• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

SÁNG TRĂNG SUÔNG

Thiếu nữ ngủ ngày. Tranh Bùi Xuân Phái. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm..

Thiếu nữ ngủ ngày. Tranh Bùi Xuân Phái. Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm..

Tháng Ba 2014,  mưa tuyết – chắc là lần mưa tuyết cuối cùng của mùa Đông Virginia 2014 – vừa đi qua Rừng Phong. Mưa tuyết đi qua nhưng tuyết còn ở lại trắng trời, trắng đất, trắng cây. Vợ chồng già líu ríu bên nhau trong căn phòng ấm. Già, cơm không là vấn đề. Vợ đan áo, chồng mò mẫm trên Internet.

Tìm được bài viết “Thi Ca Dục Ái trong Văn Học” của NhàBiên Khảo Trần Bích San. Thấy chuyện Lá Đa, Mõm Chó, Sự Đời, Hái Chè, Váy, Con Cúi..vv..; toàn chuyện hấp dẫn, bèn có  hứng muốn viết góp ý. Trước hết mời quí vị đọc:

Trần Bich San. “Thi ca dục ái trong văn học.”

Thi ca dục ái xuất hiện từ lâu trong văn chương truyền khẩu. Phong dao, tục ngữ, câu đố có những bài, những câu liên quan đến tính dục nam nữ . Loại tác văn này không bóng bảy như văn chương chữ viết mà đôi khi còn thô lỗ, trắng trợn, tục tằn nữa. Thực ra đó chỉ là phản ảnh đặc tính nôm na, mộc mạc, tượng hình và cụ thể của nền văn học dân gian:

Tranh Bùi Xuân Phái. Vịnh Quạt Giấy: Mười bẩy hay là mười tám đây?

Tranh Bùi Xuân Phái. Vịnh Quạt Giấy: Mười bẩy hay là mười tám đây?

Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.

hoặc:

Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù…

(Phong Dao)

Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh cũng mê mẩn đời

hoặc:

Không giàu thì cũng đẹp giai
Không thông kinh sử cũng dài con Q.

(Tục Ngữ)

Canh một thì trải chiếu ra
Canh hai bóp vú, canh ba sờ l..
Canh tư thì lắc xom xom
Canh năm cuộn chiếu ẵm con mà về

(Câu đố tả người kéo vó ban đêm)

Từ ngàn xưa đạo Nho bao trùm xã hội Việt Nam, quan hệ tình dục bị coi là thô tục nên văn gia tránh không đề cập tới. Nội dung thơ văn không hợp với đạo lý thánh hiền đều bị lên án khắt khe như “đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều”. Truyện Phan Trần có đoạn tả Phan Sinh ốm tương tư, si tình đến toan tự tử. Với người xưa, nam nhi mà nhu nhược, ủy mị như thế là điều không thể chấp nhận được. Thúy Kiều vượt vòng lễ giáo đang đêm lẻn sang nhà Kim Trọng tình tự là điều luân lý Khổng Mạnh không cho phép. Truyện Kiều bị lên án là dâm ô, khiêu khích tình dục vì có đoạn tả nàng Kiều tắm và lúc Kiều thất thân với Mã Giám Sinh tuy rằng chỉ với những nét ước lệ, mờ nhạt thiếu tính cách cụ thể sinh động:

Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên

(Kiều tắm)

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió não nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

(Mã Giám Sinh phá trinh Kiều)

Các thi gia có tư tưởng phóng khoáng như Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Khuyến cũng chỉ dám phớt qua:

Giang sơn một gánh giữa đồng
Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ không.

(Nguyễn Công Trứ)

Đàn bà con gái sắn quần lên
Cái gì trăng trắng như con cúi

(Nguyễn Khuyến, Chỗ Lội Làng Ngang)

Hồ Xuân Hương, nhà thơ đầu tiên vượt trên cấm cản của xã hội, mô tả thật sống động cuộc mây mưa giữa nam nữ :

Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân có biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không

(Đánh Đu)

Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vướn phứa tịnh lên
Hai xe hà chàng gác hai bên
Thiếp sợ bí thiếp liền ghểnh sĩ
Chàng lừa thiếp đương cơn bất ý
Đem chốt đầu dú dí vô cung…

(Đánh Cờ)

Bà không ngại ngùng ca ngợi vẻ đẹp thể chất con người. Những bộ phận kín phụ nữ được diễn tả rõ ràng bằng lời thơ đầy nghệ thuật:

Thân em như quả mít trên cây
Da nó sù sì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng nõ
Xin đừng mân mó nhựa ra tay

(Quả Mít)

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng

(Giếng Nước)

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch đào nguyên nước chửa thông

(Thiếu Nữ Ngủ Ngày)

Thi ca dục ái Hồ Xuân Hương được lồng dưới hình thức ẩn dụ. Chính phần ẩn dụ chứa đựng những điều bị cho là thô tục, lả lơi, dâm dục có hại cho thế đạo nhân tâm. Thi sĩ Tản Đà lên án như sau: “Người ta thường có câu Thi Trung Hữu Họa, nghĩa là trong thơ có tranh. Như thơ Hồ Xuân Hưong lại là Thi Trung Hữu Quỉ, nghĩa là trong thơ có quỉ (An Nam Tạp Chí số 3 ra ngày 1/10/1932). Dương Quảng Hàm viết trong Quốc Văn Trích Diễm: “Suốt tập thơ Hồ Xuân Hương không mấy bài là không có ý lả lơi, dầu tả cảnh gì vật gì cũng vậy” (Quốc Văn Trích Diễm, chương 10).

Trong nền văn học chữ quốc ngữ, thời tiền chiến sự hiện diện của thi ca dục ái chỉ thấp thoáng trong thơ Hàn Mặc Tử :

Tiếng ca ngắt. Cành lá rung rinh
Một nường con gái trông xinh xinh
Ống quần vo xắn lên đầu gối
Da thịt, trời ơí trắng rợn mình…

(Thi tập Gái Quê, bài Nụ Cười)

Thi ca dục ái bắt đầu rõ nét hơn trong thơ Bích Khê. “Sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết.” (Hàn Mặc Tử, Tựa tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê):

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
Hai vú nàng, hai vú nàng, chao ôi !
Cho tôi mút một giòng sông ngọt lộng
Và ô kìa một tòa hoa nghiêm động
Tay run run hãm lại cánh tình si
Hai tay nàng đã nở ngọc lưu ly
Hai chân nở màu sen ẻo lả
Cho tôi nàng, hãy cho tôi tất cả !…

(Tranh Lõa Thể)

Sang thế kỷ 21 thi ca dục ái là sự kết hợp nghệ thuật thơ Hồ Xuân Huơng, tính cách phong dao cận nhân tình và thêm chất thực tế trần trụi chói gắt của thi ca hiện đại. Nhà thơ công khai mô tả, ca ngợi vẻ đẹp lành mạnh tràn đầy nhựa sống, quyến rũ của thân thể con người cả hai phái nam nữ. Các điều đạo đức lánh xa che mặt được nhà thơ biến thành những đối tượng hấp dẫn. Tính dục mang tính cách tất yếu, một bản chất tự nhiên như ăn ngủ, là hạnh phúc hào hứng thực tế nhân loại. Chuyện ái ân nam nữ trong thơ dục ái dồi dào sức sống, bừng bừng sinh lực, đầy ắp không khí tươi mát lành mạnh đất trời. Con người và thiên nhiên hòa nhập, tương ứng, hài hòa với nhau. Thiên nhiên chứa đựng sinh lực con người. Con người thấm đượm màu sắc rực rỡ tươi thắm thiên nhiên:

Trong gió sớm cuộc hẹn hò cảnh khác
Rạch sậy lau che kín chiếc thuyền câu
Dành riêng em hưởng nguyên vẹn tình đầu
Đang trượt té qua cuộc tình nhục cảm
Ôi thế sự, ôi cuộc đời bụi cám !
Có nghĩa gì bằng dâng hiến tình yêu ?
Trái cấm dành người dám bạo dám liều
Tòa hoan lạc thường có ngoài cổ tích.
Hai thân thể trần truồng cùng quấn quít
Nụ hôn nồng, môi ham hố cơn say
Chồi nhân sinh gay gắt đỏ, giương dài
Cứ hăm hở chui huyệt sâu khoái lạc.
Trong gió sớm ôm mông chàng thật sát
Em lắng nghe thân ngún lửa từng cơn
Chàng vẫy vùng, thọc ngoáy thật sâu hơn
Cùng bay bổng lên thiên đường cảm giác
Trong gió sớm nhựa tinh chàng thơm ngát
Tuôn vào em từng đợt quánh và trơn
Em tặng chàng những vết máu tươi son
Khi chàng sống bản năng con thú đực

(Hồ Trường An, Trong Gió Sớm)

Thơ dục ái không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác quan thẩm mỹ, tạo không khí trân trọng nghệ thuật. Tình yêu trong thơ dục ái là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhân với quê hương, giữa con người với thiên nhiên:

Rồi đó một trang đời mở rộng
Anh đưa em dưới vòm lá đêm
Tham lam môi nóng ghì môi ướt
Tay cứng nhồi xoa tảng ngực mềm
Đưa đẩy em trong một chiếc giường
Xem thường hiểm họa đạp tai ương
Khi nhìn thân thể anh ngồn ngộn
Da thịt nồng nàn như bốc hương
Em nghe bật vỡ nơi sâu kín
Máu thắm tuôn ra vậy cũng đành
Không biết thiên đường hay địa ngục
Khi nằm rạo rực dưới thân anh

(Hồ Trường An, Xa Bến Thiên Đường)

Thiên-đường-huyền-thoại vốn là không gian ảo chỉ hiện hữu trong ước mơ, nơi hứa hẹn hạïnh phúc vĩnh cửu nhưng xưa mai có ai tới được ngưỡng cửa thiên đường ? Thiên-đường-dục-ái là không gian có thật. Trong suốt hành trình đời sống hầu như mọi người ai cũng hơn một lần bước vào. Con thuyền-thơ-dục-ái chở những người yêu nhau chân chính trở lại tìm kiếm không gian và thời gian mà họ đã sống đến tận cùng giây phút tuyệt vời ngút lửa của hoan lạc thân xác trên giòng sông đam mê có thực. Thi ca dục ái là tiếng lòng nức nở và hoài niệm thiết tha của những tâm hồn nghệ sĩ đích thực. Một thời đại mới trong thi ca Việt đã mở đầu và dục-ái-ca thực sự chắp cánh bay bổng rạo rực ca ngợi hạnh phúc trần tục, thiên đường có thật của con người.

TRẦN BÍCH SAN

CTHĐ Sao Y Bản Chánh.

Công Tử Hà Đông bàn loạn: Xin Nhà Biên Khảo cho tôi góp vài ý mọn. Tôi không nói quyết tôi viết đúng, chỉ là góp ý thôi.

Chuyện tôi nên góp ý là chuyện “Sáng trăng.”

TBSan:

Sáng trăng em tưởng tối trời
Ngồi buồn em để cái sự đời em ra
Sự đời như chiếc lá đa
Đen hơn mõm chó, chém cha cái sự đời.

Lời phong dao tôi biết từ năm tôi 12 tuổi:

Sáng trăng suông em tưởng tối trời.
Em ngồi em để cái sự đời em ra..

Kính thưa: Phải là “sáng trăng suông” em mới tưởng là tối trời. Nếu trời sáng trăng, em không thể tưởng là tối trời, đang sáng trăng em tưởng tối trời là không có lý. Nhiều người Việt tuổi đời năm nay dưới Năm Bó, Sáu Bó,  không biết, không hiểu  “sáng trăng suông” là gì, tại sao lại gọi là “sáng trăng suông?”

Sáng trăng suông” theo sự biết không bảo đảm trúng trật, tức không quyết là đúng, cũng không quyết là trật, là sai, của kẻ viết CTHĐ là : đêm có trăng nhưng trăng bị mây mù che kín cả bầu trời, trăng không lộ ra, người không thấy trăng nhưng không gian đêm vẫn có ánh trăng sáng mờ mờ. Khi sáng trăng suông, ta không nhìn thấy mặt trăng. Phải ở đồng quê ta mới có thể thấy sáng trăng suông. Ở thành phố đêm có đèn điện, ta không thể thấy sáng trăng suông.

Tục Ngữ Phong Dao. Tác giả Nguyễn Văn Ngọc. Tập Dưới. Trang 182:

Sáng trăng suông, em nghĩ tối trời,
Em ngồi em đề cái sự đời em ra.
Sự đời bằng cái lá đa,
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Và Trang 128:

Sáng trăng suông
Sáng cả vườn đào, sáng cả vườn chanh.
Ba bốn cô đằng ấy có cô nào còn không?
Có một cô thật đích cô chưa có chồng,
Cho anh ghé chút làm chồng. Nên chăng?

Sáng trăng suông sáng cả cái đêm hôm rằm.
Nửa đêm về sáng trăng bằng ngọn tre.
Em có thương anh thì thương cho vẹn mọi bề..

Phải là “sáng trăng suông” em mới tưởng là tối trời. Chỉ trong 4 câu thấy có ba hình ảnh gợi cảm: Sự đời, Lá Đa, Mõm Chó. Chuyện théc méc là “Sự đời, Lá Đa, Mõm Chó ” ba cái có tội gì mà chúng bị  người đe dọa “chém cha.” Oan thay cho Lá Đa.

Em phải mặc váy thì khi em ngồi, sáng trăng suông em tưởng tối trời, em mới để cái sự đời của em ra được. Em mặc quần thì vô phương. Phải viết rõ là em gái quê em mặc váy, em “không để nó ra,” nó là “cái sự đời” của em, nó vẫn ở trong đó nhưng vì em ngồi hớ hênh  — ngồi bệt mà dạng háng, tức banh hai chân ra — nên người ta nhìn vào, người ta thấy “nó.” Viết lại: Em mặc quần thì vô phương. Em mặc váy mà em đứng em cũng không thể để cái sự đời của em ra được.

Đến đây có vấn đề Váy và Quần Con Gái, Đàn Bà. Sử ghi: Ngày xưa, đàn bà Bắc kỳ mặc váy. Bắc Kỳ đây là từ Ải Nam Quan vào đến tỉnh Quảng Bình. Viết cách khác: từ Sông Gianh trở ra bắc. Từ Quảng Bình vào nam, đàn bà mặc quần. Ngày xưa đây là thời Thực Dân Pháp chưa đến nước Việt Nam. Cũng Sử ghi: Năm 1882 Vua Minh Mạng hạ chiếu, tức ra lệnh:

Cấm đàn bà mặc váy, lại tức: Đàn bà Bắc kỳ phải mặc quần.

Tháng Sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông.
Đi thì bóc lột quần chồng, sao đang.

Lệnh của Vua Minh Mạng không được nữ thần dân Bắc kỳ tuân theo. Vua cấm đàn bà mặc váy, đàn bà Bắc kỳ vẫn cứ mặc váy. Những năm 1947 đến 1950, kẻ viết những dòng chữ này sống trong những làng quê ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, thấy tận mắt 90/100 đàn bà miền quê mặc váy. Chỉ môt số cô gái trẻ, sinh sau năm 1930, mới mặc quần.

Chuyện năm xưa tôi trẻ, 14, 15 tuổi, tuổi sắp dậy thì, làm liên lạc viên Cục Tình Báo, khi đi ngang qua những cánh đồng chiêm, thấy những cô gái quê 15, 16, 17, 18 tuổi cào cỏ trong những thửa ruộng ven đường, nước ruộng lên đến đầu gối các cô, váy các cô sắn cao để khỏi bị ngập nước, chú liên lạc viên  có ý đi thật chậm, chờ mong có làn gió thổi qua, làm váy các cô tốc lên, cho chú được nhìn – dù chỉ thoáng qua trong hai, ba sát-na – cái Sự Đời của các cô, “cái” chưa bao giờ chú nhìn thấy. Nhưng không lần nào chú được nhìn. Váy các cô là váy sồi, dầy và nặng, gió có là bão cũng không thể làm cho tung lên. Các cô còn cẩn thận đục hai lỗ nhỏ ở gấu váy trước sau, dùng cái lạt tre buộc dính lại. Gió có thốc vô, các cô ngồi bệt có hớ hênh, có dạng háng, váy các cô cũng không mở ra, không ai có thể trông thấy cái Lá Đa của các cô.

Théc méc: đàn bà Việt mặc váy từ miền Bắc đi xuống miền Nam, tại sao đến miền Trung lại bỏ mặc váy để mặc quần? Phải có nguyên nhân gì chứ? Ta không biết đó thôi. Váy Bắc Kỳ là váy sồi. sồi dệt bằng những sợi tơ tằm thô, nên sồi dầy và cứng ngắc. Sồi chỉ có thể làm váy, không thể may thành quần. Phải chăng vì thế mà  Bắc Kỳ có váy sồi.

Năm xưa tôi trẻ – trước năm 1950 – ngoài câu đố “Cái thúng mà thủng hai đầu. Bên ta thì có, bên Tầu thì không,” cái Váy còn có những tên “Sống,”: Dậy đĩ vén sống. Người Bắc không nói “Dậy đĩ vén váy” mà nói “Dậy đĩ vén sống;” và cái tên “Pằng-tà-lồng Ộp, Bùng Rền;” những năm 1965 thế giới có cái mode – dường như phát xuất từ Paris – mode minijupe. Váy ngắn. Năm xưa ấy Mini Jíp có đến Sài Gòn.

TB San:

Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy nó cũng chẳng tha
Nó cứ ấn, cứ nhét cái đầu cha nó vào
Cái gì như cái củ nâu
Cái gì như thể cái cần câu nó gật gù…

CTHĐ:

Hôm qua lên núi hái chè.
Gặp thằng phải gió nó đè em ra.
Lậy van nó cũng chẳng tha.
Nó đem nó nhét cái mả cha nó vào.

Trong Tục Ngữ Phong Dao NV Ngọc không có bài “Hôm qua lên núi hái chè..”

Nhắc lại và nhấn mạnh: Chỉ khi mặc váy đàn bà, con gái mới để cho người đời nhìn thấy cái Sự Đời Lá Đa. Phụ nữ Á, Phụ nữ Âu Mỹ mặc váy cũng để hở Sự Đời như nhau. Chỉ có khác là phụ nữ Âu Mỹ mặc slip, phụ nữ Á châu ở trần. Bà Hillary Clinton khi là First Lady có lần – mặc váy – ngồi hớ hênh bị anh Phó Nháy chụp ảnh bà để lộ cái slip. Từ đó người ta thấy bà Hillary Clinton chuyên mặc quần.

Tennis không ăn nhậu gì đến “Sáng trăng suông,” Tennis ăn nhậu đến “Váy.” Từ năm 1980 mỗi năm qua quần short của nam đấu thủ Tennis một dài ra, xuống đầu gối, mỗi năm qua váy của nữ đấu thủ Tennis một ngắn đi và cao lên. Hai Em Tennis Anna Kournikova. Maria Sharapova đều có ảnh ngồi ở sân quần để lộ slip. Từ đó – tôi, CTHĐ – thấy mỗi lần nghỉ vài phút giữa trận đấu, vào ghế ngồi nghỉ, chưa ngồi Maria Sharapova đã cầm cái khăn bông phủ lên đùi nàng, để che cái Sự Đời của nàng.

Chỗ lội làng Ngang:

Cái gì trắng trắng như con cúi?:

Théc méc: Con cúi là con gì? Từ lâu tôi – CTHĐ – vẫn théc méc về chuyện “con Cúi.” Trong mấy quyển Tự điển ở Rừng Phong tìm không thấy có “con Cúi.”  “Trăng trắng” chỉ là “bẹn.” Cái Lá Đa Sự Đời nó phải đen đen. Ông Cuội phải nhìn thấy cái Lá Đa  đen đen ông Cuội mới có thể mỉm miệng cười.

Quí vị đọc bài này ai biết “con Cúi” là con gì, hình dáng nó ra sao, xin cho mọi người cùng biết.

Theo tôi: “Đàn bà đến đó sắn váy lên.”

Đánh đu.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Théc méc: Bốn mảnh quần hồng: Trai mặc quần hồng? Đùi trai cũng là đùi ngọc?

Tiếng “Suông” trong Thơ Tản Đà.

Đêm suông phủ Vĩnh.

Đêm suông năm bẩy cái suông suồng.
Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông.
Một bức mành con coi ngán nỗi.
Một câu đối mảnh nghĩ dơ tuồng.
Một vầng trăng khuất đi mà đứng,
Một lá màn treo cuốn lại buông.
Ngồi hết đêm suông suông chẳng hết.
Chùa ai xa điểm mấy hồi chuông.

Theo tôi “trăng khuyết”, không phải “trăng khuất.”

TB San:

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió não nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương

CTHĐ: Một cơn mưa gió nặng nề.

Những năm 1981, 1982 sống buồn quá đỗi ở Sài Gòn Cờ Máu., tôi làm bốn câu:

Tối trời em tưởng trăng thanh
Em ngồi em để  Sao Vành em ra.
Sao Vành như cái lá đa.
Đen hơn mõm chó. Chém cha Sao Vành.  

10 Responses

  1. Reblogged this on Giai01's Blog and commented:
    xem

  2. […] SÁNG TRĂNG SUÔNG (Hoàng Hải […]

    • Kính gửi đại ca Hoàng Hải Thủy,
      Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Phạm Nguyên Súy, cựu đại úy Công binh QLVNCH từng làm việc tại Sư Đoàn 18 BB trong những năm 1965-1970, sang Mỹ theo diện H.O.9 vào năm 1991, đi làm gần 20 năm và đang nghỉ hưu ở tuổi 75.
      Tôi có đọc được bài, “Sáng Trăng Suông ” của đại ca trên tờ Sài Gòn Nhỏ trong đó đại ca có đề cập đến từ, “Con cúi.” Từ này liên quan đến nghề trồng bông dệt vải nên tôi xin góp ý với huynh trưởng đôi chút. Tôi cũng chỉ tả lại dựa theo những gì mình quan sát được trong tuổi ấu thơ khi thấy ông bà, cha mẹ làm nghề trồng bông dệt vải, trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Tôi cũng xin dùng những ngôn từ mà đại ca đã dùng, tức không bảo đảm đúng 100%, nhưng cũng không sai là mấy (nếu có) để phần nào đáp ứng được những thắc mắc của đại ca.
      Khi xưa tôi ở một làng quê thuộc huyện Đông Quan, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình. Ông nội tôi làm Bá hộ nên làng trên, xã dưới kính nể ít khi gọi thẳng tên mà hay gọi là Cụ Bá. Bố tôi làm chức Chưởng bạ nên người ta cũng thường gọi là ông Chưởng bạ kèm theo tên riêng. Ở hầu hết làng xã miền Bắc, người dân rất kính trọng các vị chức sắc nên hễ có danh vị một chút là người ta gọi mình bằng chức vị đó. Ví dụ chú tôi làm cai lệ trên huyện thì họ gọi là Ông Cai rồi mới đến tên riêng. Thậm chí một ông ngang vai với ông nội tôi đi lính tây về họ cũng gọi là Ông Lính Khiển (vì tên ông là Khiển). Thông thường những người có chức phận một tí thì không phải đi sưu dịch (hộ đê khi nước lụt chẳng hạn). Vì thế nếu không tranh được chức vị gì chính thức thì người ta cũng mua để tránh việc quan. Do đó mới có chức phó lý mua và vài chức vụ trong làng xã khác để khi có đình đám thì được ngồi chiếu trên mà tục ngữ thường gọi là “Ăn trên ngồi trốc” (có người dùng sai là “Ăn trên ngồi trước). Dài dòng một chút để huynh trưởng biết lai lịch của tôi để thấy rằng những gì tôi nói đều có căn cứ, nhất là những gì liên quan đến từ “Con cúi.”
      Vi ông bà nội và bố mẹ tôi đều là những phú hộ nên làm đủ thứ để cung ứng cho gia đình như đào ao nuôi cá, trồng dâu, nuôi tằm, dệt tơ, trồng bông, kéo quay để dệt vải, trồng thuốc lào, trồng chè tươi để bán cho dân chúng trong vùng, trồng lúa để có cái ăn quanh năm, còn dư ra thì bán hoặc cho người ta vay đến mùa gặt mới trả lại.
      Trở lại chuyện con cúi, thì nó như thế này. Cây bông được trồng trên những nương cao để tránh bị úng nước. Mỗi cây cao trên dưới một thước. Khi đến mùa bông nở thì hoa bông được hái về, xong thuê thợ chuyên nghiệp đến đánh tơi để loại hạt bông ra. Bông được đánh tơi sẽ được kéo thành sợi, quấn vào những lõi tre tròn ở giữa, hai đầu múp lại. Mỗi lọn sợi bông được đánh tơi và quấn lại như vậy to cỡ cái bắp chuối con gái và được gọi là “con cúi.” Những con cúi này còn được chế biến thêm cho sợi nhỏ hơn, sau đó được quấn vào những con thoi để đưa lên khung cửi dệt thành vải. Ở nhà quê miền Bắc, vải bông được dệt bằng những khung cửu đạp chân mà hồi còn bé, lúc đó là năm 1950-52 tôi12,13 tuổi thấy bà chị tôi ngồi dệt lách cách suốt ngày. Sau khi vải được dệt xong thì, nếu muốn để trắng thì thôi, còn nếu muốn nhuộm nâu thì bố mẹ tôi mua củ nâu về nhuộm. Phần lớn anh, chị, em chúng tôi đều được mặc quần áo nâu cho sạch vì nhà quê thời đó không biết gì đến việc dùng xà phòng cả.
      Năm 1952 lúc Tây về đi càn, bố mẹ tôi sợ tôi ở nhà quê loạn lạc nguy hiểm nên cho tôi ra thị xã Thái Bình ăn học, và ngay đến lúc đi học ở ngoài tỉnh, tôi vẫn còn phải đi guốc mộc, mặc quần áo nâu nên bạn bè cùng lớp cứ chế nhạo tôi là anh nhà quê cả quỷnh.
      Về việc dệt vải bằng khung cửi đạp chân thì đại ca cũng thấy trong ca dao,
      Canh một dọn cửa dọn nhà,
      Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm.
      Canh tư buớc sang canh năm,
      Trình anh dậy học chớ nằm làm chi…
      Như vậy “Con cúi” chỉ có nghĩa là những lọn sợi bông được chuẩn bị sẵn để dệt thành vải phục vụ cho việc may mặc của con người, chứ không phải một con người hay con vật nào đó được gọi là “Con cúi.”
      Tất cả những gì tôi biết được về nghề trông lúa hay trồng bông dệt vải, trồng dâu nuôi tằm, dêt luạ đều hoàn toàn thấm nhập vào đầu óc tôi một cách tự nhiên khi thấy ông bà, cha mẹ tôi làm những công việc này. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ những giai đoạn của nghề nông mà thời thơ ấu tôi đã từng ra đồng chăn trâu, bắt cào cào, chấu chấu nuôi chim hay bắt những con muỗm ẩn trong luá mùa gặt, nướng ăn rất thơm ngon.
      Xong chuyện “Con cúi,” tôi xin có đôi lời góp ý, mong đại ca đừng phật ý. Tôi thấy đại ca dùng từ,”sử dụng,” nhưng tôi thấy thời VNCH mình chúng ta gọi là ,”xử dụng” chứ không ai viết “sử dụng” cả. Tất cả những từ như xử dụng, xử án, xử thế, xử sự, xử bắn, xử chém đều dùng X, chỉ có sử sách, sử xanh, Sử Việt hay Lịch Sử mới dùng S mà thôi. Tôi cũng thấy người ta viết là “chia sẻ” nhưng tôi học trung học với các thày dạy Việt Văn và Triết cho tôi như Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Duy Diễn, Doãn Quốc Sỹ, Lữ Hồ, tất cả các ngài đều dạy là chia xẻ chứ không ai dạy là “Chia sẻ” cả, vì theo ngu ý của tôi, chia xẻ có nghĩa là chia, cắt ra; chỉ có chim sẻ là dùng S thôi. Đại ca nghĩ sao? Vì thế chừng nào tôi còn viết Tiếng Việt thì tôi vẫn còn dùng xử dụng và chia xẻ, không bao giờ dùng chia sẻ và sử dụng cả. Tôi cũng thề nguyền là không bao giờ dùng từ Việt Cộng, và cũng dạy các con và các cháu nội, ngoại của tôi như vậy.
      Bây giờ đài phát thanh, phát hình và báo chí của Người Việt tị nạn Cộng Sản tiêm nhiễm ngôn từ Việt Cộng nhiều quá! Thú thật với đại ca, tôi cực kỳ căm ghét bọn Cộng Sán phi nhân, đểu cáng, mất dạy. Chúng là quân bán nước, làm tay sai cho Nga, Tầu và bọn Cộng Sản đệ tam quốc tế. Bản thân tôi, một sĩ quan đã giải ngũ trước hoà đàm La Celle Saint Cloud, và mặc dù bị tàn tật rất nặng, thế mà sau 1975 cũng bị chúng tống vào cải tạo hết 6 năm, chịu bao đắng cay, nhục nhằn trong lao tù Cộng Sản không bút mực nào tả xiết. Người lành lặn mỗi lần chuyển trại còn đỡ, những người tàn tật như tôi, hai tay hai nạng gỗ thì còn tay nào mà mang đồ đạc cá nhân, dù chỉ là một bị quần áo và vài cái nồi niều, xoong chảo nấu ăn?
      Đại ca là một nhà văn, một người có kiến thức uyên bác, đọc nhiều hiểu rộng, mong đại ca sưu tầm nhừng cái sai, cái lệch lạc trong ngôn từ mà báo chí và giới văn nghệ đang dùng để góp ý xây dựng, chỉnh đốn những ngôn từ lệch lạc đó lại. Tôi thấy ca sĩ là những người phá hoại Ngôn ngữ Việt nhều nhất, phần vì vô ý thức, phần thì Tiếng Việt họ rất kém. Ngay những ca sĩ tương đối nổi tiếng như Elvis Phương, Kiều Nga, Vũ Khanh, Ý Lan, và ngay cả Ngọc Lan (đã chết) cũng hát sai đầy dẫy. Rồi có những ca sĩ đóng vai sĩ quan QLVNCH mà tóc tai lượt thượt (Đan Nguyên trong các chương trình DVD của Asia chẳng hạn). Tôi đã viết thư phê bình, nói đây là một sự nhục mạ QLVNCH vì theo kỷ luật Quân Đội, từ anh binh nhì tới ông đại tướng, tóc tai chỉ được dài 3cm, thế mà anh ca sĩ này tóc tai lượt thượt nhìn phát gớm, vậy mà vẫn cứ được Asia cho mang lon Trung Úy QLVNCH trong các DVD ca nhạc của họ. Đó là sự nhục mạ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong đó có tôi.
      Mong rằng sẽ có dịp trao đổi với huynh trưởng nhiều hơn nữa.
      Trân trọng,
      Anthony Phạm Nguyên Súy

      • Có một từ tôi viết thiếu chữ I, xin đọc là nhiều nhất, không phải nhều nhất. Đa tạ.

  3. […] (Tây Bụi). – Phim xưa biển Nha Trang , chợ Đà Lạt của một thời (Nam Ròm). – SÁNG TRĂNG SUÔNG (Hoàng Hải Thủy). – TRẦN MỘNG LÂM: ANH BA HOANH (Sơn Trung). – “Ông là Đồ Phổ […]

  4. Góp ý với CTHĐ về chữ “con cúi”.
    “Cúi” không phải là động vật, mà là đồ vật.

    Từ điển VN của hội Khai Trí Tiến Đức giải thích: “Cúi = sợi bông to chưa kéo”.
    Từ điển Vietfun (online) giải thích (nghĩa 1) rằng, “cúi” là chữ viết tắt của “con cúi”; và đưa ra một thí dụ: Cán bông đánh cúi.

    Vậy thì, con cúi là sợi bông to, dĩ nhiên nó phải có màu trắng.

    Nguyễn Văn Thái, Texas

    • Lời góp ý của bạn Nguyễn Văn Thái, Texas, càng làm sáng tỏ thêm từ “Con cúi.” Như vậy là những gì tôi nhớ là hoàn toàn đúng. Có thế chứ! Cảm ơn bạn Thái và mong nhà văn Hoàng Hải Thuỷ thoả mãn về danh từ này.
      Phạm Nguyên Súy

  5. […] SÁNG TRĂNG SUÔNG (Hoàng Hải […]

  6. Ông Nguyễn Văn Thái dẫn TDVN của Hội Khai Trí Tiến Đức và từ điển Vietfun. Lời giải thích cũng như thí dụ không sai nhưng ngắn gọn quá, có thể khó hiểu cho người chưa bao giờ thấy việc trồng bông, kéo sợi, dệt vải. Múi bông lấy từ quả về có hột, người ta tách bông khỏi hột bằng cách nhét múi bông chui qua khe hẹp giữa hai thanh gỗ hình trụ quay ngược chiều, như kiểu ép nước mía. Dụng cụ ấy gọi là cái cán bông, việc tách bông khỏi hột gọi là cán bông. Bông cán ra phải cung, để các sợi bông nhỏ li ti không bết vào nhau mà tơi ra, sợi này cách sợi kia đều nhau, rồi mới đánh hay se thành con cúi được. Đó là một khối lượng bông se lại tương đối chặt hình trụ, nhỏ bằng ngón tay cái, dài cỡ gang tay, có thể cầm gọn trong bày tay khi kéo sợi. Gia đình tôi đã từng trồng bông, dệt vải, tự làm được hầu như tất cả mọi việc trong “qui trình” sản xuất vải, trừ việc “cung” bông phải mướn thợ chuyên môn. Hi vọng quí vị hình dung ra được phần nào các việc cán bông đánh cúi. Hai việc cung bông và kéo sợi khó tả mà sẽ phải dài dòng lắm nên xin kiếu.
    Kim Bồng

  7. Cái máy cán bông này thì khi bố mẹ và ông bà nội tôi trồng bông, tôi cũng đã từng được bố mẹ tôi giao cho công việc cán bông, nhưng hai trụ cán tôi thấy là bằng gỗ, giống như gỗ lim, nhẵn bóng, phía bên phải có một tay quay (manivelle), và đầu 2 trục quay có bánh răng khía hẳn hoi nên khi quay tương đối khá nhẹ so với sức vóc của một đứa trẻ 8, 9 tuổi như tôi ở những năm 1948-1950.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: