• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN II

Hai tiểu thuyết của GABRIEL GARCIA MARQUÉZ được dịch và xuất bản ở Hà Nội.

Hai tiểu thuyết của GABRIEL GARCIA MARQUÉZ được dịch và xuất bản ở Hà Nội.

Sau bài TRĂM NĂM CÔ ĐƠN, Blog hoanghaithuy.com nhận được thư của Nhà Văn Nữ Trùng Dương.

TRÙNG DƯƠNG, VĨ NHÂN KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

Thái Nguyễn. May 2, 2014

Anh HHThủy ơi, TD đây. Hôm 17 tháng 4, 2014 Gabriel Garcia Marquez qua đời. Tôi đã viết một bài về ông, trong đó có nhắc tới bản dịch Việt ngữ “Trăm Năm Hiu Quạnh” do anh dịch. Có người nói với tôi là năm xưa ông ta đã “đọc bản dịch [Việt ngữ] “Trăm Năm Cô Đơn” hai, ba lần.” Tôi lấy làm lạ vì rõ ràng bản dịch đó bị cấm và đã không được chào đời, hay là có ai đó đã dịch. Nên lên Internet kiếm nó và tình cờ lạc vào Trang này của anh.

Vâng, tôi vẫn nhớ bản anh dịch rất nhuyễn, nhiều chi tiết còn ghi đậm trong trí nhớ tôi, và tôi đã rất thú vị khi gặp lại chúng sau này khi đọc lại bản Anh ngữ gần đây. Và cái tựa “Trăm Năm Hiu Quạnh” thật hay, thơ nữa. Anh có thể vô link này đọc bài tôi viết về Garcia Marquez: http://www.hopluu.net/D_1-2_2-118_4-2259_5-4_6-1_17-18_14-2_10-92_12-1/
Chúc anh an vui.

TD

Mời quí vị đọc bài viết của Trùng Dương về Gabriel Garcia Marquéz.

Trùng Dương

Hopluu.net. Trích

Người thiếu nữ Nhà Buendia bay lên trời.

Người thiếu nữ Nhà Buendia bay lên trời.

One Hundred Years of Solitude” không phải là cuốn tiểu thuyết duy nhất của ông, nhưng là cuốn nổi tiếng nhất và được nhiều người biết đến vì tài kể chuyện của tác giả, vì sự phong phú về văn chương, về tình tiết và bối cảnh lịch sử lồng vào với huyền thoại, vì câu chuyện trải dài ra tới bẩy thế hệ của cặp nhân vật chính, vì sự đan kết giữa hiện thực và siêu thực, và vì những lớp chủ đề chồng chất lên nhau như một di tích khảo cổ được khai quật lên phơi bầy nhiều thành phố xây chồng lên nhau từ đời này qua đời khác. Tóm lại, toàn bộ cuốn tiểu thuyết tuy lôi cuốn người đọc giở hết trang này tới trang khác, nhưng không dễ gì nắm bắt được ý chính của tác giả vì tính cách đồ sộ và choáng ngộp của các sự việc.

Chính qua cuốn tiểu thuyết này mà có nhà phê bình đã ví Garcia Marquéz với nhà tiểu thuyết, nhà thơ và kịch tác gia Miguel de Cervantes của Thế kỷ 16, và cuốn “One Hundred Years of Solitude” với cuốn “Don Quixote” của Cervantes mà đời sau vẫn có thể đọc lại, mượn ý và nhân vật để phóng tác và mặc cho tác phẩm tái tạo đó một ý nghĩa, một chủ đề tùy theo tâm tình thời đại.

Cuốn “One Hundred Years of Solitude” đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, bán tới mấy chục triệu ấn bản. Tại Nam Việt Nam trước năm 1975, cuốn sách đã được dịch ra với tựa đề “Trăm Năm Hiu Quạnh”, do nhà xuất bản Nhân Chủ, một bộ phận của nhật báo Sóng Thần hồi ấy, đặt Nhà Văn và Phóng tác gia điêu luyện Hoàng Hải Thủy dịch.

Được cử trông coi nhà xuất bản hồi ấy, nên tôi có dịp đọc (và sửa) bản dịch (từ bản Anh ngữ rất linh động của Gregory Rabassa) khi còn là bản vỗ (galley proofs) của anh Hoàng Hải Thủy một cách say sưa. Đáng tiếc là độc giả Việt hồi ấy không có dịp đọc bản dịch này vì lý do giản dị: nó không bao giờ được ra chào đời.

Trước khi đưa sang nhà in, bộ bản vỗ toàn cuốn sách dịch, có lẽ cũng khoảng gần 1,000 trang, được gửi lên Sở Kiểm Duyệt thuộc Bộ Thông Tin của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Kết quả: có lệnh cấm vì có nhiều đoạn trong sách bị coi là “vi phạm thuần phong mỹ tục”. Tôi không tin rằng những người kiểm duyệt sách dạo ấy lại uyên bác tới độ đề nghị cấm cuốn sách vì khuynh hướng khuynh tả của tác giả, người vẫn lớn tiếng bênh vực Cuba và Fidel Castro – một lý do đã khiến ông bị cấm nhập cảnh Hoa Kỳ cho tới khi Tổng thống Bill Clinton, một độc giả của ông khi còn trẻ, bãi bỏ lệnh cấm đó.

Gabriel Garcia Marquéz, hay “Gabo”, như những người mến mộ ông trong cộng đồng Châu Mỹ La Tinh vẫn gọi ông như thế, ra đời ngày 6 tháng 3 năm 1927 tại một tỉnh nhỏ thuộc miền bắc quốc gia Colombia, tên là Aracataca mà ông đã mượn nó để xây dựng nên tỉnh Macondo, trung tâm điểm của đại tác phẩm “One Hundred Years..” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967. Ông còn đem nơi chôn nhau cắt rốn đó vào hai tác phẩm nữa, cuốn tiểu thuyết ngắn “Leaf Storm,” và cuốn tiểu thuyết “In Evil Hour.”

Khi ông còn nhỏ, cha mẹ ông phải đi làm ăn xa, nên Garcia Marquéz được ông bà ngoại nuôi dưỡng. Ông ngoại ông, Đại tá Nicolá Ricardo Marquéz Mejía, một cựu quân nhân có tư tưởng cấp tiến, từng trải, trực tính và có biệt tài kể chuyện, đã giót vào tai anh cháu những mẩu chuyện của thời ông và các chiến hữu chống lại giới bảo thủ và những chi tiết lịch sử, xã hội đã đưa tới những tranh chấp, cả nội chiến. Trong khi đó, bà ngoại ông, bà Doña Tranquilina Iguarán Cotes, lại thường kể cho ông nghe những chuyện không tưởng, ma quái, huyễn hoặc bằng giọng nghiêm chỉnh như thể đó là sự thật, những chuyện mà ông chồng bà cho là mê tín dị đoan, nhưng cậu bé Gabriel thì lại như bị hút hồn và đã dùng làm chất liệu cho cuốn “One Hundred….” sau này.

Marquéz khởi nghiệp bằng nghề viết báo trong lúc theo học Luật tại trường Đại học Quốc gia Colombia. Vào thập niên 1950, ông cộng tác với nhiều báo tại thành phố Baranquilla ở phía bắc Colombia bên bờ biển Caribbean. Cũng trong thời gian này ông gia nhập một nhóm gồm các nhà văn, nhà báo tên là Baranquilla Group rất có ảnh hưởng tới văn học Châu Mỹ La Tinh, và làm quen với những tác phẩm của các tác giả Mỹ như James Joyce, Virginia Woolf và đặc biệt William Faulkner. Văn phong của William Faulkner, cũng như của Frank Kafka,  đã ảnh hưởng nhiều tới ông.

Vào giữa thập niên 1950, Marquéz dời Colombia đi Âu Châu, một phần vì một loạt bài phóng sự điều tra tựa là “The Story of a Shipwrecked Sailor” (Câu chuyện của một gã thủy thủ bị đắm tầu) đã khiến chính quyền địa phương không bằng lòng vì nội dung đi ngược lại với lời giải thích của nhà cầm quyền về nguyên nhân đưa đến vụ đắm tầu, nên tờ El Espectador mà ông cộng tác đã cử ông đi làm phóng viên nước ngoài. Chính những kinh nghiệm báo chí của ông đã xây nền cho sự nghiệp viết văn của ông sau này. “Chính nhờ những kinh nghiệm báo chí này mà GarciaMarquez, giống như nhiều nhà văn lớn còn sinh tiền, là người gần gụi nhất với thực tại thường nhật vậy,” nhà phê bình Bell-Villada đã nhận xét.

Garcia Marquéz tiếp tục sáng tác truyện cho các tạp chí Châu Mỹ La Tinh trong nhiều năm. Cuốn “Leaf Storm” viết xong tới cả năm năm mới có nhà xuất bản chịu in vào năm 1955, là cuốn tiểu thuyết ngắn mà ông thích nhất, ông cho biết, vì nó thành thực và bột phát. Đó là một câu chuyện với mọi diễn biến xẩy ra trong một căn phòng vào một ngày thứ Tư 12 tháng 9 năm 1928 khi một ông đại tá già (giống như ông ngoại của Marquéz) tìm cách tổ chức một cuộc chôn cất theo lễ nghi Thiên Chúa giáo cho ông bác sĩ người Pháp không ai ưa khi còn sống, do đấy họ không muốn ông bác sĩ được hưởng nghi lễ đó. Mọi người phản đối trừ cô con gái và đứa cháu ngoại. Truyện cũng phản ảnh kinh nghiệm của một đứa bé lần đầu đối diện với cái chết, và lần đầu được viết từ góc nhìn của người con gái.

Phải chờ tới năm 1967 với sự ra đời của “One Hundred Years of Solitude” Garcia Marquéz mới trở nên một tác giả được quảng đại quần chúng tìm đọc.

Từ hồi mới 18 tuổi Garcia Marquéz đã muốn viết một cuốn tiểu thuyết về ngôi nhà của ông bà ngoại nơi ông đã sống thời thơ ấu và nghe ông bà kể đủ thứ chuyện. Tuy nhiên ông đã lần lữa trì hoãn vì chưa tìm ra được đúng văn phong cho tới một ngày nọ trong lúc lái xe đưa gia đình đi nghỉ mát, ý tưởng chợt đến trong đầu. Thế là ông vòng xe đưa gia đình về nhà và cặm cụi viết từ đó. Phải 18 tháng sau, sau khi bán xe và những đồ vật giá trị trong nhà, kể cả vay nợ để chi dùng, ông hoàn tất “One Hundred Years of Solitude.”

Cuốn tiểu thuyết khi xuất bản vào năm 1967 đã trở thành một thành công về thương mại đồng thời đưa tác gỉả lên đài danh vọng. Cuốn “One Hundred years of Solitude “và những tác phẩm kế đó đã giúp ông đọat giải Văn Chương Nobel năm 1982. Nhờ danh tiếng quốc tế của ông mà ông đôi phen đã giúp hoà giải giữa chính phủ Colombia và quân phiến loạn. Do khuynh hướng chính trị khuynh tả và là người công khai bênh vực Cuba của Fidel Castro mà ông bị cấm không cho nhập cảnh nước Mỹ cho mãi tới thời Tổng thống Clinton là người đã bãi bỏ lệnh cấm đó.

Khi nghe tin tác giả “One Hundred Years of Solitude “qua đời ngày Thứ Năm 17 tháng 4 năm nay, 2014, ông Clinton nói:

“Tôi đau buồn nghe tin Gabriel Garcia Marquéz đã qua đời. Từ khi tôi đọc ‘ One Hundred Years of Solitude “tới giờ đã 40 năm, tôi luôn kinh ngạc về tài tưởng tượng độc nhất vô nhị của ông, sự trong sáng trong ý tưởng, và sự chân thành trong cảm xúc. Ông đã nắm bắt được nỗi đau đón và niềm hân hoan của cộng đồng nhân loại trong bối cảnh vừa thực vừa huyền hoặc.”

Về phương diện văn chương, Gabriel Garcia Marquez là một trong những nhà văn của Châu Mỹ La Tinh đã mở đầu một phong trào văn chương có tên gọi là “magical realism” (dịch nôm na là “chủ nghĩa hiện thực huyền hoặc”), một thể loại đan kết những yếu tố kỳ quái không tưởng vào thể văn chương hiện thực.

Tuy thành công tột cùng trong văn chương, Garcia Marquéz không từ bỏ báo chí.

“Tôi luôn tin rằng nghề nghiệp chính của tôi là một nhà báo,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí The Paris Review. “Cái mà tôi không thích trong báo chí là điều kiện làm việc. Bây giờ, sau khi làm việc với tư cách là nhà tiểu thuyết, và đã đạt được sự độc lập về tài chính, tôi có thể thực sự chọn những chủ đề mà tôi thích và hạp với tư tưởng của tôi.”

Là một trong những tác giả được trọng vọng và quý trọng nhất thế giới, đặc biệt ở vùng đất Châu Mỹ La Tinh, nơi văn chương được coi là nghiêm túc ngang với chính trị, sự ra đi của ông đã gây thương tiếc không chỉ nơi độc giả đông đảo của ông, mà còn nơi các nhà lãnh đạo.

“Nhân danh Mễ Tây Cơ, tôi xin tỏ bầy niềm đau đớn trước sự ra đi của một trong những đại văn hào của thời đại chúng ta,” Tổng thống Mễ Enrique Pena Nieto đã tweet như vậy, theo tường thuật của cnn.com.

Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos thì tweet ngắn gọn về sự hiện diện của tác giả “One Hundred Years of Solitude” như sau:

Vĩ nhân không bao giờ chết.”

[TD, 04/2014]

CTHĐ Sao Y Bản Chính.

Năm 1987, hay 1986, khi nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà, tôi – CTHĐ – thấy một số sách dịch của người Hà Nội được thân nhân người tù gửi vào nhà tù cho người tù đọc. Trong số những sách truyện ấy có những truyện Cuốn Theo Chiều Gió, Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết, và truyện Trăm Năm Cô Đơn, nguyên bản One Hundred Years of Solitude của Gabriel Garcia Marquez.

Nhiều người tù nói những bản dịch các sách truyện ngoại quốc đến từ Hà Nội ấy quá tệ. “Dịch trúc trắc, đọc mà nhức đầu..” Đó là lời phê phán chung. Tôi có đọc qua vài trang Trăm Năm Cô Đơn, thấy khó chịu, tôi không đọc nữa.

Như vậy, có hai chuyện tôi cần viết:

Tiểu thuyết One Hundred Years of Solitude được dịch và xuất bản ở Hà Nội những năm 1985, 1986. Nhiều người Việt trong nước đọc truyện dịch này.

Việc Bộ Thông Tin VNCH không cho xuất bản Trăm Năm Hiu Quạnh là do lệnh của Hoàng Đức Nhã. Có thể đó là lệnh bằng lời, không có văn bản cấm. Nguyễn Đức Nhuận có người thân làm việc trong Bộ Thông Tin, người này nói cho Nhuận biết quyết định của Hoàng Đức Nhã. Nhuận nói lại với tôi.

Tôi lấy trên Internet bản Sơ Lược “One Hundred Years of Solitude” tiếng Việt để gửi quí bạn đọc. Nhưng chỉ là bản Sơ Lược, truyện kể đã làm tôi loạng quạng như tôi đi lạc trong rừng, dù tôi là người đã dịch truyện 40 năm trước. Đúng là “One Hundred..” như rừng. Và đúng là “Truyện “One Hundred.. không thể kể được. Có kể, dù chỉ sơ lược, người đọc cũng không nắm được cốt truyện. Nếu kể chi tiết truyện quá dài, rắc rối, người đọc khó theo dõi.

“Trăm năm..” có 7 thế hệ, không phải chỉ có 5 thế hệ như tôi viết trong bài trước. Tôi kể chuyện Thế Hệ Thứ Năm, Thứ Sáu trong dòng họ Buendias.

Remedios – tên gọi trong nhà là Memé – yêu chàng thanh niên Mauricio Babilonia. Mỗi chiều gần tối Memé vào phòng tắm – phòng tắm ở ngoài vườn, sau nhà – Mauricio lén trèo lên mái nhà tắm, gỡ ván, xuống ân ái với Memé. Vì Memé ở trong nhà tắm quá lâu, người nhà biết nàng tư tình với Mauricio trong đó. Ông bố của Memé lấy cớ có trộm trên mái nhà, dùng súng bắn Mauricio. Bị đạn vào lưng, Mauricio nằm liệt. Từ đó đến khi chết chàng không nói nửa tiếng. Meme bị đưa vào Nữ Tu Viện. Từ sau buổi tối người nàng yêu bị bắn, Meme cũng không nói một tiếng nào với bố mẹ nàng. Nàng sinh con trai và chết trong Tu Viện. Một bà nữ tu đem con trai Meme trong cái lẵng mây, đến giao cho gia đình Memé. Có tờ giấy do Meme viết gửi kèm chú sơ sinh này. Meme đặt tên cho con là Aureliano Babilonia.

Amaranta Ursula là em gái của Meme Remedios. Từ nhỏ cô được gửi vào trường học, rồi cho sang học ở Bỉ. Cô không biết gì về anh cháu Babilonia.

Nhiều năm sau Amaranta Ursula trở về toà nhà của dòng họ Buendia với chồng nàng. Khi ấy trong nhà chỉ còn có một mình Babilionia. Không biết họ là dì cháu, Ursula và Babiliona yêu nhau. Gaston bỏ về Thụy Sĩ. Hai dì cháu yêu nhau công khai.

Tôi đăng ở đây đoạn tả cảnh Dì cháu Ursula làm tình với nhau lần đầu bằng tiếng Anh:

Aureliano smiled, picked [Amaranta Úrsula] up by the waist with both hands like a pot of begonias, and dropped her on her back on the bed. With a brutal tug he pulled off her bathrobe before she had time to resist and he loomed over an abyss of newly washed nudity whose skin color, lines of fizz, and hidden moles had all been imagined in the shadows of the other rooms. Amaranta Úrsula defended herself sincerely with the astuteness of a wise woman, writhing her slippery, flexible, and fragrant weasel’s body as she tried to knee him in the kidneys and scorpion his face with her nails but without either of them giving a gasp that might not have been taken for the breathing of a person watching the meager April sunset through the open window. It was a fierce fight, a battle to the death, but it seemed to be without violence because it consisted of distorted attacks and ghostly evasions, slow, cautious, solemn, […] as if they were two enemy lovers seeking reconciliation at the bottom of an aquarium. In the heat of that savage and ceremonious struggle, Amaranta Úrsula understood that her meticulous silence was so irrational that it could awaken the suspicions of her nearby husband much more than the sound of warfare that they were trying to avoid. Then she began to laugh with her lips tight together, without giving up the fight, but defending herself with false bites and deweaseling her body little by little until they both were conscious of being adversaries and accomplices at the same time and the affray degenerated into a conventional gambol and the attacks became caresses. (19.30)

Phỏng dịch:

Aureliano mỉm cuời, hai tay chàng nhấc nàng lên như nhấc châu hoa, và buông nàng nằm ngửa trên giường. Với cái kéo tay tàn bạo chàng lột cái áo tắm của nàng ra trước khi nàng kịp chống cự, và cúi mình trên vực thẳm trần truồng mới tắm mà mầu da, những đường lông, những nốt ruồi kín đã được tưởng tượng trong bóng tối của những phòng bên. Amaranta tự vệ thật tình bằng sự khéo léo của người đàn bà khôn ngoan, uốn tấm thân mềm như thân chồn  và thơm cùng lúc nàng thúc đầu gối vào mạng suờn chàng và cào như bọ cạp bằng những móng tay nàng vào mặt chàng nhưng cả hai cùng không thốt ra tiếng hừ nào để người nghe có thể tưởng đó là tiếng thở của một người ngắm cảnh hoàng hôn nhạt của Tháng Tư qua cửa sổ. Đó là một cuộc đấu dữ dội, trận đánh đến chết, nhưng nó có vẻ không có bạo lực vì nó chỉ là những cú tấn công méo mó, những tránh né giả dạng, những cử động chậm, thận trọng, trịnh trọng (..) như họ là đôi tình nhân thù địch làm hòa với nhau dưới đáy một hồ nuôi cá. Giữa cuộc vật lộn dữ dội và đúng quy tắc đó Amaranta Ursula chợt hiểu sự im lặng chi ly của nàng là phi lý đến có thể làm cho chồng nàng ở phòng bên nghi ngờ hơn là những tiếng động của cuộc xung đột mà họ cố tránh. Thế là nàng bắt đầu cười với đôi môi mím chặt xong vẫn không bỏ cuộc chống cự, nhưng nay nàng tự vệ bằng những miếng giả vò cắn và làm cho thân mình nàng không uốn né nữa, cho đến lúc cả hai cùng thấy họ vừa là địch thủ vừa là đồng loã và cuộc chống hiếp suy thoái thành trò đùa rỡn và những cú đánh trở thành những vuốt ve mơn trớn.

o O o

Đoạn kết: Ursula sinh con trai, nàng chết ngay vì bị băng huyết. Con trai nàng có cái đuôi như đuôi heo. Aureliano đau khổ bỏ quên đưá con nhỏ trong cái lẵng mây. Đàn kiến đỏ khiêng cái lẵng trong có chú nhỏ sơ sinh đi mất. Trận bão lốc đến. Thành phố Macondo bị bão phá tan.

Tôi bị vất vả khi phỏng dịch đoạn truyện trên. Mong quí vị thông cảm.

3 Responses

  1. […] TRĂM NĂM CÔ ĐƠN II (Hoàng Hải […]

  2. […] TRĂM NĂM CÔ ĐƠN II (Hoàng Hải […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: