!”

Thế ra trong tôi có dòng máu nổi loạn à? Người Pháp gọi Lưu Vĩnh Phúc là giặc — Giặc Cờ Ðen — nhưng đối với tôi, ông là người làm Cách Mạng.

CTHÐ: Nhân vật Lưu Vĩnh Phúc không phải là “giặc”, cũng không phải là người làm “cách mạng.” Lưu Vĩnh Phúc là người Tầu có võ nghệ, tuyển mộ một số người Tầu làm lính, sang An Nam giúp quân An Nam đánh Pháp xâm lược. Vì lá cờ của quân Lưu Vĩnh Phước là cờ mầu đen nên họ được và bị gọi là Quân Cờ Ðen. Chắc họ – Lính Cờ Ðen – có cướp bóc dân An Nam nên họ bị gọi là Giặc Cờ Ðen. Dân An Nam phải nuôi toán quân Cờ Ðen. Việc chống Pháp không thành, Tướng Cờ Ðen Lưu Vĩnh Phúc sang sống và chết ở Ðài Loan.

Phạm Duy: Tôi có khá nhiều các bác, các dì, các cậu và có rất đông các anh em, chị em họ cùng với một rừng các cháu gọi tôi bằng chú và bằng cậu. Một trong những người anh họ của tôi là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, con của Bác Hai Hàng Ðường.

Tôi thường được ngồi ngắm tác giả Cổ Học Tinh Hoa, Tục Ngữ Phong Dao… nằm hút thuốc phiện. Trong đại gia đình tôi, không phải chỉ có anh Ngọc mới là bạn của Nàng Tiên Nâu. Tôi có bao nhiêu ông chú, ông cậu, có bao nhiêu ông anh hay em họ là có bấy nhiêu ”ông tiên”. Thậm chí sau này, con của cậu tôi, tên là Bá, còn mở hẳn một tiệm hút ở phố Hàng Dầu, không có một nhà văn Hà Nội nào hằng đêm là không tới đó để gập nhau. Ở đây, tôi hay gập Ðồ Phồn, Lan Sơn, Ðàm Quang Thiện…

CTHÐ: Phạm Duy viết “..không có một nhà văn Hà Nội nào hằng đêm không tới đó để gặp nhau..” là quá đáng. Nhà Văn Hà Nội trước năm 1945 có nhiều ông không hút á phiện. Tất nhiên những ông Nhà Văn này không đến tiệm hút. Một số ông tới tiệm hút là để hút, không phải các ông tới đó để gặp nhau.

Ông Nguyễn Văn Ngọc làm Ðốc Học tỉnh Hà Ðông những năm 1940. Mẹ tôi kể khi ông làm quyển Tục Ngữ-Phong Dao, ông yêu cầu học sinh tất cả các trường trong tỉnh  mỗi học sinh nộp cho ông ba câu phong dao, tục ngữ hay câu đố. Tôi có hai lần ở trong đoàn học sinh đến nhà riêng của ông chúc Tết ông. Ngày ấy tôi không biết ông là dân Hít Tô Phê. Nay nhớ lại ông mình hạc, xương mai, đúng là người tiên phong, đạo cốt. Thời ông Nguyễn Văn Ngọc làm Ðốc Học Hà Ðông, ông Hoàng Trọng Phu làm Tổng Ðốc Hà Ðông; hai ông cùng là đệ tử của Cô Ba Phù Dung.

Phạm Duy: Phía sau phố tôi là phố Hàng Bè, nơi vú già hay giắt tôi đi chợ và phố Hàng Thùng, nơi có lớp mẫu giáo để tôi đi vào chữ nghĩa khi tôi lên sáu. Phố nào cũng ngắn với dãy nhà tí hon. Riêng phố Hàng Bè có thêm ngôi nhà ba tầng — gọi là nhà Tây — của Bác Sĩ Lê Văn Chỉnh, người gốc miền Nam, có người con trai không hiểu vì sao mà tự tử (bằng súng lục). Cái chết của con Bác Sĩ Chỉnh và của những người tự vẫn ở Hồ Gươm ám ảnh tôi rất lâu.

CTHÐ: Tôi nhiều lần viết trước năm 1945, chính phủ Pháp không cho phép dân An Nam có súng lục. Tôi viết sai chăng?

Phạm Duy: Gọi là phố Hàng Dầu nhưng tôi chỉ thấy có một cửa hàng bán dầu ở xế cửa. Vào thời tôi mới sinh ra, Hà Nội không còn dùng dầu lạc để đốt đèn nữa vì đã có đèn điện và có loại đèn Hoa Kỳ dùng dầu lửa (pétrole) tiện lợi và sạch sẽ hơn dầu lạc. Hoa Kỳ láu cá lắm, biếu không cho người Việt Nam hàng vạn cái đèn để khi có đèn rồi thì phải mua dầu của họ.

Vài ba ngày, có người của ông nhà thầu Năm Diệm đem thùng khác tới đổi thùng đựng đầy phân. Ðổi thùng thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.

Bà con hàng xóm trong khu phố tôi là những người dân hiền lành sống cuộc đời âm thầm nhưng cũng có một nhân vật dị thường khiến tôi để ý. Tên anh là Hùng, nhưng ai cũng gọi là Khùng. Hằng ngày, anh bắc ghế đẩu ra ngồi ở ngã tư, thấy ai đi qua cũng chào. Chào bằng đủ mọi thứ tiếng. Mọi người đều cho anh là thằng hoá dại. Trẻ con thường quây chung quanh anh để chọc ghẹo. Riêng tôi, lúc nào cũng ngẩn ngơ đứng nhìn con người “kính chào không mỏi mệt” này. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ gương mặt hiền hoà của một người lịch sự nhất phố Hàng Dầu.

Hà Nội có những buổi trời mưa thật to, mưa nặng nề như mưa đá vậy. Có thêm những tia chớp lớn. Những hạt mưa cục đập xuống mặt đường chưa trải nhựa, làm thành những bong bóng to. Ngồi trên bậc cửa nhìn qua nhà trước mặt, thằng bé này biết nhớ nhung da diết một con bé tên là Nguyệt. Nó thấy được nỗi buồn của một câu ca dao để rồi sẽ đưa vào một bản trường ca:

Ðêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người bên đó có buồn hay không ? .

CTHÐ: Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng?

Phạm Duy viết: “Ðổi thùng thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.”

CTHÐ: Năm xưa chừng bốn, năm ngày đổi thùng phân một lần. Người ta nghe tiếng đập cửa mãi rồi quen. Không thể ví tiếng đập cửa đổi thùng với tiếng bọn Công An Việt Cộng ban đêm đập cửa vào nhà bắt người.

Phạm Duy: Từ lúc còn rất bé, không những được đi lễ với mẹ luôn luôn, tôi còn được mẹ tôi dạy tụng những câu kinh Phật: “… Lư hương xạ nhiệt pháp giới mông vân chư Phật hải hội… ” Tôi lại là thằng bé không thích ăn thịt hay chấm nước mắm, nhiều khi chỉ ăn cơm với oản, với chuối cho nên ngoài cái tên “thằng Tôm”, tôi còn có thêm cái tên là “chú Tiểu.”

CTHÐ: Năm 1972 khi dịch tiểu thuyết One Hundred Years of Solitude của Gabriel Garcia Marquez tôi thấy nhân vật trong truyện – Xứ Colombia – ăn cơm với chuối. Tôi théc méc: nước Việt nhiều chuối, nhưng người Việt không ăn cơm với chuối. Tại sao?

Phạm Duy: Từ khi vú bỏ tôi về quê, tôi đã nhiều lần được về sống với vú và con vú là thằng Cương ở một ngôi làng gần Trạm Chôi thuộc tỉnh Sơn Tây. Lúc đó tôi đi học rồi và qua những bài tập đọc bằng văn suôi hay văn vần trong cuốn QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ, tôi được dạy dỗ để biết yêu đồng quê Việt Nam như thế nào rồi! Hãy giở những cuốn sách học vỡ lòng đó ra mà coi. Cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư — Lớp Ðồng Ấu có 55 bài tập đọc thì có tới gần 10 bài tả cảnh đồng quê. Em bé thị thành như tôi vào tuổi lên 9 mà lại học về cầy cấy, gieo mạ, gặt lúa. Học bài “con người nói chuyện với con trâu” bằng thơ. Hay học “nghề làm ruộng”:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta.
Rủ nhau đi cấy đi cầy
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

CTHÐ:

Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cầy vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấi, ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa có bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Tôi học bài học thuộc lòng trên năm tôi 10 tuổi. Ngay trong tuổi thơ ấy tôi đã thấy chuyện con trâu nó không phải kéo cầy vất vả, nó vẫn có cỏ ngoài đồng cho nó ăn.

Phạm Duy: Còn một trò chơi này tôi không biết gọi tên là gì  nhưng tôi chỉ thấy người ta chơi trong thời đó mà thôi. Ðó là những thanh que dài, được người chơi đứng xa phóng lên cho đầu thanh que rơi xuống một cái trống con rồi thanh que đó bật ngược lên cao để rơi vào họng của một cái bình hoa đặt ở xa xa. Người chơi phải đạt được hai lần chính xác: một lần khi tung thanh que rơi xuống mặt trống và một lần nữa khi thanh que đó rơi vào cái miệng hẹp của chiếc bình hoa. Trò chơi này cho ta nghe hai âm thanh vui: tiếng “tom” của cái trống và tiếng “thụt” của thanh que khi rơi vào bình.

CTHÐ: Trò chơi này gọi là “đầu hồ.” Tôi gặp tiếng “đầu hồ” trong một bài viết về một ông vua Nhà Nguyễn: “Khi mỏi mệt, vua đứng lên, bước tới đánh đầu hồ.” Nay đọc Phạm Duy, tôi biết “đầu hồ” là trò chơi như thế nào.

Phạm Duy: Ở trường Hàng Vôi, trong những năm học các lớp đồng ấu (cours enfantin) lớp dự bị (préparatoire) và hai lớp sơ đẳng (cours moyen I và II), tôi học dốt lắm.

CTHÐ: Thiếu Cours Eùlémentaire: Lớp Sơ Ðẳng. Cours Moyen 1, Moyen 2 được gọi là Lớp Nhì 1, Lớp Nhiø 2. Cours Superieux: Lớp Nhất.

Phạm Duy: Dù còn bé, tôi cũng biết thù ghét người con nuôi của Cụ Ðề Thám đã dắt tay sai của Pháp là Lê Hoan tới bắt Cụ cũng như tôi đã biết khinh bỉ những vị quan lại như ông tuần phủ họ Cung đã giúp kẻ thù trong việc bắt giết những anh hùng trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng.

CTHÐ: Ông Tuần Phủ Cung Ðình Vận. Ông bị Việt Minh giết năm 1945.

Phạm Duy: “Nói tới chuyện lên đồng của thời tôi còn bé thì phải nói tới Cô Bé Tý ở Hàng Bạc, một cô me Tây rất ngộ nghĩnh mà tôi có hân hạnh được tới gần. Cô Bé Tý được coi như ngang hàng với người nổi danh trong làng me Tây là cô Tư Hồng nhưng cô Bé Tý được nhiều người yêu mến vì tính đồng bóng của cô.”

CTHÐ: Theo tôi, cô Ba Tý, không phải cô Bé Tý.

Phạm Duy: Hà Nội ngày tôi còn bé, luôn luôn có những cơn sốt dị đoan như hiện tượng bàn ma xẩy ra trong một thời gian khá lâu. Nhà nào cũng có một cái bàn nhỏ ba chân rồi người ta ngồi chung quanh cái bàn đó, hai tay đặt vào thành bàn, sau khi khấn khứa với con ma bàn, người ta hỏi chuyện nó. Hỏi chồng bà này chết bao nhiêu năm rồi? Hỏi mẹ của bà nọ ở bên kia thế giới có vui hay không? Vui thì chân bàn gõ hai cái, buồn thì chân bàn gõ một cái… Cái bàn ma đã trả lời vanh vách với tiếng chân bàn gõ canh cách. Vừa run rợ vừa thích thú vì thấy mình như lạc vào cõi ma, nghe được thông điệp của người chết, tôi lại càng sợ hơn khi thấy có người đào mả lấy gỗ quan tài để làm bàn ma.

CTHÐ: Trò này là trò cầu cơ. Bàn cầu cơ là miếng gỗ viết chữ a, b, c..Người cầu cơ đặt ngón tay trỏ lên miếng gỗ nhỏ hình trái tim, nhắm mắt cầu khẩn hồn ma nhập vào, miếng gỗ tự động di chuyển trên các chữ, ghép các chữ lại thành tiếng. Ðể bàn cơ được thiêng, có người ra bãi tha ma lấy những miếng gỗ quan tài được cải táng, đem về làm bàn cầu cơ, không ai đào mả lấy gỗ áo quan. Trò Cầu Cơ biến mất sau năm 1945.

CTHÐ: Năm 1991, 1992, đi tù về, tôi được nghe – qua cassette – bài Tình Cầm – Phạm Duy phổ Thơ Hoàng Cầm – và bài Nghìn Thu. Hai bản Nhạc, Thơ làm tôi cảm động. Từ sau năm 1975, hai mươi năm Phạm Duy sống ở Mỹ, tôi chỉ thấy hay hai bản nhạc của Phạm Duy: bài Tình Cầm – Thơ Hoàng Cầm – và bài Nghìn Thu.

Nghìn Thu

Nghìn thu Anh là suối trên ngàn
Thành sông anh đi xuống, anh tuôn tràn biển mơ
Nghìn thu Em là sóng xô bờ
Vào sông Em đi mãi không bao giờ biển vơi

Em là cõi trống cho tình đong vào
Anh là nơi vắng cho tình căng đầy
Cuộc tình đi vào cõi thiên thu
Em là cơn gió, Anh là mây dài
Ði về bên nớ, đi về bên này
Rồi trở về cho hết cái đong đưa

Nghìn thu Em lặng lẽ ươm mầm
Cành mai không ai biết Em âm thầm nở hoa
Nghìn thu trăng chợt sáng hay mờ
Lặng im Anh lên xuống không ai ngờ hiển nhiên

Tình Ta biến hóa trong từng sát na
Tình luôn lai vãng đi về cõi chung
Tình vô hư đó nên gần với xa
Tình ra ánh sáng, tình về tối đen

Nghìn thu Anh là đã Em rồi
Và Em trong muôn kiếp, Em đã ngồi ở anh.
Nghìn thu Ta bồi đắp không ngừng,
Tình Âm Dương chan chứa xoay trong vòng Tử Sinh.

o O o

Năm 1940 người Bắc có thành ngữ:

“Búi tóc củ hành, làm anh thiên hạ.”

Tóc đàn ông không nhiều, những ông để tóc dài khi búi tóc lại sau ót, búi tóc chỉ lớn, chỉ nhỏ bằng củ hành. Tôi thấy những ông búi tó củ hành ngày xưa không có gì hơn người, tức không thể  làm đàn anh người khác. Năm 1946 cả làng tôi chỉ còn có một ông bác họ tôi là còn búi tó củ hành.

Théc méc: Không biết ông Vua nhà Nguyễn nào là ông Vua thứ nhất cắt  bỏ búi tó?

Năm 1995, gặp lại Phạm Duy, tôi hỏi:

“Nghìn Thu Thơ của ai thế?”

Phạm Duy:

“Thơ tôi chứ còn Thơ của ai nữa!”

2 Responses

  1. Trích:”CTHÐ: Trò này là trò cầu cơ. Bàn cầu cơ là miếng gỗ viết chữ a, b, c..Người cầu cơ đặt ngón tay trỏ lên miếng gỗ nhỏ hình trái tim, nhắm mắt cầu khẩn hồn ma nhập vào, miếng gỗ tự động di chuyển trên các chữ, ghép các chữ lại thành tiếng. Ðể bàn cơ được thiêng, có người ra bãi tha ma lấy những miếng gỗ quan tài được cải táng, đem về làm bàn cầu cơ, không ai đào mả lấy gỗ áo quan. Trò Cầu Cơ biến mất sau năm 1945.”Hết trích.
    Trò cầu cơ sau này vẫn còn thưa bác.Dân Saigon vẫn hay cầu cơ,ngay cả sau 1975 (và có lẽ nay vẫn còn).

  2. ” Théc méc: Không biết ông Vua nhà Nguyễn nào là ông Vua thứ nhất cắt bỏ búi tó?”
    Dạ thưa theo Kiên biết là vua Thành Thái .Ngài kêu gọi cả nước duy tân rồi cắt tóc học lái xe hơi để làm gương cho chúng dân noi theo nhưng bị các cụ đồ bảo thủ phê phán ” Vọng chi bất tự nhân quân !” Ý các cụ đồ là nhìn ngài không còn giống vua nửa !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: