• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TÙ NGỤC XƯA NAY

Trong những ngày cuối đời sống nơi xứ người, tôi có dịp đọc những trang Sử Ngục Tù do các vị chí sĩ Việt Nam cùng đời ông cha tôi viết, nhiều trang Sử làm tôi cảm khái. Rất nhiều.

Tôi mời quí vị cùng tôi đọc chuyện hai ông Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, những năm 1944, 1945, được Quân đội Nhật giúp – có thể nói là lợi dụng –  trong việc đánh đổ chính quyền Thực Dân Pháp ở Ðông Dương. Quân Phiệt Nhật lợi dụng hai ông cho quyền lợi của họ,  nên để tránh việc hai ông bị Pháp bắt, họ đưa hai ông từ Hà Nội sang Singapore – Tân-gia-ba – tạm ngụ, chờ ngày họ lật đổ Pháp, họ sẽ đưa hai ông về nước lập chính phủ Việt Nam thân Nhật. Hai ông sống cô đơn, buồn nản cả năm ở đảo Chiêu Nam, ông Dương Bá Trạc chết vì bệnh ở đấy, chỉ có một mình ông Trần Trọng Kim về nước.

Nhà Yêu Nước Dương Bá Trạc

Nhà Yêu Nước Dương Bá Trạc

Ông Dương Bá Trạc đỗ cử nhân Hán học năm ông 16 tuổi – năm 1900 – ông là anh của ông Dương Quảng Hàm.  Năm 1908 ông bị Pháp bắt vì tội chống Pháp, ông bị xử án 15 năm tù khổ sai, bị đày ra Côn Đảo. Năm 1917 ông được Tòan Quyền Albert Sarrault ân xá.

Năm 1946, ông Trần Trọng Kim một lần nưã bỏ Hà Nội sang Trung Quốc sống lưu vong. Ông viết Hồi Ký “MỘT CƠN GIÓ BỤI.” Ðây là đoạn ông kể về những ngày ông và ông Dương Bá Trạc sống ở Singapore:

Một Cơn Gió Bụi. Hồi ký Trần Trọng Kim. Trích:

Sáng hôm sau, tôi đang ở trong nhà thấy mấy người Hiến binh Nhật đi xe hơi đến nói có lệnh đón tôi về Khách sạn của Nhà Binh Nhật! Nghe hai tiếng “có lệnh”, biết là mình không sao từ chối được. Tôi trách người Nhật quen tôi rằng sao ông đã hứa với tôi không cho Hiến binh Nhật biết về tôi, mà lại đi báo để Hiến binh đến chỗ tôi ở?

Người ấy nói:

“Tôi là người Nhật không có chức quyền gì, nếu cứ để ông như thế này nhỡ người Pháp biết mà đến bắt ông, thì tôi làm thế nào bênh vực được ông? Vì vậy tôi phải cho Hiến binh Nhật biết, để bảo vệ ông thôi, không có ý gì khác.“

Thôi đành theo số phận, tôi lên xe đi đến Khách sạn của Nhật. Ðến năm giờ chiều hôm ấy, thấy Hiến binh Nhật đưa ông Dương Bá Trạc  vào Khách sạn.

Ông Dương Bá Trạc là một nhà văn học, đỗ cử nhân từ năm ông 16 tuổi, vì tình nước ông không ra làm quan với triều đình ta, ông  cùng ông Phan Bội Châu đi làm cách mệnh, ông đã từng bị người Pháp bắt, kết án và đày ra Côn Lôn. Sau án tù ở Côn Lôn tuy được về nước nhưng ông bị cưỡng bách lưu trú mấy năm ở Nam kỳ. Ông với tôi là bạn cùng làm Bộ Việt Nam Tự Ðiển ở Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Ðức. Tôi trông thấy ông Dương, cười hỏi:

“Sao bác lại vào đây?”.

Ông Dương nói:

“Mình đang định lui về quê, bị bọn Hiến binh Nhật đến nhà mời lên xe đưa vào đây. Nghe đâu mấy hôm nay họ bắt lung tung cả, Pháp bắt, Nhật bắt, chưa biết rõ những ai bị bắt”.

Sau một lúc hỏi han về tình cảnh của nhau, ông Dương nói:

“Bây giờ chúng ta lâm vào cảnh này thật là khó xử quá. Dù mai đây chúng ta có trở về nhà, người Pháp cũng chẳng để ta yên. Chi bằng chúng ta nói với Hiến  Binh Nhật cho chúng ta ra nước ngoài để gặp ông Cường Ðể, ta sẽ bàn với ông cách làm việc gì có ích lợi cho tương lai nước nhà”.

Tôi nói:

“Ông Cường Ðể thì chỉ có bác quen biết mà thôi, và nghe nói ông ấy đã ủy quyền cho ông Ngô Ðình Diệm và ông Huỳnh Thúc Kháng tổ chức mọi việc, tôi chạy theo ông ấy thì có ích gì?“

Ông Dương lại nói:

“Hoàng thân Cường Ðể là người được Chính phủ Nhật Bản yểm trợ, ta ra nước ngoài cùng làm việc với ông ấy, rồi ta xin người Nhật cho cả ông Huỳnh Thúc Kháng và ông Ngô Ðình Diệm ra cùng ta nữa, ta sẽ lập thành một cơ quan ở hải ngoại, quy tụ hết thảy những nhà cách mệnh đã ở nước ngoài về một sở thì sự hành động của ta sẽ có ý nghĩa lắm. Chẳng hơn là cứ lẩn nấp ở trong nước, để cho người Pháp bắt giam ư?.“

Tôi nghe ông Dương nói cũng bùi tai, liền bàn nhau viết thư xin người Nhật giúp chúng tôi ra nước ngoài. Cách mấy hôm, viên Thiếu tá Hiến binh Nhật ở Hà Nội đến thăm chúng tôi,ø nói:

“Việc các ông xin ra nước ngoài là rất phải, để tôi vào Sài Gòn hỏi ý kiến Tư Lệnh Bộ trong ấy, lệnh trên định thế nào, tôi sẽ nói cho các ông biết ngay”.

Chúng tôi đợi ở khách sạn đến gần ba tuần lễ, viên Thiếu tá mới trở về,  đến nói cho chúng tôi biết:

“Tư Lệnh Bộ cho hay các ông đi đâu bây giờ cũng không tiện, chỉ có sang Chiêu Nam Ðảo là tốt hơn cả. Các ông sang đấy rồi ông Cường Ðể cũng sẽ về đấy cùng nhiều người khác nữa, các ông sẽ họp nhau làm việc, rất là thuận tiện”.

Chúng tôi nghĩ miễn là mình thoát ra khỏi cái cảnh eo hẹp này là được, vậy có sang  Chiêu Nam Ðảo cũng chả sao. Chúng tôi nhận đi.

Từ đó người Nhật tổ chức đưa chúng tôi vào Sài Gòn rồi đưa sang  Chiêu Nam Ðảo. Lúc chúng tôi ở Hà Nội đi, có người giúp cho được 5.000 đồng, giao cho ông Dương giữ cả.

Chúng tôi đi xe lửa với một toán lính Nhật vào Sài Gòn. Trước hết đến Sở Hiến Binh Nhật ở mất 12 ngày, rồi sang  ở nhà khách của Ðại Nam Công Ty ở 19 ngày. Ðến ngày Mùng Một tháng Giêng năm 1944 hai chúng tôi xuống tàu thủy sang Chiêu Nam Ðảo.TT Kim Singapore

Ông Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Thứ Nhất của Quốc Gia Việt Nam.

Ông Trần Trọng Kim, vị Thủ Tướng Thứ Nhất của Quốc Gia Việt Nam.

Sau khi chúng tôi vào Sài Gòn được tám, chín ngày, xem báo được biết là cái nhà Khách sạn Nhật Bản chúng tôi ở trước, bị tàu bay Mỹ ném bom ngày Mồng 9 Tháng 12 năm 1943, bom đánh đúng vào giữa cái phòng chúng tôi ở. Ấy là trong khi nguy nan vẫn có Trời tựa, chứ nếu chậm lại độ mươi ngày thì mạng sống của hai chúng tôi cũng đi đời rồi.

Kể chi những nỗi lo sợ ở dọc đường từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi sang đến Chiêu Nam Ðảo. Lúc ấy chúng tôi chỉ mong chóng đến nơi để tổ chức công việc làm của mình. Người ta thường có cái tính lạ, là đang giữa lúc chiến tranh như thế, mà vẫn tưởng tượng Chiêu Nam Ðảo như Singapour ngày trước, chưa tới nơi mà đã dự định đến là sẽ mở cuộc mời ngay hết thảy những chính khách Việt đang lưu vong ở nước ngoài về đấy để cùng nhau trù tính việc nước. Ngờ đâu khi đến Chiêu Nam Ðảo rồi, mới biết cái đảo khi xưa thịnh vượng bao nhiêu, thì bây giờ tiều tụy bấy nhiêu. Ngoài cảng chỉ có lơ thơ vài chiếc tàu vận tải của Nhật, ở trong thành thị, những nhà cửa phố xá không hư hỏng mấy nhưng sự buôn bán đình trệ, cuộc sinh hoạt mỗi ngày một nghèo ngặt, lúa gạo mỗi ngày một khan, các thực phẩm đắt đỏ không thể tưởng tượng được. Sự đi lại với các xứ ngoài, người Nhật kiểm soát nghiêm mật, thành ra không giao thông được với đâu cả.

Lúc chúng tôi còn ở Sài Gòn, đã biết có hai chính khách Việt Nam ở Nam bộ đã sang Chiêu Nan Ðảo, cho nên khi tàu ghé vào bến chúng tôi cứ rướn cổ  trông xem có ai là người Việt Nam ra đón mình không. Trông chẳng thấy ai đã buồn bực, lại thấy mấy người Nhật đưa chúng tôi đi giữ cái thái độ bí mật. Hỏi họ đưa chúng tôi đến chỗ nào, họ cũng không nói năng gì. Họ đưa mình đến đâu cũng chẳng biết, trong bụng chỉ lo họ đem chúng tôi vào Sởø Hiến Binh như ở Sài Gòn, rồi cứ sống tù túng trong Sở đó  thì cực quá. Thôi thì đã liều thì liều cho đến cùng.

Người Nhật đưa chúng tôi về Khách sạn “Quốc Tế Phú Sĩ Binh Trạm” ở đường Grame Road. Ðến đấy chúng tôi có một sự vui mừng  là được gặp hai ông bạn đồng chí là ông Ðặng Văn Ký và ông Trần Văn Ân, chúng tôi  đã nghe nói đến hai ông này từ trước.Ông Ký và ông Ân được người Nhật đưa từ Sài Gòn sang đây trước chúng tôi mấy tháng.  Ði sang nước xa lạ, tiếng nói của người dân mình không biết mà gặp được người cùng xứ sở chuyện trò vui vẻ kể sao xiết.

Lúc đầu hai chúng tôi còn hứng thú đi xem đây xem đó, và gặp mấy người Việt Nam sang làm việc, hoặc buôn bán hay làm thuyền thợ, rồi vì sự chiến tranh mà mắc nghẽn bên ấy. Ai nấy đều vui mừng đón mời. Gặp nhau như thế làm cho chúng tôi khuây khỏa ít nhiều, song cũng không làm cho chúng tôi quên được sự nhớ nhà, nhớ nước.

Từ khi chúng tôi vào ở Khách sạn Nhật Bản ở Hà Nội cho đến khi sang tới Chiêu Nam Ðảo, trong óc chúng tôi tính toán dự định bao nhiêu công việc phải làm, nào báo chí, nào ủy ban này ủy ban nọ. Hễ lúc nào trong óc nẩy ra một ý tưởng gì, thì tưởng như thấy sự thực đã hiện ra trước mặt rồi. Ðến khi trông rõ sự thực, thì bao nhiêu mộng tưởng của mình vẫn ngấm ngầm vuốt ve, lại biến đi đâu mất cả.

Ở Chiêu Nam Ðảo hơn một tháng chẳng thấy gì khác, sáng như chiều, bốn người lủi thủi với nhau. Những người mà Nhật hứa hẹn sẽ đưa đến, cũng chẳng thấy ai, nỗi chán nản ngày một tăng thêm, thêm nỗi buồn lo vì nghĩ mình mắc vào cái cạm không sao gỡ mà ra được.

Về đường vật chất, thì những ngày đầu  bốn chúng tôi ở hai buồng lớn trong căn nhà hai tầng lên xuống dễ dàng. Từ tháng Tư Dương lịch trở đi, chủ khách sạn bảo chúng tôi dọn sang nhà lớn ở từng thứ năm, thang máy chỉ chạy có giờ mà thường lại hư hỏng, thành ra phần thì nóng nực phần thì trèo thang nhọc mệt phần thì thấy công việc chẳng có gì làm, sự ăn uống lúc đầu ngày ba bữa còn được sung túc, sau dần thiếu gạo, thiếu đồ ăn, có khi trong ba bữa phải hai bữa ăn mì bột sắn nấu với nước sôi.

Sự ăn uống thiếu thốn, hoàn cảnh quạnh hiu, tâm tình sầu muộn, lại ngày lên thang xuống thang nhọc mệt, chẳng bao lâu tôi mắc bệnh máu bốc lên đầu. Thuốc thang không có, chỉ có mấy ngày lấy bớt máu ra một lần. Thầy thuốc Nhà binh Nhật chữa mãi không khỏi, tôi phải chữa thầy thuốc ngoài. Có câu chuyện tự nhiên mà thành ra buồn cười: tôi đến nhà y sĩ người Trung Hoa. Ông xem xong rồi bảo tôi về ăn ít cơm và rau. Ông nói thế, thật là đúng phép, nhưng cơm đã không có đủ ăn, còn rau thì tìm đâu ra. Thôi thì việc sống thác phó mặc trời xanh ta cứ “cư dị dĩ sĩ mệnh”. Ấy là trong bụng tôi nghĩ như vậy, rồi ngày ngày tôi lấy Ðường thi dịch ra Việt thi để làm việc tiêu khiển.

Bệnh tôi chưa khỏi thì đến lượt ông Dương Bá Trạc bắt đầu đau. Trước thì mỗi khi tôi có cơn chóng mặt, ông trông nom thuốc thang cho tôi, sau dần ông thấy trong người ông mỏi mệt, và một đôi khi có ho năm ba tiếng. Tôi hỏi ông nói không việc gì. Tôi tin ở lời ông vì ông biết thuốc, thường ai đau yếu ông vẫn bốc thuốc cho người ta. Ông vẫn gượng đi chơi, hoặc ngồi dịch Ðường thi với tôi, cho nên ai cũng tưởng bệnh ông là bệnh xoàng.

Chúng tôi thấy từ năm 1944 trở đi, quân Nhật đánh ở các nơi thường cứ bại trận, Chiêu Nam Ðảo lại là nơi chiến địa, lương thực cạn khô, mà ở bên Xiêm thì gạo thóc nhiều và có nhiều người Việt Nam ở bên ấy. Ông Dương bàn với tôi rằng:

“Ở đây có nhiều điều nguy hiểm, chi bằng ta xin người Nhật cho  ta về Băng Cốc để dù xảy ra việc bất ngờ gì, ta còn có chỗ lui tới”.

Chúng tôi  làm cái thư xin Quân đội Nhật cho về Băng Cốc.

Thư gửi đi được mấy ngày, bấy giờ vào khoảng Tháng 9 Dương lịch, chủ khách sạn không hiểu duyên cớ gì lại bảo chúng tôi dọn về ở hai cái buồng cũ rộng rãi và mát mẻ hơn. Một hôm ông Dương đang ngồi dịch thơ với tôi, tự nhiên thấy ông lên cơn nấc. Nấc mãi không thôi, uống thuốc gì cũng không khỏi. Chúng tôi khuyên ông nên đi đến thầy thuốc Nhà binh Nhật xem rõ bệnh tình ra sao. Ông cho là bệnh thường, không chịu đi. Sau cơn nấc cứ làm khổ ông  cả ngày và đêm, nhọc mệt quá, ông mới chịu đi đến bệnh viện cho thầy thuốc xem.

Thầy thuốc ở bệnh viện đem chiếu điện xem phổi, thì ra ông mắc bệnh phế nham, là bệnh ung thư ở trong phổi. Người Nhật bảo ông phải vào nằm bệnh viện, ông không muốn vào, nói rằng: sống chết có mệnh, nay vào bệnh viện ngôn ngữ không biết, có nhiều sự bất tiện. Ông Trần Văn Ân nói:

“Cụ cứ vào, tôi vào bệnh viện ở với cụ”.

Trong bốn người chúng tôi, có ông Ân biết ít nhiều tiếng Anh và tiếng Nhật. Chúng tôi nói mãi, ông Dương mới chịu vào bệnh viện.

Ðịnh đến 3 giờ chiều ngày 5 tháng 1 Dương lịch thì Tư Lệnh Bộ Nhật Bản cho xe đến đưa ông Dương vào bệnh viện Nhà binh. Bữa cơm trưa hôm ấy ông Dương với tôi đi ăn cơm, bữa ăn chỉ có mỗi người một bát mì làm bằng bột sắn. Tôi nuốt không trôi, phần thì thương bạn, phần thì ngậm ngùi về số phận. Lúc mới rời nước ra đi tuy có nhiều điều cực khổ, nhưng lòng còn chứa chan hy vọng về công việc làm, thành ra vẫn hăng hái. Nay bao nhiêu hy vọng ấy đã thành ra ngọn khói bay tan, lại nhớ những lúc đi đường, đói no, lo sợ có nhau, giúp đỡ lẫn nhau, bây giờ chẳng may tôi đau yếu chưa khỏi mà bạn lại mắc phải cái bệnh nguy hiểm tính mệnh chưa biết ra sao. Hai người ngồi đối diện không nói năng gì mà tôi chắc rằng cũng đồng một ý nghĩ như nhau thành ra trước hai bát mì bột sắn, chỉ có bốn dòng lệ tuôn mưa. Tôi nói:

“Bệnh bác tuy nặng, nhưng chưa đến nỗi thất vọng, bác chịu khó vào bệnh viện cho người ta chữa, trời nào phụ lòng bác. Thỉnh thoảng tôi  vào thăm bác”.

Ông Dương nói:

“Còn một ít tiền đây, bác giữ lấy phòng khi có việc gì mà tiêu”.

Từ khi ở Hà Nội đi ra đến bây giờ, tiền nong có bao nhiêu ông Dương vẫn giữ tôi không biết. Anh em dặn dò nhau xong thì xe hơi đến, ông Trần Văn Ân đưa ông Dương vào bệnh viện.

Ông Dương đi rồi,  tôi nằm một mình trong phòng khách sạn, tình cảnh mới thê thảm làm sao; lại nhớ bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Vi Trang đời Ðường tôi vừa dịch xong:

Than thân xa lạ quê người

Lại cùng người cũ bên trời chia tay

Trăng tàn quán khách sớm mai

Tỉnh say ai cũng lệ rơi ướt đầm.

Khi ấy có một người Việt Nam khá giả ở Chiêu Nam Ðảo đã lâu, thường đem xe hơi đến đưa tôi đi chơi cho đỡ buồn. Một hôm ăn cơm tối rồi người ấy đưa tôi ra bờ biển ngồi xem trăng lên, tôi thấy cảnh động lòng thơ, mới vịnh một bài ngũ ngôn rằng:

Chiêu Nam ngụ đất khách

Hà Bắc nhớ quê hương

Mặt biển lô nhô sóng

Góc trời chênh chếch gương

Thân già đau đã nản

Bạn cũ bệnh càng thương

Tạo hóa chơi khăm quá

Trung trinh cũng đoạn trường!

Tôi vốn ít làm thơ, khi cao hứng làm một vài bài, nghe nó vẫn thật thà như thế, nên không hay làm. Dù sao nó cũng biểu lộ được chút tâm tình sầu muộn của tôi nơi đất khách lúc bấy giờ.

Khi mới vào bệnh viện, người Nhật để ông Dương ở khu  riêng của các Tướng Nhật,  và đối đãi rất tử tế. Ông nằm ở đó được mấy ngày thì phải đem sang nằm ở khu bệnh truyền nhiễm. Bệnh nấc tuy có đỡ, nhưng bệnh phổi thì mỗi ngày một nặng thêm. Ngày 13 tháng 1, tôi cùng mấy người bạn khác vào thăm ông Dương vừa đúng ngày ông phải dọn sang phòng riêng. Chúng tôi thấy ông phải sang ở một mình trong phòng rộng như thế ai nấy đều lo, nhưng không dám nói ra. Dọn sang phòng mới rồi, chúng tôi ngồi chơi một lúc, tôi hỏi ông Dương rằng:

“Tôi nghe bác có người con làm y sĩ ở Sài Gòn tên là gì và địa chỉ ở đâu?”

Ông nói:

“Nó làm ở Nhà Thương Chợ Quán ngay tại Sài Gòn nhưng không nên cho nó biết tin tôi bệnh làm gì”.

Tôi biên tên và địa chỉ người con ông Dương để phòng khi có xảy ra sự gì chẳng may tôi có thể báo tin cho biết.

Trong khi đang bối rối lo buồn như thế, vào khoảng đầu tháng 12  Dương lịch, Tư Lệnh Bộ Nhật cho viên Trung úy đến nói rằng có lệnh bên Ðông Dương sang cho ông Dương và tôi đi Băng Cốc. Tôi nói ông Dương đang đau nặng nằm ở bệnh viện, đi làm sao được. Ðể hỏi y sĩ bệnh viện xem ông Dương có đi được không, thì cùng đi cả hai người. Nếu ông Dương đi không được, thì hãy đình việc ấy lại, tôi cũng không đi. Thế là chuyện đi Băng Cốc ao ước mãi nay lại không thành.

Ông Trần Văn Ân, từ ngày ông Dương sang ở nhà bệnh truyền nhiễm thì không được phép ở luôn trong bệnh viện nữa, chỉ ngày ngày vào thăm mà thôi. Mỗi lúc ông ở bệnh viện về đều cho chúng tôi biết bệnh tình ông Dương nguy lắm. Qua đến ngày 10 tháng 12,  hồi 14 giờ 30, một người lính ở Tư Lệnh Bộ Nhật đến tìm ông Ân, bảo ông phải vào ngay bệnh viện, ông Dương nguy lắm.

Nghe nói chúng tôi biết là tin dữ. Ông Trần Văn Ân và ông Ðặng Văn Ký đi ngay vào bệnh viện, tôi thì lên cơn chóng mặt, nằm quay ra giường. Hai người vào đến nơi thì biết ông Dương đã mất từ lúc 12 giờ 30, giờ Nhật Bản tức là hồi 10 giờ 30 ở Sài Gòn. Thế là xong một đời người chí sĩ Việt Nam, một người đã lăn lộn trong cuộc Cách mệnh mưu sự Ðộc Lập cho nước nhà.

Ðộ hơn một tháng trước, một hôm ngồi nói chuyện, ông Dương nói: “Tôi thường không tin sự bói toán, nhưng tôi nghiệm thấy bói Kiều lắm lúc hay lắm. Khi xưa tôi đi thi Hương, có bói một que Kiêủ, thấy là thi  đỗ, mà rồi đỗ thiệt. Sau phải đầy ra Côn Lôn, lại một hôm bói một quẻ, đoán là sắp được về, cách mấy ngày quả được về thiệt”.

Chúng tôi nói:

“Bây giờ ông thử bói một quẻ xem số phận chúng ta ra sao.”

Ông nói: sáng mai ông sẽ làm quẻ bói.

Sáng ngày hôm sau, ông vui mừng bảo chúng tôi:

“Về, các ông ơi, chúng ta sắp được về nước.”

Chúng tôi hỏi:

“Sao ông biết?”

Ông vui nói:

“Tôi vừa bói một quẻ Kiều được hai câu nầy:

Việc nhà đã tạm thong dong,

Tinh kỳ dục dã đã mong độ về.

Theo  nghĩa hai câu ấy là chúng ta sắp được về.”

Thấy ông nói thế, ai nấy đều vui vẻ mừng rỡ. Kể ra đối với ông Dương thì Quẻ Bói Kiều ấy không đúng, mà đối với ba chúng tôi thì chỉ cách có mấy tháng sau là ba chúng tôi cùng được về nước. Việc tin hay không tin ở Quẻ Bói là chuyện khác, ở đây tôi cốt kể lại một chuyện cỏn con đó mà chứng thực cái lòng mong mỏi của chúng tôi lúc ấy là ai cũng muốn chóng được về nước.

Trước ba ngày khi ông Dương từ trần, ông có viết một bức thư rất dài bằng chữ Nho đưa cho Tư Lệnh Bộ Nhật, nói ông chết thì xin người Nhật cho hải táng, nghĩa là đem ném thây ông xuống biển. Ðến khi ông mất rồi, Tư Lệnh Bộ Nhật cho người đến bảo tôi rằng:

“Lễ hải táng phải có tàu đưa xác ra biển mà nay đang lúc chiến tranh, dùng tàu chiến làm hải táng rất không tiện. Vậy xin theo lễ Nhà Binh Nhật làm lễ Hỏa táng ông Dương như một chiến sĩ tử trận.”

Tôi nói rằng:

“Ông Dương một đời vì nước tranh đấu, tuy không tử trận cũng như tử trận. Nay Nhà Binh Nhật đãi ông Dương như thế, chúng tôi rất cảm tạ”.

Sáng ngày 12 Tháng chạp, làm Lễ Hỏa táng ông Dương Bá Trạc ở Chiêu Nam Ðảo, đến chiều đem cốt tro xác ông đựng vào cái hộp gỗ, ngoài đề danh hiệu, rồi đưa thờ tại chùa Bản Nguyên Tự của Nhật Bản. Ðến ngày 16 tháng 12 Dương lịch,  tức là ngày Mùng 2 tháng Giêng năm Giáp Thân làm lễ cầu kinh siêu độ cho ông ở tại chùa, có nhiều người dân Việt Nam ở tại Chiêu Nam Ðảo đến dự lễ.

Riêng về phần tôi, thì thật là sầu thảm. Lúc đi thì hai người cùng đi với nhau, nay còn một mình tôi, lại đau yếu chưa biết sau này ra sao.

Kể sao xiết nỗi thảm sầu.

Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay. 

2 Responses

  1. […] – TÙ NGỤC XƯA NAY (Hoàng Hải Thuỷ). […]

  2. […] – TÙ NGỤC XƯA NAY (Hoàng Hải Thuỷ). […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: