• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

THƠ LỚN, THƠ LỢN

ac

Một buổi chiều cuối năm – Tết Nguyên Ðán sắp đến trên thành phố tang thương –  không nhớ đúng là năm 1981 hay 1982, quá buồn, không biết làm gì, tôi lò mò lọ mọ đến tiệm sách ở Ngã Ba Ông Tạ coi chơi xem có gì lạ không. Tiệm sách lơ thơ, leo heo, đoi đẹn vài quyển văn học thổ tả, vài quyển chính chị, chính em ca tung đất nước Liên Xô giầu đẹp do bọn Thợ Viết Hà Nội viết ra – tên đúng của bọn Thợ Viết này là Cu Li Văn Nghệ – Những năm 1980 ở Sài Gòn, chó nó cũng không thèm đọc những sách của bọn Cu Ly Văn Nghệ Bắc Cộng.

Tuy không nói ra nhưng thái độ, vẻ mặt của ông  chủ tịệm sách leo heo Ngã Ba Ông Tạ cũng cho tôi thấy ông ta không muốn bán mấy quyển sách cù đinh, thiên pháo ấy vì sách bán đi không có sách khác bầy thế chỗ trên kệ, những kệ sách thành ra đoi, nhẵn thin, trơ trẽn. Mà tôi cũng không đến tiệm sách để mua sách do bọn Hà Nội viết, như đã nói, vì buồn quá đỗi, không có việc gì làm hay hơn, tôi lờ phờ đến đây coi chơi.

Sạp báo trước tịệm bầy mấy tờ báo Xuân. Tờ Xuân Văn Nghệ của bọn gọi là Hội Nhà Văn Hà Nội trên trang bìa có hàng chữ quảng cáo:

BỐN NHÀ THƠ LỚN CỦA DÂN TỘC

Bốn trự được bọn “Hội Nhà Văn Bị Rọ Mõm Hà Nội ” bốc là NHÀ THƠ LỚN của DÂN TỘC là:

  1. Hồ chí Minh
  2. Trường Chinh
  3. Tố Hữu
  4. Lê đức Thọ
Những ô lỗ châu mai trong lô-cốt quân Pháp -  chiến tranh Việt Pháp 1946-1954.- Tiếng Pháp là Blockhaus. Từ Blockhaus ta có tiếng lô-cốt.

Những ô lỗ châu mai trong lô-cốt quân Pháp – chiến tranh Việt Pháp 1946-1954.- Tiếng Pháp là Blockhaus. Từ Blockhaus ta có tiếng lô-cốt.

Tôi đứng tần ngần nhìn xuống tờ báo. Hồ chí Minh, Tố Hữu mần thơ thì tôi biết tỏng tĩ lâu rồi, tôi nghe nói anh Ðặng xuân Khu Trường Chinh có bút hiệu là Sóng Hồng, hành nghề đảng viên cộng sản chuyên nghiệp, tức nhà nghề, ngoài cái nghề “đảng viên Cộng Chồn” ra anh ta vô nghệ nghiệp. Trường Chinh từng có tập tọng viết lách, mần thơ, mần đồ chi đó, nhưng anh Lê đức Thọ Răng Vẩu mần thơ, làm dzăng nghệ, dzăng gừng thì tôi chưa bao giờ nghe nói.  Tôi cũng chỉ nghe nói thôi, tuy sống trong kìm kẹp cộng sản đã mấy năm, tôi chưa đọc bài thơ nào của anh cu Sóng Hồng. Tôi mở  tờ báo Xuân Văn Nghệ ra coi cọp tại chỗ. Trong báo có bài thơ của Sóng Hồng, bút hiệu của Trường Chinh, người là Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong nhiều năm.

Bài thơ, và lời ban biên tập tờ báo giới thiệu người làm thơ, kể trong trường hợp nào Thi Sĩ Sóng Hồng, “Nhà Thơ Lớn của Dân Tộc”, mần bài thơ này làm tôi ngơ ngẩn. Ngẩn ngơ rồi ngậm ngùi. Ðây là đại ý lời giới thiệu:

Năm 1944….. Mùa đông rất lạnh. Nữ đồng chí giao liên Y. viết thư xin Ðồng chí Tổng Bí Thư cấp cho chị một áo mặc ấm, Ðồng chí Tổng Bí thư làm bài thơ này gửi cho chị, lời thơ nhắc cho chị giao liên Y. nhớ đến những nữ đồng chí giao liên ở Liên Xô mùa đông này phải đi liên lạc trong tuyết lạnh khổ hơn chị nhiều.

Tôi ngẩn ngơ vì tôi không thể tưởng tượng đươc có tên đàn ông nào trên cõi đời này, khi có người đàn bà hỏi xin cái áo mặc ấm, thay vì chỉ gửi cái áo  cho người xin  là xong, lại rị mọ mần Thơ – Tất nhiên là Thơ Cóc, Thơ Nhái – trong bài Thơ không nói gì đến cái áo mà nói đến “Những Nữ đồng chí giao liên Liên Xô vĩ đại đang vất vả đi đưa thư trong tuyết giá.” Sau đó tôi nghĩ:

“Nó phải cà chớn như thế nó mới làm đươcï Tổng Bí Thư Ðảng nó.”

Tôi thương chị giao liên xin áo quá là thương. Tổng Bí thư của chị có nhẫn tâm, có phũ như chó nó mới làm thơ nhắn nhủ chị như thế. Tôi không biết sau khi mần Thơ Thủm, “Nó” có cho chị cái áo bông hay “Nó ” phe lờ luôn!

Tôi cảm thương chị giao liên vì tôi có mấy năm làm Liên Lạc Viên như chị. Những năm 1948, 1949 tôi là Liên Lạc Viên của cái gọi là Ban Tình Báo Ðăïc Biệt Gia Lâm. Ban này được đặt ra để do thám phi trường Gia Lâm, phi trường  độc nhất của Pháp hoạt động trong chiến tranh ở Bắc Kỳ từ 1946 đến 1954. Sau năm 1945 Pháp đóng cửa phi trường Bạch Mai. Những đêm mùa đông mưa dầm, gió lạnh, chú thiếu nên 15, 16 tuổi là tôi một mình đi qua, tất nhiên là đi chân đất, qua những cánh đồng Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Ðông Anh, vùng đất quê hương bên kia sông Ðuống của ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên.

Năm 1947 tôi  làm cuộc văn huê là “thoát ly gia đình đi kháng chiến” với mấy bộ quần áo mẹ tôi may cho tôi từ năm 1945, 1946, thời gian  gia đình tôi ở Hà Ðông. Vào tuổi dậy thì, tôi nhớn bổng lên, tôi không còn mặc vừa mấy bộ quần áo cũ và những bộ quần áo ấy sau mấy năm dầu dãi cũng đã rách nát. Ði trong gió lạnh mùa đông giữa cánh đồng miền Bắc mà chỉ mặc mong manh có một cái áo, một cái quần, không áo len, áo sợi,  tôi biết thế nào là lạnh, là rét.

Một bài thơ cà chớn như thế mà được bọn Cu Li Văn Nghệ Hà Nội bốc là Bài Thơ Tuyệt Hay của Dân Tộc, anh mần thơ – Tổng Bí Trương Chinh – được đội lên thành Nhà Thơ Lớn của Dân Tộc. Gọi anh ta là “Nhà Thơ Lợn của Dân Tộc” nghe lọt tai hơn. Ngoài những đặc tính Ác, Ngu, Tham, Ðểu, Hèn, bọn đảng viên Cộng Sán Việt còn nhiệt tình, tích cực, hăng hái, tranh nhau “Bợ Ðít, Thổi Dzế, Nâng Bi “bọn lãnh tụ của chúng. Không chỉ bọn đảng viên CS Bắc Kỳ như thế, bọn đảng viên CS nước nào cũng thế. Chỉ có điều bọn CS Bắc Kỳ “bợ đít, thổi dzế, nâng bi “bọn lãnh tụ Lông Lợn của chúng trâng tráo nhất, lộ liễu nhất trong giới cộng sản.

Trường Chinh, tên đồ tể Cải Cách Ruộng Ðất.

Trường Chinh, tên đồ tể Cải Cách Ruộng Ðất.

Sau cái gọi là Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Ðất có những vụ đấu tố tàn ác, vô luân, đê tiện, bỉ ổi, giết người dã man, Anh Cu Tổng Bí Trường Chinh bị bọn đồng chí-đồng rận-đồng đảng của anh cho là có lỗi, chúng đá anh  vào bóng tối. Suốt thời gian hai tên Lê Duẩn-Lê đức Thọ cầm quyền sinh sát, dài đến 20 năm, Trường Chinh nín khe; anh không dám mở miệng nói nọ kia, kia nọ, kể cả đánh dzắm anh cũng không dám. Trong nhiều năm hai tên Lê Duẩn-Lê đức Thọ không những chỉ ngồi xổm lên mặt bọn Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm văn Ðồng, hai tên còn công nhiên ghé đít sịt cả hơi bẩn vào mặt Hồ chí Minh, Tôn đức Thắng, Hoàng văn Hoan, Vũ đình Huỳnh, Ðặng kim Giang.

Thế rồi Lê Duẩn lăn cổ ra chết, Trường Chinh được móc từ trong thùng rác ra, cho trở lại làm Tổng Bí Thư. Khi ấy Liên Xô vĩ đại, thành trì của vô sản thế giới, đã sụp đổ, Chiến Tranh Lạnh chấm dứt với sự thảm bại của bọn Bôn-sê-vích Nga. Nổi lên năm 1920, hoành hành, tác yêu, tác quái trong 70 năm, năm 1996 họa Cộng Sản hết còn làm khổ nhân dân thế giới. Nhiều người Việt ngạc nhiên khi thấy Tổng Bí Trường Chinh lép nhép nói:

– Ðổi mới hay là chết.

Từ ngày chúng cướp được quyền hành không bao giờ bọn Cộng Sán chịu nhận chúng có những sai lầm, chúng lại càng không bao giờ nhận chính sách của chúng cần có những sửa đổi. Chúng khăng khăng nói Chủ Nghĩa Mác-Lê của chúng Tuyệt Ðối Ðúng. Ðảng chúng Không Bao Giờ Sai. Chúng hung hăng và thẳng tay bắt tù mút mùa, tù đến chết những tên – cũng là đảng viên Cộng Sán – đòi“Xét Lại, Ðổi Mới”. Những năm 1976, 1977 bọn Cộng Sán Bắc Kỳ dán đầy đường phố Sài Gòn những tờ tuyên truyền “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm! Chủ nghĩa Mác-Lê Vô Ðịch muôn năm.  Ðảng Cộng Sản Vtệt Nam muôn năm. Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội..”

Chắc không phải chỉ mình tôi mà nhiều người Việt trong những năm 1980 cũng nghĩ như tôi khi thấy sau khi chiếm trọn ba nước Việt Nam Cộng Hòa, Cao Miên, Ai Lao, bọn Cộng chiếm luôn nước A-phú-hãn, khi ấy tôi nghĩ:

“Thế này là bỏ mẹ dzồi. Thừa thắng xông lên, Nó sẽ dễ dàng chiếm nhiều nước nữa. Không gì ngăn nó được. Như cục đá được ném lên sẽ có lúc phải rơi xuống, nhưng mình vô phúc phải sống trong thời gian nó bay lên, mình sẽ chết mà không được thấy nó rơi xuống. Không khác những đế quốc đã thành hình, đã sụp đổ, đã tiêu ma trong lịch sửû, bọn Cộng có thể thành lập Ðế Quốc Ðỏ và Ðế Quốc Ðỏ của chúng có thể tồn tại trong hai, ba trăm năm.”

Lê Duẩn là tên “phấn khởi, hồ hởi” nhất trong bọn Lãnh Tụ Lông Lợn Cộng Hà Nội. Y huênh hoang tung ra khẩu hiệu “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa.” Y là tên Cộng “sung sướng nhất” trong bọn Cộng Hà Nội, y chết trong hào quang và dư quang chiến thắng, y chết trước khi bọn Nga Cộng bị nhân dân Nga bợp tai, đá đít, đuổi đi, y chết trước khi “Ðồng chí Hôn-nách-cơ vĩ đại” của y cúp đuôi chồn chạy khỏi Ðông Ðức, y chết trước khi “Ðồng chí Sô-xét-cu vĩ đại” của y bị dân Lỗ bắn chết. Bọn Trường Chinh, Tố Hữu, Phạm văn Ðồâng, Võ nguyên Giáp là những tên Cộng Lông Vịt nhục nhất. Nhục vì chúng phải thấy ngày Chủ nghĩa Cộng sản bị vứt vào hố phân của nhân loại, nhục vì chúng phải thấy bằng chính mắt chúng Tượng Sịt-ta-lin, Tượng Lê-nin bị nhân dân Nga kéo đổ, lôi ra nằm ở bãi rác, nhục vì chúng phải thấy”Ðồng chí Sô- xét-cu vĩ đại “Xứ Lỗ-ma-ni của chúng bị dân Lỗ lôi cổ ra trước chợ, cả hai vợ chồng, bị dân Lỗ dí súng vào mang tai, bắn bỏ, nhục và sợ vì phải thấy “Ðồng chí Na-dzi-bu-la vĩ đại” Xứ Ac-gha-nit-tan của chúng bị dân Ác lôi ra treo cổ toòng teeng nơi cột đèn.

Trường Chinh không bao giờ chủ trương Ðổi Mới. Trong nhiều năm Y thẳng tay bắt tù bọn Cộng Lông Chó Ghẻ ọ ẹ đòi“đổi mới, xét lại.” Y bị bắt buộc phải theo đuôi bọn Nga Cộng đàn anh. Y không “đổi mới” không được. Nhưng y vẫn còn may mắn: ít ngày sau khi lép nhép nói “Ðổi mới hay là chết” y lăn cổ ra đi một đường tầu suốt về Hỏa Ngục. Y đi theo, y về với Sịt-ta-lin, Hồ chí Manh. Nghe nói y bị té gẫy cổ khi đi trên thang lầu.

Thời gian qua.. Năm 2007, bọn Cu Li Văn Nghệ Cộng Sán Hà Nội hết chuyên viết, móc chuyện “Tổng Bí Trường Chinh Ðổi Mới Hay Là Chết” năm xưa ra kể lại. Mời quí vị đọc vài đoạn trích trong tờ  báo Cộng Lông Chuột xuất bản ở Hà Nội:

Báo TIỀN PHONG. Trường Chinh: Người “Chủ Biên” của Ðổi Mới

Những ngày này, cách đây hơn 20 năm cả đất nước đang chuẩn bị đón Tết cổ truyền với một niềm vui lớn. Lúc bấy giờ, Ðại Hội Ðảng Lần Thứ VI – Ðại Hội của Ðổi Mới.

Có thể nỗi khổ sở về cơm áo do kéo dài tình trạng quan liêu, bao cấp chưa kịp rời xa mỗi gia đình, nhưng nỗi bức xúc về tinh thần thì đã thực sự được “giải phóng” khi Thông điệp dứt khoát về đường lối Ðổi Mới của Ðảng vừa được chính thức công bố trên Hội Trường Ba Ðình (Hà Nội). Người đứng trước toàn Ðảng, toàn dân để tuyên bố thông điệp đó là Tổng Bí thư Trường Chinh.

Khi tìm gặp các sử gia, các nhà kinh tế là nhân chứng của những ngày mà công cuộc Ðổi Mới bắt đầu được đặt những nền móng đầu tiên, dù mỗi người diễn đạt theo cách của mình, nhưng họ đều gặp nhau ở điều mà Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trân trọng viết về Cố Tổng Bí thư Trường Chinh: “Ðiều thú vị là “chủ biên” của Ðổi Mới lại là một người vốn được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh”.

GS Trần Nhâm – Nguyên Thư ký của Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, khi nhớ lại hành trình “đổi mới tư duy”, đặc biệt là “tư duy kinh tế” ở người lãnh đạo của mình, đã phát biểu:

–  Không thể nói ai là tác giả của Ðổi Mới ở Việt Nam, đó là sự nghiệp của toàn Ðảng, toàn dân. Mỗi người có đóng góp tùy vào vị trí, cũng như tâm huyết và trí tuệ của mình, để cùng nhau đẩy tiến trình Ðổi Mới đi lên.

Cánh cửa của Ðổi Mới có thể đã không được mở và vận mệnh của dân tộc sẽ khác đi rất nhiều nếu như chúng ta không có một “Tổng Bí thư của Ðổi Mới” như cách gọi của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt về Cố Tổng Bí thư Trường Chinh.

Ngưng trích.

Mời quí vị đọc mấy lời anh Võ văn Kiệt bốc thối Trường Chinh trong bài báo Cộng Lông Vịt Tiền Phong:

Ðồng chí Trường Chinh – Tổng Bí thư của Ðổi Mới

… Ðồng chí Trường Chinh được Ban Chấp Hành Trung Ương bầu làm Tổng Bí thư và bắt tay chuẩn bị Ðại hội VI. Phải nói rằng, vào thời điểm đó, chỉ có đồng chí Trường Chinh với hiểu biết sâu sắc về lý luận và hình ảnh một đồng chí hết sức nguyên tắc, có phần cứng theo kiểu chính thống mới có thể chỉ đạo thành công Ðại Hội VI – Ðại hội của Ðổi Mới.

Ðiều tôi thấy hết sức thú vị là “tác giả” – nói chính xác hơn là chủ biên của Ðổi Mới lại là một người được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh. Tôi hiểu rằng, đồng chí đã chú ý nghe từ nhiều phía, và đặc biệt là đã coi trọng ý kiến của những cán bộ có tư duy, dám nói thật, nói rõ quan điểm của mình.

Ðồng chí là người rất kiên trì đấu tranh với mọi ý tưởng, mọi sự việc mà theo đồng chí là không đúng và cũng rất quyết đoán đối với những điều mà đồng chí cho là đúng đắn, đủ cơ sở…

… Tôi được biết, trong thời gian chuẩn bị nhân sự Ðại hội VI, một số đồng chí lặn lội từ miền Nam ra, tới xin gặp đồng chí Trường Chinh để “năn nỉ” đồng chí tiếp tục làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ nữa. Ðiều đó thật không ai có thể hình dung được trước đó…

Võ Văn Kiệt

Ngưng trích.

Bốc thơm, nâng bi, thổi dzế lãnh tụ đến như bọn Cu Ly Văn Nghệ Hà Nội là..Nhất Thế Giới, là Fi-ní lô đia..Hết nước nói. Về Trò “Nhổ Liếm, Liếm Nhổ ” bọn Cộng Bắc Kỳ cũng Nhất Thế Giới. Những năm 1960, 1970 chúng ca tụng Trường Chinh vì Trường Chinh không chịu “đổi mới”, Trường Chinh bỏ tù đến chết bọn đòi “xét laiï, sửa sai.” Năm 1987 chúng, cũng những tên đó, ca tụng Trường Chinh vì Trường Chinh chịu “đổi mới”, tức “sửa sai”. “Ðổi mới” là “sửa sai,” là “xét lại.”

Tôi  – CTHÐ – khinh chúng, xong tôi cũng có chút thương hại chúng: Chúng, bọn Cộng Việt Nông Nợn , đáng thương vì chúng vừa chiếm được Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, chúng đang say men chiến thắng, chúng đang hăng máu chó điên, nhưng chúng hí hửng chưa được bao lâu thì chúng tưng hửng, chúng ngơ ngác, chúng thộn mặt, chúng há hốc mồm vì Tượng Sịt-ta-lin, Ông Nội của tên hung thần văn nghệ Tố Hữu, bị dân Hung, dân Tiệp, dân Lỗ, dân Nga kéo đổ, lôi ra cho nằm sấp, nằm ngửa ở những vệ đường, miệng cống, bãi rác;  những tội ác của bọn Cộng bị phơi bầy, những tên đảng viện Cộng bị đuổi ra khỏi chính quyền, bị nhân dân thế giới nguyền rủa, khinh bỉ, ghê tởm.

o O o

Dứi đây là lời kể của anh con Trường Chinh Ðặng Xuân Khu về những ngày tù đầy của Trường Chinh:

Trong buổi trò chuyện với PGS – TS Ðặng Việt Bích, con trai cố Tổng Bí thư Trường Chinh và vợ – chị Nguyễn Ngọc Ánh, ngoài những kỉ niệm mà tôi được nghe PGS – TS Ðặng Việt Bích kể, tôi đã được nghe rất nhiều câu chuyện cảm động do chính người con dâu của cố Tổng Bí thư Trường Chinh kể về người mẹ chồng của mình. Chị bảo, dù bà là mẹ chồng của chị, nhưng suốt những năm tháng cùng chung sống với bà, chị đã luôn biết ơn bà, bởi bà luôn dành cho chị tình yêu thương của một người mẹ ruột dành cho cô con gái của mình. Ðiều đó, khiến gần 10 năm qua, sau khi bà mất, những hình ảnh về bà vẫn nguyên vẹn trong lòng chị.

*

Cố Tổng Bí thư Trường Chinh tên thật là Ðặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907 ở làng Hành Thiện, Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Ðịnh. Làng Hành Thiện từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra nhiều nhân tài kiệt xuất của đất nước. PGS – TS Ðặng Việt Bích kể, thời đó, cùng với họ Nguyễn, họ Ðặng là một trong hai dòng họ lớn nhất của làng Hành Thiện. Thân phụ cố Tổng Bí thư Trường Chinh là cụ Ðặng Xuân Viện, một nhà nho có tinh thần yêu nước, nhưng không gặp thời, gặp thế.

 Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống, lại được sự giáo dục của thân phụ nên ngay từ nhỏ, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã được làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Ðường, được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống nho học. Sau này, khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc với Tây học và theo học bậc Thành Chung tại Nam Ðịnh. Ngay từ khi còn trẻ, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã ý thức rất rõ về nỗi đau của một dân tộc bị nô lệ, bị áp bức. Ông sớm tham gia các hoạt động cách mạng, trong đó nổi bật lên là phong trào đòi thả Phan Bội Châu. Chính vì việc này mà ông đã bị đuổi học, rồi sau này khi lên Hà Nội, ông mới tiếp tục theo học tại trường Cao đẳng Thương mại (trực thuộc trường Ðại học Ðông Dương – trường đại học hiện đại đầu tiên của Việt Nam) và tiếp tục hoạt động cách mạng.

 Cố Tổng Bí thư Trường Chinh lập gia đình với bà Nguyễn Thị Minh (sinh năm 1912), người cùng làng Hành Thiện, là con gái nhà họ Nguyễn, một dòng họ có gia thế trong làng. PGS – TS Ðặng Việt Bích kể:

“Ngày đó, mẹ tôi là con gái một gia đình có gia thế, giàu có. Cha tôi cũng là con của dòng họ Ðặng có uy tín trong vùng. Cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi đã được sắp đặt từ khi cha mẹ tôi còn bé. Năm mẹ tôi 5 tuổi, gia đình hai bên đã đính ước, hẹn làm thông gia với nhau. Ðến năm cha tôi 22 tuổi, mẹ tôi 17 tuổi, ông bà chính thức nên vợ nên chồng”.

Tuy lấy nhau qua sự sắp đặt của gia đình, nhưng bà Nguyễn Thị Minh vẫn luôn tâm sự với con cái rằng, cả cuộc đời bà, bà hạnh phúc, mãn nguyện với cuộc hôn nhân đó và bà luôn tin rằng, mối lương duyên của bà với ông là mối lương duyên được xếp đặt từ kiếp trước. Năm 1930, ông được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Ðảng Cộng sản Ðông Dương. Ðến cuối năm ông bị địch bắt. Khi đó bà Nguyễn Thị Minh đang mang thai người con đầu lòng.

Ðặng Việt Bích kể:

“Lần đó, khi anh Kỳ mới được mấy tháng tuổi, mẹ tôi đưa anh tôi vào nhà tù Hỏa Lò cho cha xem mặt. Mẹ tôi đứng ngoài, cha tôi đứng trong, chẳng nhìn thấy mặt nhau. Muốn để cho cha tôi biết mặt con, mẹ tôi đưa anh Kỳ qua cái lỗ châu mai chỉ rộng vài gang tay, để cho cha tôi xem mặt. Lúc đó, tên quan Tây chứng kiến sự việc  nói với cha tôi:

“Tao biết mày giỏi, thông minh, nhanh nhẹn. Mày lại có vợ đẹp con xinh như thế này. Mày đi theo cách mạng làm gì. Mày hãy nghe lời tao. Tao sẽ cho mày sang Pháp học, rồi trở về làm việc cho Nhà nước Bảo hộ.”

 Nghe tên quan Tây Cai Tù nói, cha tôi lập tức hét lên:

“Lý tưởng của tao là đấu tranh chống áp bức, bóc lột, giải phóng dân tộc tao.”

Tức giận trước sự phản kháng của cha tôi, tên quan Tây đã dùng cây gậy sắt đánh vào đầu ông tóe máu, khiến ông loạng choạng, suýt đánh rơi đứa con trên tay, ông vội đưa anh tôi ra cho mẹ tôi bế. Mẹ tôi chứng kiến cảnh đó cứ khóc mãi”.

Vì không chấp nhận khuất phục trước địch, nên ngay sau đó, giặc đã tuyên án ông 12 năm tù khổ sai và đưa lên nhà tù Sơn La. Khi đó nghĩ tới việc mình sống chết không biết thế nào, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã nói với người vợ hiền của mình:

“Anh đi đợt này không biết bao giờ về, cũng không biết sống chết ra sao. Em về nhà, cố gắng chăm sóc con và tìm một người đàn ông khác để hai mẹ con nương tựa sau này”.

 Khi nghe chồng nói thế, bà Nguyễn Thị Minh chỉ khóc và nói:

 “Em quyết một lòng một dạ chờ anh trở về”.

 Nghe những lời gan ruột đó từ người vợ hiền, cố Tổng Bí thư Trường Chinh xúc động chẳng nói nên lời, ông chỉ biết nắm chặt tay bà và nhìn bà đầy yêu thương và biết ơn. Có lẽ vì cảm động trước sự hi sinh của người vợ hiền, nên sau này, dù là khi đã được tự do, hay khi đã trở thành lãnh tụ của đất nước, cố Tổng Bí thư Trường Chinh luôn luôn yêu thương và trân trọng người vợ hiền của mình.

Chị Nguyễn Ngọc Ánh – con dâu cố Tổng Bí thư Trường Chinh và bà  Nguyễn Thị Minh kể:

“Tôi về làm dâu khi ông cụ đã qua đời. Nhưng mẹ chồng tôi vẫn hay kể cho tôi những kỉ niệm ngày xưa. Có lần mẹ nói với tôi: đời mẹ khổ nhất, tối tăm nhất là lúc đi thăm ông chồng trong nhà tù Hỏa Lò, đó là lúc mẹ tôi đưa con trai đỏ hỏn qua lỗ châu mai cho ông chồng xem mặt. Khi đó, cha tôi luôn khuyên mẹ tôi lấy chồng khác, vì ï ông sợ ông khó sống mà trở về. Nhưng không hiểu sao khi đó mẹ chồng tôi vẫn luôn tin rằng, cha tôi là người giỏi giang, thông minh, dũng cảm, mưu trí và có nghị lực. Ông ấy nhất định sẽ vượt qua mọi nguy hiểm để trở về”.

Với niềm tin đó, bà đã nuốt ngược nước mắt ôm đứa con đầu lòng còn đỏ hỏn trở về nhà, vừa chăm sóc con, vừa phụng dưỡng bố mẹ chồng và đợi chồng đi tù khổ sai với án 12 năm ở một chốn rừng núi heo hút.

Ở nhà tù Sơn La những năm đó, cố Tổng Bí thư Trường Chinh vẫn hăng hái gây dựng phong trào trong tù. Ông trở thành người lãnh đạo phong trào của anh em tù nhân tại nhà tù Sơn La. Chính vì thế mà thực dân Pháp luôn nghi ngờ ông là một trong những người đứng đầu phong trào cách mạng. Cho rằng vai trò của ông là quan trọng, nên năm 1936, trong cao trào dân tộc dân chủ, Pháp buộc phải thả tù nhân chính trị ra. Nhưng nếu những tù nhân  khác được Pháp cho xe đưa về đến tận Hòa Bình mới bắt tự đi về  nhà thì riêng cố Tổng Bí thư Trường Chinh bị chúng bắt  đi về xuôi trên  một bè gỗ trôi theo dòng sông Ðà. Thời đó, những xoáy nước trên con sông Ðà hung dữ đã đánh chìm biết bao bè gỗ, cướp đi bao mạng người. Chính vì thế, việc bắt cố Tổng Bí thư Trường Chinh đi trên bè gỗ để xuôi về Hà Nội là ý đồ thâm độc của thực dân Pháp. Nhưng ông đã trở về bến Long Biên an toàn rồi tiếp tục xuôi về Nam Ðịnh đoàn tụ với gia đình, cha mẹ, vợ con. Ngày ông bị đi tù khổ sai, cậu con trai đầu lòng của ông mới còn đỏ hỏn. Ðến ngày ông về, con trai ông đã là một cậu bé 5, 6 tuổi. Lúc bước vào nhà, nhìn thấy có một cậu bé chạy nhảy ngoài sân, ông đã hỏi ông bố của ông:

“Thưa thầy, thằng bé này là con ai ai?”

Cha ông bật cười, nói:

“Con mày chứ con ai!”.

Hết bài trích.

CTHÐ: Tôi vừa khó chịu vừa khó tin khi đọc câu chuyện anh con trai của Trường Chinh kể trên đây. Anh này, và anh viết lại chuyện, ngu đến cái độ không biết “lỗ châu mai” là cái gì. Lỗ châu mai là những ô nhỏ mở ra để người lính trong những lô-cốt chĩa súng bắn ra ngoài. Nhà Tù Hỏa Lò – và tất cả những nhà tù trên thế giới – đều không có lỗ châu mai. Bon Tây Cai Tù là những tên Tây ít học. Không có anh Tây Cai Tù Hỏa Lò nào hứa cho anh tù Việt Nam sang Pháp học. Chuyện ngu đến em nhỏ lên ba nghe kể nó cũng biết là ngu. Ngu quá là ngu. Ngu hết nước nói.

Trên Internet tôi thấy cái gọi là Tuyên Bố của Trường Chinh.

Trường Chinh – Ðặng Xuân Khu

TUYÊN BỐ NĂM 1951

ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII. TỔNG THƯ KÝ ÐẢNG LAO ÐỘNG VN SỐ: 284/ ÐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

Hỡi đồng bào thân mến !

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung Quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào !

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?

Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ Nho của Trung Quốc .Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo ! Có thế thôi !

Hỡi đồng bào yêu mến!

Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Ðế quốc phương Tây đem qua xứ ta !Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tầu danh tiếng khắp cả hoàn cầu .

Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v…

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân ! Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.

Trường Chinh.

Tổng Thư ký Ðảng Lao Ðộng

Số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố 1951 của Trường Chinh được lưu trữ   trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – London).

CTHÐ: Tôi đăng nguyên văn Tuyên Bố trên để quí vị đọc chơi. Tôi nghi một vị người Việt nào đó đã sáng tác ra bản Tuyên Bố này. Không có lý năm 1951 nhật báo Tiếng Dội của Chủ nhiệm Trần Tấn Quốc đăng khơi khơi bản Tuyên Bố của Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt.

Chú thích: Số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố 1951 của Trường Chinh được lưu trữ   trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – Londonlà một lời Chú Thích Mù Mờ Số Dzách. Có mất công tìm đến Tết Congo cũng không ra số báo Tiếng Dội đăng Tuyên Bố ngớ ngẩn này.

4 Responses

  1. […] THƠ LỚN, THƠ LỢN  -(Hoàng hải Thủy) […]

  2. […] “giàu” (ĐV). – Mẹ liệt sĩ 100 tuổi mong có một mái nhà thờ con (NCT). – THƠ LỚN, THƠ LỢN(Hoàng Hải Thủy). – Việt Nam: Thông điệp cao xa, dân thì vẫn đói (Người Việt). […]

  3. Kính Công Tử,nếu con nhớ không lầm(chắc chắn không lầm)thì thằng cha Trường Chinh đã đấu tố chết cha mẹ của lão,thế sao còn có những câu sau:
    Trích:”Nhưng ông đã trở về bến Long Biên an toàn rồi tiếp tục xuôi về Nam Ðịnh đoàn tụ với gia đình, cha mẹ, vợ con. Ngày ông bị đi tù khổ sai, cậu con trai đầu lòng của ông mới còn đỏ hỏn. Ðến ngày ông về, con trai ông đã là một cậu bé 5, 6 tuổi. Lúc bước vào nhà, nhìn thấy có một cậu bé chạy nhảy ngoài sân, ông đã hỏi ông bố của ông:
    “Thưa thầy, thằng bé này là con ai ai?”
    Cha ông bật cười, nói:“Con mày chứ con ai!”.Hết trích.

    • Lúc đó hắn là tên tù mới được tự do, chuyện đấu tố là sau khi bọn cộng sản cướp được chính quyền !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: