• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

LỜI HỨA

– Năm anh đang đăng cái truyện “Người Yêu, Người Giết” trên nhật báo Sống, em có vào Sài Gòn. Em đến nằm ở tiệm ông Tư Kiêu, nghe anh em giang hồ ở đó nói  anh có đến đấy chơi, em định bụng chờ anh đến, em sẽ kể cho anh nghe chuyện vượt ngục của em. Ðể anh có thêm tài liệu đúng mà viết đoạn bọn côn đồ trong truyện  – đoạn Già Móng sắp vượt ngục  – em nhớ cái tiểu thuyết ấy lắm mà. Khi em đọc tới đoạn Già Móng sắp vượt ngục, em có nói ở nhà ông Tư Kiêu: “Tiếc quá tôi không được gặp anh Thủy. Nếu được gặp anh ấy, tôi kể cho anh nghe chuyện vượt ngục có tôi tham dự để anh ấy viết vào đoạn này thì hay biết mấy. Vượt ngục ở Việt Nam khác, vượt ngục ở nhà tù bên Tây, bên Mỹ khác…” Anh chưa từng bao giờ ở tù, anh chưa bao giờ vượt ngục hay dính líu vào vụ vượt ngục nào, làm sao anh viết về chuyện tù vượt ngục hay cho được? Phải không ạ?

Tuyển tập Truyện Ngắn của Hoàng Hải Thủy, Nhà VĂN xuất bản năm 1970, gồn 3 truyện: Mợ Chó, Canh Bạc Tất và Lời Hưá. Trong ảnh: H2T năm 1974.

Tuyển tập Truyện Ngắn của Hoàng Hải Thủy, Nhà VĂN xuất bản năm 1970, gồn 3 truyện: Mợ Chó, Canh Bạc Tất và Lời Hưá. Trong ảnh: H2T năm 1974.

Buổi sáng nay tôi vừa, với tư cách ký giả nhà báo, đến thăm ông Tỉnh Trưởng ở tư dinh ông ta. Trước mặt mấy ông sĩ quan thuộc cấp, ông Tỉnh bằng cái giọng tin chắc trăm phần trăm rằng cái gọi là “bài trừ tệ đoan, ma túy” ở trong địa phương ông rất cừ, rất bảnh.. Người vừa nói câu nói dính dáng đến ma túy và tiểu thuyết, và vượt ngục, côn đồ với tôi trên đây là một thanh niên trạc ba mươi tuổi. Mặt gã hơi dài, xương xương, nước da gã hơi đen và gã có cặp mắt sáng, không phải cái sáng của những người trí thức hoặc có nội tâm phong phú, suy tư mà là cái sáng của những kẻ liều lĩnh dám làm những việc ghê gớm như giết người, cướp của, những hành động tàn nhẫn, dữ dội. Gã nằm tiêm thuốc cho tôi và tôi nhận thấy trên bàn tay trái của gã có nhiều vết dao chém, ngón tay út trên bàn tay ấy bị cụt mất một nửa. Người bạn thổ công thành phố này đưa tôi đến đây chơi giới thiệu gã là một du đãng khét tiếng, một tên “quái” nói theo ngôn ngữ du đãng. Gã từng đánh chết người, từng đi tù và đúng như lời gã nói, gã từng tham dự vào một vụ vượt ngục làm chấn động dư luận.

Vụ vượt ngục ấy xẩy ra lâu lắm rồi, trong thời nước mình hãy còn ông Diệm, ông Nhu, bà Nhu. Vụ đó có được đăng báo và vụ đó xẩy ra ở ngay thành phố này. Bây giờ nhắc lại, chắc còn nhiều người nhớ. Ðại khái vụ này như sau: một ngày nọ có một bọn ba tên tới thành phố này thực hiện một vụ đánh cướp. Chúng đánh cướp ngay tiền của chánh phủ chứ không cướp nhà thường dân. Chúng đã sắp đặt, tính toán vụ này từ nhiều ngày trước và chúng đã tính trước đâu ra đấy hết. Chúng biết vào ngày đó cơ quan Nông Tín ở tỉnh này lãnh về số tiền hai triệu để cho nông dân vay theo kế hoạch cho vay của chánh phủ – vào những năm này, đồng tiền chưa mất giá, hai triệu bạc  lớn lắm – chúng tới để cướp số tiền đó ở ngay Ty Nông Tín. Chúng đến Ty vào lúc năm giờ chiều, giờ nhân viên sửa soạn ra về. Chúng cố tình đến Ty vào giờ đó. Chúng đến bằng xe Jeep quân đội đàng hoàng. Gã vào trước gặp ông Giám Ðốc bận quân phục mang cấp bậc Ðại úy, tự xưng là sĩ quan an ninh từ trung ương tức là từ Sài Gòn đến điều tra tại chỗ về vài nhân viên trong cơ quan này trước đây có dính với VC. Khi nhân viên ra về hết là lúc ông Giám Ðốc sẽ mở tủ sắt trong văn phòng ông lấy hồ sơ tố Cộng của nhân viên ông ra khoe. Tủ sắt này cũng là tủ sắt đựng số bạc hai triệu đồng vừa mới lãnh về. Tên thứ hai sẽ vào phòng dùng karaté đánh ngất ông Giám Ðốc trong khi tên thứ ba đóng vai tài xế ngồi trên xe Jeep chờ bên ngoài. Ðánh ngất Giám Ðốc, cướp số bạc hai triệu xong, bọn cướp sẽ vứt lại đó vài tờ truyền đơn MTGP và êm ả ra đi thơ thới hân hoan. Chúng dự tính không dùng đến võ khí và không cần phải giết ai hết.

Và sự việc xẩy ra đúng như chúng dự tính. Ít nhất là đúng tới tám phần mười. Ông Giám Ðốc người Huế khi nghe nhân viên mình bị nghi ngờ hoạt động cho Cộng Sản bèn nhiệt liệt cãi và mở ngay tủ sắt lấy những hồ sơ thành tích, những giấy tờ tưởng lệ thành tích tố Cộng của những nhân viên ra làm bằng chứng cho sĩ quan điều tra coi. Tên cướp thứ hai vào phòng đúng lúc và chặt karaté ngọt như điệp viên James Bond đánh trên màn ảnh xi-la-ma vào gáy ông Giám Ðốc làm ông này gục ngay xuống bàn, ngất đi. Nhưng bọn cướp quên mất một sự kiện nhỏ, nói là chúng quên không đúng hẳn, phải nói là chúng không ngờ đến, không dự tính đối phó trước một việc quá nhỏ xẩy ra lúc đó. Ðó là việc vào giờ này, tuy nhân viên đã ra về hết nhưng vẫn còn vợ chồng người tùy phái kiêm gác sở ở luôn trong căn nhà nhỏ đằng sau. Mỗi lần ông Giám Ðốc có khách, anh tùy phái vẫn có bổn phận pha nước trà bưng vào đãi khách. Buổi chiều này, anh tùy phái bưng khay nước trà vào phòng đúng lúc ông Giám Ðốc của anh vừa bị đánh ngất và hai tên cướp đang dồn số bạc trong tủ sắt vào cặp da. Anh đứng ngây ra đó, tay bưng khay nước, miệng ú ớ kêu không ra tiếng. Tên vừa chặt karaté, tên này là tên đầu bọn, quay lại thấy anh tùy phái và rút ngay con dao găm ra chọc vào cổ anh, lưỡi dao xuyên từ cổ lên đến miệng là nạn nhân chỉ còn thốt ra được những tiếng ặc ặc. Nạn nhân buông rơi khay nước xuống và chị vợ nạn nhân nghe được tiếng ly tách vỡ loảng xoảng trong phòng ông Giám Ðốc. Tò mò chị này nhìn qua cửa sổ vào phòng và thấy chồng chị nằm đó với lưỡi dao găm thọc sâu vào cổ, ông Giám Ðốc nằm gục trên bàn và hai người lạ đang lấy tiền ở tủ sắt. Chị la lên chói lói và cảnh sát ập tới bắt được quả tang cả ba tên cướp. Trụ sở Nông Tín Cuộc ở ngay trước Ty Cảnh Sát, chỉ cách Ty Cảnh Sát một con đường  chừng hai mươi thước. Nếu không có sự xuất hiện bất ngờ của vợ chồng người tùy phái, vụ cướp này đã thực hiện đúng như dự định của bọn cướp và chúng đã thành công hoàn toàn.

Gã du đãng kể lại đầu đuôi vụ cướp trên cho tôi nghe, có tật nói nhiều. Gã nói láu táu và huyên thuyên. Bây giờ gã đã qua thời du đãng hành nghề rồi, gã có vẻ dịu xuống và cả người gã chỉ còn đáng sợ ở đôi mắt. Tuy gã một điều anh, hai điều em với tôi, rất lễ phép, gã không văng tục, không chửi thề, gã có vẻ rất ngoan nữa là khác, nhưng nhìn đôi mắt gã thỉnh thoảng phát ra ánh sáng, long lên, tôi nghĩ rằng nếu tôi chạm đến tự ái của gã, chỉ cần tôi vô ý để lộ cử chỉ gì để gã nghĩ rằng tôi khinh bỉ gã, lập tức gã hạ tôi là mày, xưng tao và ăn thua đủ với tôi ngay tức khắc.

Người bạn thổ công của tôi nằm dưới tôi bên bàn đèn. Anh hút rất ít, mỗi lần chừng một đôi điếu là đã say, hút tới ba điếu là đã có thể biểu diễn một màn “Chu Du thổ huyết” tức là cho chó ăn chè, tức nôn mửa tùm lum. Dân đong thóc gọi việc hút say nôn mửa này là “Chu Du thổ huyết” theo truyện Tam Quốc. Anh nằm thưởng thức trà tầu, ăn kẹo lạc và bánh Trung Thu, lơ mơ bên bàn đèn. Anh nói: “Nằm ngửi khói thuốc anh thả ra cũng đủ say mềm người, khỏi cần phải hút.” Và anh bảo gã du đãng:

– Thuận… Mày phải kể từ đầu vụ này anh ấy mới hiểu được chứ. Mày kể lung tung chưa hết chuyện nọ đã nhẩy sang chuyện kia như thế làm sao anh ấy hiểu. Hãy còn sớm, anh ấy có thể nằm đây suốt đêm nghe mày kể chuyện. Mày cứ từ từ, đàng hoàng mà kể, làm gì mà lật đật như đi ăn cướp ấy.

Lúc này tôi mới biết gã tên là Thuận. Cái tên hiền khô không hợp với một tên du đãng từng giết người. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ. Ða số côn đồ nổi tiếng một thời ở Sài Gòn đều có những cái tên cúng cơm rất thường, như mọi người, như Ðại, như Sơn, như Huỳnh chẳng hạn. Những cái tên rất thường này chỉ dữ dội khi có xước hiệu đi theo, khi trở thành Ðại Cathay, Sơn Ðảo, Huỳnh Tỳ. Như ngày xưa ở Hà Nội có Kim Vá, Mạc Xen – “cái đấm Kim Vá, cái đá Mạc Xen” – Những cái tên chỉ dữ dỗi vì và sau khi có những việc làm dữ dội của những người mang những cái tên đó. Thuận cười:

– Ðàn anh nói chi đúng dữ. Nghề ăn cướp là nghề của em mà.

Ðúng ra, Thuận phải nói là “nghề của chàng” nhưng đang nằm nói chuyện với đàn anh nên gã nói tránh ra là “nghề của em”. Tôi không biết du đãng, côn đồ ngoại quốc ra sao nhưng du đãng, côn đồ Việt Nam có nhã tính đặc biệt là rất coi trọng văn nghệ sĩ, tất nhiên những văn nghệ sĩ được họ coi trọng đó phải là những văn nghệ sĩ đàn anh, ít nhiều nổi tiếng, hơn tuổi họ và được tiếng là không giảo hoạt, không lưu manh, không lên mặt khinh khi họ. Nhiều đàn anh văn nghệ của tôi từng gặp Ðại Cathay trong những tiệm hút ở Sài Gòn, tất cả đều khen Ðại Cathay biết người, cư xử đúng, trọng người hơn tuổi và không tỏ ra hung dữ khi không cần thiết.

Tôi cảm thấy trong giọng nói của Thuận có âm thanh ngậm ngùi:

– Nhưng đấy là chuyện xưa rồi. Bây giờ em hết còn là du đãng. Mười năm trước kia mới có du đãng, năm năm trước đây thời ông Kỳ, ông Loan cũng vẫn còn du đãng. Bây giờ thì hết rồi, hết hẳn rồi. Bây giờ thì hết du đãng yêng hùng kiểu Ðại Cathay rồi. Vì sao các anh biết không? Vì bây giờ thanh niên phải đi lính hết. Cả du đãng cũng phải đi lính. Mà lính là có súng. Ðụng nhau bây giờ là bắn nhau. Cứ có súng trong tay là ai cũng bắn được. Thằng nhát gan nhất lại là thằng bắn hăng nhất, bắn nhiều nhất. Hết còn hơn nhau về gan dạ. Phải đánh nhau bằng dao, lấy sức đọ sức, lấy gan chơi gan, mới có du đãng thứ thiệt…

Bây giờ em ở lính, em đã có vợ con, bây giờ em phải nghĩ đến vợ con, không còn liều mạng bất cần đời như ngày xưa được nữa…

Với những ngón tay hơi dài mấy năm trước đây chuyên cầm dao nay sử dụng cây tiêm sắt rất mềm, Thuận đưa điếu thuốc nâu đã vê tròn trên đầu tiêm vào nõ tẩu trên khẩu đèn. Không cần sửa, không cần vô đến cái thứ hai, điếu thuốc đã nằm gọn đó, tròn xoe trôn quýt, gã chuyển đầu dọc sang tôi:

– Em muốn kể cho anh nghe câu chuyện của em để anh nghĩ một cách nào giúp em. Em muốn các anh ấy nhớ đến thằng em giang hồ từng hy sinh cho các anh ấy vượt ngục. Em muốn nhắc lại hai lời hứa. Lời em hứa với các anh ấy và lời các ảnh hứa với em. Em nghĩ em đã làm tròn lời hứa của em.

– Khi các anh ấy nằm ở nhà lao thị xã này – lời Thuận kể – em cũng vào nhà lao đó. Em vô sau ba anh ấy chừng ba tháng, em bị vồ vì tội ăn cắp. Năm ấy em mới hai mươi tuổi.

Vì đây là lần thứ nhất em thua, lại thua vì tội ăn cắp xe thì em chỉ phải nằm ấp nhiều lắm là ba tháng trong khi các anh ấy phải ra tòa Ðại Hình. Anh Lý tội nặng nhất bị xử tử hình, hai anh kia mỗi anh hai mươi năm tù cấm cố. Các anh ấy chống án chờ lên Tòa trên xử lại. Khi em vào tù, các anh ấy đã tung tiền ra mua chuộc từ quản đốc đến giám thị. Các anh ấy sống trong tù đầy đủ không thiếu một thứ gì. Quái đói rách như em lần đầu vào tù thấy các anh ấy sống như những ông Hoàng, nhất là được giám thị nể, lấy làm kính phục lắm.

Biết là chỉ vài tháng sau là em mãn tù, được ra nên các anh ấy móc nối em, thuyết phục em để giúp các ảnh vượt  ngục. Anh Lý dụ em. Anh ấy nói ra khỏi tù, các anh ấy sẽ sang Pháp ngay, các anh ấy sẽ không ở Việt Nam và do đó em không sợ các ảnh bị bắt lại để em bị liên lụy. Nếu em chịu giúp, các anh ấy sẽ cho em hai trăm ngàn đồng để trả công em.

Số tiền hai trăm ngàn đồng vào những năm đó lớn lắm. Chỉ năm mươi ngàn là mua được chiếc xe Simca bảnh rồi. Em cũng tham tiền nhưng em cũng hãy còn trẻ, em còn nặng máu giang hồ. Nghe anh Lý nói đến chuyện sang Pháp em cũng mơ ngay đến chuyện sang Pháp. Nhưng em không nhận lời anh ấy ngay, em còn thử xem các anh ấy có đủ tư cách để vượt ngục không đã. Em nói: “Anh dụ em giúp anh vượt ngục, anh không sợ em lên tố cáo với quản đốc hay sao?” Anh Lý cười nói: “Nếu em muốn tố cáo cứ việc, anh sẽ bảo giám thị đưa em lên gặp quản đốc bất cứ lúc nào em muốn….”

Nghĩa là anh ấy không hề ngán sợ em tố cáo, anh ấy vẫn tỉnh như không. Hai anh kia tên là Dư và Toán. Tên thật của các anh ấy khác nhưng khi tới đây thực hiện vụ cướp, các anh ấy dùng căn cước giả, tên giả. Em thấy hai anh Dư, Toán tài nghệ thường thôi, nhưng anh Lý thì bản lãnh thần sầu. Anh Lý là linh hồn của cả bọn. Anh Lý sắp xếp tất cả. Trong đời em chưa hề phục ai nhưng khi gặp anh Lý, em phải phục ảnh.

Sau đó em nhận lời, nhưng điều kiện của em là em không lấy tiền, các anh ấy sẽ đưa em cùng đi sang Pháp. Sang đến bên đó rồi em làm gì mặc em, các anh ấy hết bổn phận với em. Thay vì đưa cho em hai trăm ngàn đồng sau khi các anh ấy ra được, các anh ấy đưa em cùng đi sang Pháp hay làm bất cứ cách nào để em có thể đến được đất Pháp. Tuổi trẻ nào mà không thích giang hồ. Sang Tây là giấc mộng vàng của em.

Tôi ngắt lời Thuận:

– Bây giờ chú còn mộng sang Tây nữa không?

Ánh mắt sắc của gã mờ đi giây lát:

– Vẫn còn. Nhưng bây giờ em biết rằng chẳng bao giờ em còn ra đi được nữa.

Em nói thế, anh Lý bằng lòng, tức là anh ấy nhận lời khi ra khỏi tù, sẽ đưa em cùng đi sang Pháp. Từ đó cho đến ngày em ra khỏi nhà lao, em được ở cùng phòng với ba anh. Các anh ấy có tiền nên được ở riêng một phòng. Cũng chính nhờ ở riêng một phòng như thế, các ảnh mới có điều kiện để tổ chức vượt ngục. Việc ở riêng một phòng là việc đầu tiên trong kế hoạch vượt ngục của mấy ảnh, việc thứ hai là việc móc nối em. Nếu không có em, kế hoạch của mấy ảnh khó có thể làm được.

Những điếu thuốc trôn quýt theo nhau thành khói trên khẩu đèn, căn phòng nhỏ càng về khuya càng mù mịt khói. Khói thuốc phiện hòa lẫn với khói thuốc lá. Con muỗi nào dại dột bay vào đây chắc chắn là chỉ say khói thuốc phiện cũng đủ chết. Thuận kể tiếp về vụ vượt ngục:

– Anh Lý dặn em kỹ càng mọi việc em phải làm sau khi em ra tù. Các anh ấy có địa điểm liên lạc là một tiệm buôn ở ngoài chợ. Khi ra tù, em tới đó lấy tiền, nhận chỉ thị của anh ấy trong tù gửi ra, em muốn nhắn gì với ảnh cũng nói ở đó.

Trước hết, việc của em là đi tìm mua một cái kìm cắt được dây kẽm gai, một cái cưa nhỏ cưa được chấn song sắt và một ve át-xít để tẩm song sắt. Mua những thứ đó thì dễ rồi, có tiền là mua được, làm sao đưa được những thứ đó vào nhà lao cho các anh ấy mới là việc khó.

Ðể tránh điều tra tìm ra sau này, em sang tận Qui Nhơn để mua cái kìm và cái cưa. Em còn nhớ cái kìm năm trăm đồng, cái cưa bảy trăm đồng. Bây giờ cái cưa ấy chắc phải ba, bốn ngàn đồng chứ không dưới. Làm cách nào đưa được những thứ đó tới tay anh Lý là bổn phận của em.

Em để ý thấy vào lúc bảy giờ tối, tức là sau giờ ăn bữa tối của tù, có hai thằng tù hạng bét khiêng những thùng rác trong nhà lao ra đổ ở bãi cỏ đằng sau nhà lao chờ sáng mai xe rác đến hốt. Em nghĩ ra một cách. Em đến lò bánh mì bảo thằng chủ Tầu bán cho em một số bột mì đã nhào sẵn giá hai trăm đồng. Em đem bột về nhà cho cái kìm, cái cưa vào đó nặn thành một ổ bán săng-huýt to tướng rồi đem trở lại lò bánh. Em bảo thằng chủ Tầu là đêm nay nhà em đãi khách, muốn làm cái bánh thật lớn ăn chơi. Em nhờ nó cho ổ bánh của em vào lò nướng, em ngồi đó chờ lấy bánh về.

Lúc bảy giờ tối, em đem ổ bánh đến chờ sẵn ở chỗ đổ rác của tù. Tối đó may sao tên dẫn tù đi đổ rác lại là thằng quen em, trước kia nó cũng là tay chơi ở đất này. Em đến tán chuyện nó, em nói là em phải gửi cái bánh này vào cho bọn anh Lý ăn đêm nay, nếu không đưa được bánh vào ngay bây giờ thì lôi thôi to. Ở trong lao anh Lý bảnh lắm, tất cả mọi tên đều nể ảnh. Chính vì vậy mà tên đó nhận lời đưa ổ bánh vào dùm em. Em cho nó mượn hai ngàn đồng xài chơi và nó bỏ ổ bánh đã gói kỹ vào thùng rác không, cho hai tên tù khiêng trở vào nhà lao. Bọn canh cửa không quen khám thùng rác – thùng rác mà lại là thùng rác vừa đem đi đổ xong mang trở vào thì còn có cái gì để mà khám nữa – Em đứng đó đến lúc thấy thùng rác được đem yên ổn trở vào nhà lao rồi em mới về.

Ðó là xong cái kìm với cái cưa. Còn ve át-xít. Át-xít thì không cần nhiều, em đựng bằng ve pê-ni-xi-lin. Mưu này do anh Lý bầy cho em. Lấy hộp sữa đặc, cẩn thận bóc giấy nhãn bên ngoài ra cho khỏi rách, đục hộp ở giữa, nhét ve át-xít vào hộp xong rồi hàn lại, dán giấy nhãn bên ngoài lên. Gửi vào theo lối tiếp tế đồ. Êm như ru.

Tạm xong những gì em phải làm ngay ở bên ngoài sau khi em được ra. Việc ba anh ấy phải làm trong nhà lao là cắt chấn song sắt cửa sổ và chuẩn bị điều kiện thuận tiện để vượt lao. Lúc đó gần tới cuối năm. Sắp Tết. Các anh ấy đã ở trong tù được một năm. Các anh ấy định tới đêm 23 Tết, đêm cúng ông Táo về chầu Trời, là thoát ra. Mọi việc tiến triển êm và trơn tru như hòa bi sắt trong vòng quay ru-lét.

Át-xít được dùng để tẩm lên song cửa để cưa cho dễ. Ba anh thay phiên nhau cưa. Ban đêm, những lúc có tiếng tầu bay nổ là lúc các anh ấy cưa mạnh nhất. Vì ở riêng một phòng mới cưa song sắt được, nếu ở chung đông người thì lộ ngay. Phòng các anh ấy có cửa sổ mở ra một lối đi, rồi tới tường sau nhà lao. Tường cao lại có dây kẽm gai. Làm sao trèo lên đầu tường để cắt dây kẽm gai sau khi đã thoát từ phòng giam ra tới đấy? Anh Lý bỏ tiền ra nhờ quản đốc mua dùm cho một cái bàn ping-pong đánh cho đỡ buồn, bàn ping-pong kê ngay ở con đường sát tường sau nhà lao ấy. Bàn ping-pong được đem vào. Ðêm ấy, khi ra được tới đó, các anh ấy sẽ dựng bàn ping-pong lên, leo lên đầu tường dùng kìm cắt dây thép gai thoát ra ngoài. Ðúng giờ hẹn, em chờ sẵn ở bên ngoài, ngay chỗ sau nhà lao, với một chiếc xe hơi.

Trước khi thoát ra, các anh ấy còn làm cho đèn trong nhà lao tắt. Ðèn tắt là dấu hiệu báo cho em ở bên ngoài biết các anh ấy sắp ra. Ở bên ngoài, em phải làm tắt đèn đường, để cho lính gác trên lô-cốt không trông thấy.

Em còn việc mua thuốc ngủ gửi dần vào cho các ảnh. Thuốc ngủ cũng gửi theo lối bỏ vào trong hộp sữa, hàn kín lại. Ðến đêm hành sự, vì là gần Tết, các anh ấy sẽ bỏ tiền ra mua gà nấu cháo, mua rượu vào nhà lao, mượn sự năm hết tết đến, cái thân tù tội, nhớ nhà, nhớ vợ con, tổ chức ăn và mời hết nhân viên giám thị nhà lao đêm đó cùng đớp. Cả lính gác cũng được mời nhậu. Cháo gà có bỏ thuốc ngủ. Thiên hạ ăn uống kịch liệt sẽ ngủ lăn ra. Cuối năm ở đây trời khá lạnh, tuy không đến nỗi rét nhưng cũng không nóng như ở Sài Gòn. Trời lạnh thích hợp với việc ăn uống.

Anh Lý quyết định đêm 23 Tết trốn ra nhưng tới sáng 23, khi tới nhà liên lạc ở chợ, em được tin anh Lý hoãn lại. Em không biết vì sao, chỉ biết là hoãn lại. Về sau em mới biết là ngày đó các anh ấy chưa lấy đủ số băng cần thiết để băng mặt giả làm bị thương. Em ở ngoài chờ, giờ hành sự sắp tới, ruột em nóng như lửa đốt.

Tới sáng 26 Tết, em được tin: đêm nay. Ba anh sẽ vượt ngục đêm nay. Em được tin đó lúc 11 giờ trưa và em sống từ đó cho đến khuya như người sống trong mơ. Có thể là em còn thấy hồi hộp, còn thấy thì giờ đi chậm hơn là các anh ấy trong tù nữa. Anh Lý cẩn thận lắm, anh ấy tính trước đủ cả. Ngoài giờ hẹn đem xe đến chờ ở sau nhà lao, em còn được dặn cả khẩu hiệu để nhận nhau đêm đó. Mười hai giờ đêm ấy em đến bến xe lấy trộm một chiếc xe lô hiệu Peugeot sơn đen. Lấy trộm xe là nghề của em, em làm việc này còn dễ hơn là việc không có tiền vào hàng cơm ăn quỵt. Chỉ tội cho thằng tài xế cái xe lô mấy hôm sau bị Cớm bắt đánh gần chết.

Thời đó chưa có giới nghiêm ban đêm, dân chúng còn đi lại thong thả suốt đêm. Các anh ấy vượt tường ra vào lúc ba giờ sáng. Hai giờ em đã đem xe đến đó chờ. Gần Tết, đêm lạnh quá. Em bận đồ đen từ đầu đến chân để nấp ở trong bóng tối cho lính đi tuần không nhìn thấy. Thực ra, gần Tết nên thiên hạ cũng lơ là với việc canh phòng. Em đem xe tới đậu sau hàng cây rồi chờ. Lạnh ơi là lạnh. Lạnh mà phải ngồi chết dí một chỗ lại càng lạnh. Em cứ phải vung hai tay cho bớt lạnh. Ðến ba giờ rưỡi mà vẫn chưa thấy gì cả. Ðèn trong lao vẫn sáng. Cứ năm phút em lại nhìn đồng hồ. Nhiều lúc em nghĩ rằng đã lâu lắm mình không nhìn đồng hồ, chắc phải nửa giờ đã qua, nhưng khi nhìn lại đồng hồ mới thấy chỉ mới có năm sáu phút. Cho đến lúc bốn giờ sáng thì em thấy đèn trong lao phụt tắt.

Ðến lượt em làm tắt đèn đường. Con đường vắng sau lao xá chỉ có hai cột đèn đường thôi. Việc làm tắt đèn đường chẳng có gì là khó. Em đã làm sẵn một sợi dây thép, một đầu buộc vào thanh gỗ, chỉ cần quăng thanh gỗ qua những sợi dây đèn đường là dây thép làm dây điện chạm vào nhau, tắt điện hết cả khu phố.

Làm tắt đèn đường rồi em núp sau gốc cây, nhìn và chờ đợi. Trên bức tường sau lao xá, em thấy một đầu người nhô lên… rồi rớt ra ngoài, nằm yên đó. Gần chỗ các anh ấy nhẩy ra có nhiều lồng vịt, lồng gà, những nhà buôn gà vịt trong chợ chọn góc đường vắng này làm nơi đổ gà vịt xuống từ những xe hàng. Anh nhẩy ra chạy đến lấy một cái lồng úp lên người. Em nấp sau gốc cây nhìn rõ từng cử động của anh đó nhưng em vẫn chưa biết anh đó là anh nào trong ba anh. Em cũng chưa lên tiếng. Anh Lý dặn em là em khỏi cần lên tiếng, sau khi vượt ra được nhà lao, các anh ấy sẽ đi tới chỗ em đậu xe, em sẽ hỏi khẩu hiệu, nếu thấy trả lời không đúng thì em cứ việc chạy. Anh ấy đề phòng cả việc mưu vượt ngục bị bại lộ vào phút chót, giám thị đóng vai vượt ngục để vồ nốt bọn chờ đón ở bên ngoài. Anh ấy tính thật kỹ. Thật không thiếu sót một tí gì, bây giờ nhớ lại em vẫn còn phục. Càng nhớ lại em càng phục.

Chừng ba phút sau, mọi vật vẫn êm ả, mới thấy anh thứ hai vượt ra. Rồi anh thứ ba. Vài phút sau nữa, vẫn êm. Các anh ấy đứng dậy đi về phía em. Em hỏi khẩu hiệu, có tiếng anh Lý trả lời. Em bước ra, anh ấy hỏi em câu đầu tiên:

– Thuận em… Có xe không?

Bây giờ em mới biết tại sao các anh ấy cần nhiều băng y tế và tại sao phải có khẩu hiệu nhận nhau. Vì cả ba anh đều hóa trang thành người bị thương, mặt cả ba anh cùng băng kín.

Em đưa các anh ấy vào xe và nổ máy chạy ngay ra khỏi tỉnh. Xe vào đến Phan Rang mới có tám giờ sáng. Ở Phan Rang đã có một chiếc xe Jeep chờ sẵn. Bọn em sang xe. Chiếc xe lô được bỏ lại đó.

Người đem xe Jeep nhà binh đến đó không được theo xe. Em phải cầm lái. Trong xe có một cái tép da với bốn cái áo mưa nhà binh. Bọn em bận áo nỉ, áo mưa lên và trở thành quân nhân. Ba anh trở thành ba sĩ quan bị thương được cấp tốc đưa về Sài Gòn điều trị. Trong tép da có tiền và giấy tờ, tất nhiên toàn là giấy tờ giả. Xe cũng là xe đánh cắp. Chỉ có tiền là tiền thật.

Chính em lái xe Jeep đưa ba anh ấy về tới Sài Gòn.

Về tới Sài Gòn em mới thấy các anh ấy có cả một tổ chức, tổ chức lớn nữa là khác. Các anh ấy có đủ mọi thứ cần dùng, giấy tờ, tiền bạc. Từ Phan Rang về đến Sài Gòn, dọc đường bọn em không gặp qua một rắc rối hay một lo sợ nhỏ nào. Về tới Sài Gòn, các anh ấy vào ở ngay một khách sạn trong Chợ Lớn. Trong mấy ngày đầu có nhiều sĩ quan tới phòng gặp các anh ấy lắm, em không biết họ là sĩ quan thật hay sĩ quan giả, chỉ biết toàn là Trung Tá, Thiếu Tá, người nào thấp lắm cũng là Ðại Úy.

Ðiều buồn nhất cho em là dự định đi Pháp của mấy ảnh bị bỏ. Cho đến bây giờ em vẫn không biết rõ là anh Lý có tính đi Pháp thật không hay chỉ nói thế để cho em thêm hăng hái giúp anh vượt ngục, hoặc là về tới Sài Gòn, anh ấy lại thấy không cần đi nữa. Về Sài Gòn được một tuần thì anh Lý cho em biết là bọn ảnh không đi Pháp nữa, ảnh ở lại để “tranh đấu”. Lúc đó phong trào chống ông Diệm đã nhen nhúm nổi lên, khi bọn em về tới Sài Gòn thì đã có vụ hai ông phi công Quốc, Cử ném bom xuống dinh Ðộc Lập. Em buồn quá vì không được đi Pháp.

Em buồn vì không được đi như mộng ước, lại buồn vì có nhiều tiền mà không được đi chơi đâu hết, cứ ru rú suốt ngày, suốt đêm trong phòng khách sạn. Anh Lý không cho em đi đâu hết. Ảnh đi đâu cũng dắt em đi theo. Chắc ảnh sợ em có tiền đi chơi lang bang bị Cớm nó vồ được. Ảnh sợ em bị bắt, bị đánh đau rồi khai ra, chứ sợ em làm phản đi báo thì chắc ảnh không sợ.

Em còn nhớ thời gian ở khách sạn, có lần em bị anh Lý đánh hai cái bạt tai. Hôm ấy, anh Lý đi có việc. Cả hai anh kia cũng đi luôn. Ảnh dặn em ở nhà nếu có động thì đóng cửa sổ phòng lại, các ảnh khi về thấy cửa sổ đóng sẽ biết là có động và sẽ không lên phòng. Trưa hôm ấy em ở nhà một mình, cơm cũng gọi bồi đem lên phòng luôn, em uống rượu say quá nằm lăn ra ngủ. Quên mất lời dặn, em đóng cửa sổ phòng lại cho đỡ chói mắt. Khi các anh ấy về thấy cửa sổ đóng đúng như lời dặn nên không dám lên, cứ đứng léng phéng quanh đó nghe ngóng. Anh Lý gọi dây nói tới bảo bồi lên phòng gọi em xuống em cũng ngủ không ra mở cửa luôn. Cả mấy tiếng đồng hồ sau lúc trời tối, các ảnh mới vồ được thằng bồi phòng đi ra phố, hỏi thăm có chuyện gì xẩy ra, nó mới nói cái cậu ở trong phòng uống rượu rồi đóng cửa ngủ, có dây nói gọi cũng không chịu xuống nghe. Khi lên phòng, anh Lý cáu quá đánh em hai cái bạt tai…

Lật đật rồi qua Tết… Rồi hai mươi mấy ngày qua… Em chịu hết nổi. Em nói với mấy ảnh là em về Sài Gòn để theo các anh qua Pháp, nay các ảnh không đi nữa mà cứ sống thế này thì em phát điên lên mất. Xin các ảnh cho em trở về miền Trung. Lúc này các ảnh đã đưa em về ở một căn nhà đường Nguyễn Thông nối dài. Em sẽ tự lo cho thân em. Không có ai biết mà cũng chẳng có ai ngờ em dính líu trong vụ các anh ấy vượt ngục. Em có trở về cũng chẳng có gì nguy hiểm. Em thề chết cũng không chịu khai ra mấy ảnh.

Anh Lý bàn chuyện em với hai anh kia. Thấy không còn cách nào hơn, các anh bằng lòng cho em trở về. Anh Lý đưa cho em năm chục ngàn đồng và dặn em khi nào em cần gặp các anh thì tới đâu, tìm ai, nói những gì, những người ở đó sẽ đưa em đi gặp ảnh hoặc nói cho em biết phải tới đâu.

Em như con chim xổ lồng. Sống với các anh cả tháng em còn khổ hơn là khi bị tù. Bị tù tất nhiên là khổ nhưng khi có tiền, thấy mình có thể đi ăn đi chơi được mà vẫn chịu không dám đi ăn đi chơi còn khổ hơn. Số bạc năm chục ngàn đồng năm ấy lớn lắm. Em như thằng có bạc triệu trong tay, tưởng sẽ ăn chơi không bao giờ hết tiền vậy. Rời Sài Gòn, em lên Ðà Lạt, mướn phòng ngủ hách nhất, ăn chơi như công tử con nhà giầu. Sống ở Ðà Lạt chừng mười ngày, em về đây. Ở Ðà Lạt, em có bao một con điếm. Em rủ nó cùng về đây với em, đi chơi như vợ chồng mới cưới, em bao nó hết, khi chia tay em sẽ cho nó riêng năm ngàn đồng. Nó bằng lòng.

Em với nó về bằng xe hỏa. Tới Phan Rang, em với nó xuống chơi. Ở Phan Rang đang có chợ phiên. Em với con vợ bao của em vào khách sạn, mở phòng, tắm, thay quần áo rồi dắt tay nhau đi chơi chợ phiên đúng như vợ chồng mới cưới. Lúc ấy khoảng tám giờ tối. Người ta đi chơi chợ phiên thật đông. Nhưng em thật tình không ngờ cảnh sát hay đến vậy. Vừa tới cổng chợ phiên, em bị bắt, còng tay liền.

Cớm chìm đã chờ sẵn ở đó để bắt em mà em không biết. Em bị còng tay ngay tại chỗ, đưa liền về Ty, cả con bé đi với em cũng bị giam mất mấy tháng. Tội nghiệp con nhỏ đâu có biết mô tê gì. Em bị giữ ở Ty Cảnh Sát Phan Rang một đêm. Sáng sớm hôm sau em được đưa bằng xe về đây, hộ tống như một nhân vật quan trọng.

Về đây, em bị khai thác ngày đêm. Em bị đánh quá… Cớm đã biết hết. Họ bắt em khai ra chỗ các anh ấy ở Sài Gòn, nhưng em nhất định chối, em cứ nói là em không biết gì hết về vụ vượt ngục… Em cắn răng chịu đòn. Vì em sợ khai ra, các ảnh có thể vì không ngờ em đã bị bắt sớm thế, các ảnh vẫn còn ở trong căn nhà đường Nguyễn Thông nối dài và nếu em chỉ nhà, các ảnh sẽ bị bắt. Nếu em khôn như bây giờ thì em đã biết rằng ngày đó em có nhận, có khai cũng chẳng hại gì, vì sau khi em ra khỏi nhà đó là các anh ấy cũng đi luôn, đời nào các ảnh còn ở lại đấy.

Em chịu đòn tới nửa tháng, chịu bị đánh chết đi, sống lại. Thấy em chì quá, sợ đánh quá em có thể chết, họ bỏ đói em. Em không được ăn, không được uống, nằm như xác chết. Thét rồi em chịu hết nổi. Chừng hai mươi ngày sau em nghĩ rằng bây giờ chắc các ảnh ở Sài Gòn đã biết em bị bắt, các ảnh đã đi nơi khác, em có khai ra số nhà đó chắc Cớm cũng chẳng còn vồ được mấy ảnh. Nhưng em lại nghĩ rằng em đã có lời hứa không khai, em phải giữ lời hứa. Em tin chắc rằng anh Lý rất bảnh, rất anh hùng, nếu em cứ nhất định không khai, anh ấy sẽ tìm cách cứu em ra khỏi tù.

Tinh thần em mạnh lắm nhưng đói quá chịu không nổi. Em lại nghĩ nếu mình nhất định không khai, mình có thể chết. Có hôm đói quá, thèm thuốc lá quá, chịu không nổi, em nói với ông thẩm vấn: “Tôi xin khai… Nhưng tôi đói quá nói không được, ông cho tôi ăn đi rồi tôi khai…”

Họ cho em ăn ngay, ăn sữa với bánh mì, có cả phở  với cà-phê, thuốc lá. Họ hí hửng chờ em ăn xong là khai. Nhưng ăn xong em nói:

“Tôi đói quá nên nói bậy để các ông cho tôi ăn chứ tôi có biết gì đâu mà khai…”

Cha Trưởng Ban đổ quạu, chính cha này sai nhân viên đi mua phở, cà-phê cho em, hắn chửi:

“Ð.m. Mày rỡn mặt chúng ông hả…? Tao cho mày ăn cái gì mày phải nhả ra hết… Ðánh cho mày nhả ra…”

Mà thằng chả đánh em hộc ra hết anh ạ. Có gì đâu anh, vừa ăn no xong cứ đấm mạnh vào bụng là có gì trong bụng ọc ra hết ngay. Thằng cha không chịu cho em ăn không.

Kể đến đây Thuận buông tiêm cười hì hì. Tôi và người bạn thổ công của tôi cũng cười.

Rồi sau cùng, Thuận cũng phải khai. Thuận bị kết án bốn năm tù. Ở được hai năm thì gã được phóng thích. Gã trốn quân dịch ít lâu, làm nghề chạy xe Honda rước khách Mỹ khi lính Mỹ tới miền Trung. Rồi gã vào quân đội và đêm nay, gã nằm bên bàn đèn kể cho tôi nghe câu chuyện này.

2 Responses

  1. Nhân bác HHThủy nhắc đến Sơn Đảo (SĐ),tôi cũng xin kể một câu
    chuyện thật có liên quan tới SĐ.
    Số là tôi có người anh bà con cũng từng ăn chơi ở SG.Một tối 30
    Tết năm 1974,ông anh đang chạy xe máy trên đường Duy Tân (cũ)
    thì thấy thấp thoáng mấy chị em ta đang đợi khách sau mấy hàng
    cây cổ thụ.Đang “độc thân vui tính” nhưng cuối năm,nên ông anh
    cảm thấy cô đơn qúa bèn cám cảnh sinh tình “ngả giá” một em để
    ôm qua đêm cho ấm áp và đỡ buồn !
    Khi đến gần Lăng Cha Cả,ở đường Bùi Thị Xuân.em dẫn ông anh
    vào trong 1 nhà lầu nhưng nói đợi một lát ở tầng trật để em lên lầu
    lấy ít đồ rồi sẽ theo anh về nhà trọ nhưng cũng nói là anh có biết SĐ.không ? Em là vợ của SĐ.đây.Ông anh tưởng thât nên đứng
    đợi mãi gần 1 tiếng đồng hồ thấy lạ bèn hỏi mấy người ở nhà lầu
    này thì họ trả lời là anh bị lừa rồi.Cô ả này thường giở trò lừa với
    mấy ông chạy xe xích lô để quỵt tiền đi xe.Thế là ông anh,vốn là
    kẻ ăn chơi,nổi giận chạy đi tìm mấy tầng trên lầu không thấy đâu
    cả mà thấy đây là động đĩ với dân chơi toàn lính tráng.Nhưng khi
    trở lại tầng trệt thì trông thấy cô ả đang núp dưới chân cầu thang,
    ông anh kéo xềnh xệch cô ả ra tẩn cho một trận và đòi ả phải trả
    lại tiền ngay lập tức.Đêm đó,cả nhà lầu náo loạn lên.Thấy xui,ông
    anh 1 mình bỏ về nhà trọ,chứ không thiết chơi bời gì nữa !
    Nghe ông anh kể thì SĐ.từng giúp chính phủ NCKỳ diệt du đãng
    nhưng “sinh nghề tử nghiệp” đã bị du đãng lập mưu giết chết khi
    SĐ.đến du hí ở một nhà hàng nổi tiếng ở SG.và bỏ xế hộp trước
    nhà hàng.Đó là cơ hội cho chúng bắn chết để trả thù.

    • Xin lỗi quý bác và đính chính.
      Đúng là Hẽm Bùi Thị Xuân,thay vì đường.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: