• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

THÁNG NĂM 1945

Một trong những cô đầm Pháp can tội lấy Lính Đức bị cạo trọc đầu giữa  đường.

Một trong những cô đầm Pháp can tội lấy Lính Đức bị cạo trọc đầu giữa
đường.

Virginia Tháng Năm 2014. Trời mát. Với CTHĐ đây là những ngày dễ chịu nhất trong năm. Bốn, năm giờ chiều trời nắng vàng, tôi đi dạo một vòng qua Rừng Phong. Sáng nay nắng đã lên, 9 giờ sáng, tôi mở computer bắt đầu bài Viết ở Rừng Phong.

Tháng Năm 1945 Lính Mỹ vào Paris. Những cô đầm Paris chào mừng các chàng GI. Um hun thấm thít. Những chưa quá 12 tháng, Paris đã có những tấm biểu ngữ “USA GO HOME.”

Tháng Năm 1945 Lính Mỹ vào Paris. Những cô đầm Paris chào mừng các chàng GI. Um hun thấm thít. Những chưa quá 12 tháng, Paris đã có những tấm biểu ngữ “USA GO HOME.”

Sang Hoa Kỳ đã 20 năm, tôi đã hơn một lần viết về chuyện năm 1945 một số phụ nữ Pháp bị đàn ông Pháp hành hạ, làm nhục vì tội giao thiệp thân mât với những quân nhân Đức Quốc Xã. Tội chính của những người phụ nữ Pháp bị hành hạ này là tội lấy lính Đức, sống chung với lính Đức, đem thân xác phục vụ lính Đức; đổi thân xác lấy bơ thừa,sưã cặn của lính Đức.

Tháng Tư 1944 Đức Quốc Xã bại trận, lình Đức ở Pháp chạy về Đức, bỏ những cô đầm Pháp ở lại chịu trận. Những cô đầm này bị lôi ra cắt tóc, cạo trọc đầu ở giữa đường. Các cô, với những cái đầu trọc, bị bắt đi riễu phố. Có cô bị lột truồng. Nhiếu tấm ảnh ghi lại những cảnh tôi cho là đáng buồn cho đàn ông Pháp.

Chút tình “Quân tử Tầu” trong tim tôi làm tôi cảm thương những cô đầm Pháp đem thân xác phục vụ lính Đức đổi lấy thực phẩm, nôm na là miếng ăn. Các nàng là nạn nhân của việc đàn ông Pháp hèn yếu không giữ được nước. Tôi bất nhẫn khi thấy bọn đàn ông Pháp không hào hiệp chút nào – không “galant “– với những người phụ nữ của họ. Tài liệu ghi có đến 20.000 cô đầm bị cạo trọc trên toàn nước Pháp trong Tháng Năm 1945. Ở những nước Âu châu bị Quân Đội Hitler chiếm đóng, như Ý, Na Uy ..v..v..cũng có chuyện những phụ nữ lấy lính Đức bị hành hạ nhưng không nhiều, không tàn nhẫn như ở Pháp. Nhiều cô đầm Pháp bị cạo trọc sau đó đã tự tử.

Tìm trên Web những tài liệu mới về Paris Tháng Năm 1945, tôi thấy một chuyện mới, một chuyện tôi chưa từng nghe, đọc; đó là chuyện kể về tình trạng những người Lính Mỹ — những chàng GI’s – đào ngũ, trở thành đạo tặc khi vào đất Pháp, đất Đức.

Những năm 1960 tôi đọc những lời ca tụng lính Mỹ  vào nước Pháp: những quân nhân trẻ, khoẻ manh, văn minh, đem an ninh đến cho nhân dân Pháp. Những đoàn quân ngoại quốc xấm chiếm Âu châu trong lích sử là những đạo quân dã man, đi đến đâu là tàn phá, hiếp tróc, cướp thực phẩm. y phục của dân địa phương, gieo rắc dịch bệnh cho dân địa phương. Đoàn quân Mỹ vào Pháp năm 1944, 1945 là đoàn quân ngoại quốc thứ nhất đem thực phẩm, thuốc men vào cho dân địa phương. Họ sạch, khoẻ, không bệnh tật. Họ được ca tụng hết lời.

Nay tôi đọc được trên Web:

During the Second World War, the British lost 100.000 troops to desertion, and the Americans 50.000. Commonwealth from Canada, Australia, New Zealand, South Africa and Britain’s colonial empire also left the ranks in their thousands. But, surprisingly, only one WWII deserter was executed for his crime.

Trong Thế Chiến Thứ Hai, quân đội Anh Quốc mất 100.000 lính đào ngũ, quân đội Mỹ Quốc mất 50.000 lính. Quân Khối Thịnh Vượng Chung, gốm Canada, Australia, New Zealand, Nam Phi và các nước thuốc địa của Đế Quốc Anh mất nhiều ngàn lính, nhưng chuyện ngạc nhiên là chỉ có một binh sĩ Thế Chiến Thứ Hai đào ngũ bị tử hình.

Đây là bài viết về tác phẩm:

THE DESERTERS, A Hidden History of WORLD WAR II

Tác giả Charles Grass.

Những sự thật không được kể về những người Lính Mỹ đào ngũ trong Thế Chiến Thứ Hai mà Quân đội Mỹ muốn dấu.

soldier50.000 lính Mỹ đào ngũ. 49 người bị kết án tử hình nhưng chỉ có một người bị ra đứng trước đội hành quyết.

Quân đội Mỹ không cho người vợ của người lính bị xử bắn biết tội của chồng. Người vợ lính ở Hoa Kỳ nhận được giấy báo ông chồng tử trận.

Vài tuần lễ sau ngày quân Đức Quốc Xã đầu hàng, Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt ở Âu Châu, Paris rơi vào tình trạng hỗn loạn đầy những tội ác do những người Lính Mỹ đào ngũ gây ra.

Người Paris hân hoan chào đón những binh sĩ Đồng Minh đến giải phóng họ, nhưng chưa đầy một năm sau họ đã phải trưng những biểu ngữ “USA Go Home.”

Lính Mỹ đào ngũ vẫn bận quân phục, có võ khí, sống trong những nhà chưá gái, sống bằng chợ đen. Họ bán súng, quân cụ, quân xa, làm giả căn cước Mỹ. Họ đánh cướp những Nhà PX Mỹ, họ bán ra chợ đen bơ, sữa, rượu, thuốc, máy đủ thứ. Nhiều tốp năm, ba người tụ tập vào cướp những nhà giầu người Pháp, nhà Băng Pháp. Họ hiếp dâm phụ nữ Pháp.

Từ Tháng Sáu 1944 đến Tháng Tư1945, Cơ Quan Điều Tra Tội Phạm của Quân Đội Mỹ – The US Army’s Criminal Investigation Branch – CBI – phải xử 7.912 vụ lính Mỹ phạm tội hình sự, 49 can phạm bị án tử hình, nhưng như đã ghi trên đây, chỉ có một người bị xử bắn.

Người lính Mỹ không may đó là Eddie Slovik. Ngày 30 January 1945 Slovik bị đưa tới một làng quê và bị bắn ở đây. Vợ anh, chị Antoinette, ở Mỹ, được giấy báo chồng chị tử trận trên đất Pháp.

Alfred T Whitehead là người lính Mỹ đào ngũ gặp và kể chuyện cuộc đào ngũ của anh với Charles Glass tác giả “The Deserters.”

Whitehaead là một thanh niên trang trại ở Tennessee. Anh nhập ngũ để thoát khỏi cuộc sống vất vả, u tì ở trại. Ngoài việc phải làm việc cực nhọc, anh còn bị ông Bố Dượng hành hạ. Anh nói anh dự cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên bờ biển Normandy. Anh dự nhiều trận đánh ác liệt, anh có huy chương Silver Star, huy chuơng Đồng, được tuyên dương trước hàng quân. Vào đất Pháp anh bệnh. Nằm bệnh viện ra, anh được gửi tới đơn vị mới ở Fontainebleau. Trường hợp đào ngũ của anh không ra làm sao cả. Đến căn cứ đơn vị mới, anh lính chưa có tiền lương, anh không được vào cantine trong đơn vị vì anh chưa có cái thẻ gọi là pass để vào. Đi lang thang trong phố, anh lính GI vào một tiệm cà phê. Chị đầm hầu bàn biết anh đói nhưng không có tiền ăn, chị đem đến cho anh đĩa trứng chiên với mấy miếng khoai chiên. Chị đầm đưa anh về căn phòng trọ của chị. Anh ngủ lại đây với chị rồi vì quá chán đời lính, lại biết chiến tranh sắp chấm dứt, anh quên đường về căn cứ. Sau vài ngày anh bị truy tố tội AWL – Absence Without Leave – Vắng Mặt không phép. Chị đầm giới thiệu anh với một nhóm lính Mỹ đào ngũ sống trong vùng. Anh gia nhập nhóm này. Người Trưởng Nhóm là một Trung Sĩ, những cuộc đánh cướp được hoạch định như một cuộc đột kích quân sự. Whitehead kể:

“Đánh cướp những PX Mỹ là ngon lành nhất: dễ làm, lấy được nhiều hàng dễ bán ra tiền: rượu, thuốc lá, bơ, đường, sưã. Chỉ trong 6 tháng phần tiền được chia của tôi lên tới 100.000 đô Mỹ. Ngày 7 Tháng Năm, 1945 người ta loan báo Quân Đội Đồng Minh chiến thắng ở Âu Châu, Đức dau hàng, người ta vui mừng, nhẩy múa, ca hát ngoài phố. Riêng tôi bí sị bên chai rượu. Tôi nghĩ: Mình sẽ sống ra sao đây.”

Whitehead bị bắt, bị đưa về nhà tù ở New Jersey.

Năm 1995  cuộc đời anh Lính Mỹ Eddie Slovik đào ngũ được làm thành phim, diễn viên Martin Sheen đóng vai Eddie Slovic.

o O o

The Dark Arena là tiểu thuyết đầu tay – thứ nhất – của Mario Puzo, tác giả The Godfather.

Mario Puzo nhập ngũ và có sang dự chiến ở Âu Châu. Nhân vật trong The Dark Arena là một số lính Mỹ sống bất hợp pháp ở những thành phố nước Đúc bị tàn phá vì chiến tranh. Walter Mosca là nhân vật chính của The Dark Arena. Là một hạ sĩ quan Quân Mỹ vào chiếm đóng nước Đức, Mosca gặp và yêu Hella. Nhưng Luật Mỹ cấm quân nhân Mỹ kết hôn với phụ nữ những nước bại trận bị chiếm đóng, kể cả việc linh Mỹ sống chung với phụ nữ Đức cũng là việc bất hợp pháp. Hết thời hạn phục vụ Mosca phải về Mỹ. Khi chia tay Hella, Mosca tưởng đó là cuộc vĩnh biệt, chàng sẽ không bao giở trở lại với nàng. Nhưng cuộc sống nhàn tản đến nhạt nhẽo ở một tỉnh nhỏ nước Mỹ làm cho người cựu chiến binh Mỹ thấy chán. Anh đã sống đời lính trong ba năm. Anh đã sống những dây phút dữ dội ở xứ người. Anh thương nhớ Hella. Anh trở lại nước Đức.

Năm 1971 tôi dịch The Dark Arena ra chữ Việt, tên truyện  Trở Vế Tội Ác. Năm 2000 ở Hoa Kỳ tôi gặp bản truyện Trở Về Tội Ác do Nhà Xuân Thu tái bản. Tôi trích vài đoạn:

Chàng nhớ lại những cảnh tàn phá chàng đã thấy, đã đi qua. Nay chàng trở lại thành phố hoang tàn mà cháng tưởng không bao giờ chàng trở lại. Những cảnh sắc đưa chàng trở vào nước Đức quen thuộc với chàng hơn cả cảnh sắc thành phố ở Mỹ nơi chàng ra đời, lớn lên.

(.. .. .. )

Chàng lên xe buýt. Người bán vé hỏi xin chàng điếu thuốc lá. Y nhận ra ngay chàng là người Mỹ. Chàng nhìn sang những chiếc buýt chạy ngược chiều, nghĩ rằng rất có thể nàng đã ra khỏi nhà để đi đâu đó. Có vài lúc thần kinh chàng căng thẳng. Đó là những lúc chàng tuởng chàng nhìn thấy nàng: một bờ vai, một mái tóc của một phụ nữ Đức nào đó mà chàng tuởng là nàng.

Trở Về Tội Ác. Nguyên bản THE DARK ARENA của Mario Puzo. Bản dịch của Hoàng Hải Thủy, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972, Nhà Xuân Thu tái bản ở Hoa Kỳ năm 1982.

Trở Về Tội Ác. Nguyên bản THE DARK ARENA của Mario Puzo. Bản dịch của Hoàng Hải Thủy, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972, Nhà Xuân Thu tái bản ở Hoa Kỳ năm 1982.

Khi chàng đi trên đường phố ngày xưa, chàng không nhớ đúng toà nhà trong đó có Hella. Chàng chỉ vào lầm có một toà nhà. Vào toà nhà thứ hai chàng thấy tên nàng trong bảng tên ở cửa nhà.

Cửa mở, trong ánh đèn hành lang mờ, chàng nhận ra bà già chủ nhân toà nhà này. Bà ta có cái vẻ già nua, mòn mỏi, buồn rầu của tất cả những bà già ở bất cứ đâu.

“Chào ông. Ông cần chi?”

“Cô Hella có nhà không?”

Mosca hỏi bằng tiếng Đức. Chàng ngạc nhiên khi thấy chàng vẫn nói được tiếng Đức trôi chẩy.

Bà già không nhận ra chàng là người bạn xưa của Hella, bà cũng không biết chàng là người Mỹ. “Mời ông vô,” bà nói và chàng đi theo bà. Trong hành lang tối mờ, bà gõ nhẹ lên một cánh cửa phòng:

“Cô Hella. Cô có khách. Có ông đến thăm cô. “

Chàng nghe tiếng nàng. Giọng nói có vẻ ngạc nhiên: “Ông nào đến thăm tôi?” Rồi náng nói tiếp:

“Làm ơn chờ một chút.”

Cửa phòng không khoá. Mosca mở cửa phòng. Nàng đang ngồi quay lưng về phiá chàng, hai tay nàng đang cài mấy cái kẹp tóc vào mái tóc mới gội. Trên cái bàn nhỏ có ổ bánh mì mầu sám, cái giừong nhỏ kê sát tường, đầu giường là cái bàn ngủ.

Mosca đứng im. Kẹp tóc xong, nàng đứng lên cầm ổ bánh định đem cất đi. Nàng quay lại, mắt nàng gặp mắt chàng.

Mosca nhín thấy khuôn mặt có gò má cao, thân mình nàng gầy hơn thân mình nàng mà chàng vẫn tưởng nhớ. Bàn tay nàng trống không, ổ bánh mì đã rơi xuống sàn phòng. Mặt nàng không biểu lộ chút ngạc nhiên nào. Trong khoảnh khắc chàng tưởng như trên mặt nàng có những nét bực bội. Rôi tất cả mờ đi, mặt nàng như chiếc mặt nạ buồn và khổ. Những giọt nước mắt rơi xuồng bàn tay chàng nâng cầm nàng.

“Cho anh nhìn em.” Nàng gục mặt vào ngực chàng. “Có gì đâu mà em phải khóc. Anh chỉ muốn làm em bất ngờ.”

Nàng khóc nghẹn nức. Chàng chỉ có thể ôm nàng và chờ đợi. Chàng nhìn quanh căn phòng hẹp, cái giường nhỏ, tủ áo gỗ cổ lỗ sĩ, tấm hình chàng trên bàn ngủ. Ánh đèn duy nhất trên mặt bàn ngủ tỏa ánh sáng mờ, vàng vọt, sầu thảm, bốn vách tường và cả trần phòng cong lại, trũng xuống vị sức nặng của những đống gạch vụn chất bên trên mái nhà.

Hella ngửng mặt, nàng vừa cười vừa khóc:

“Ồ.. Mình.. Mình.. Sao không viết thư?  Sao không cho em biết trước?”

“Anh muốn làm em ngạc nhiên.”

Chàng nhắc lại. Chàng âu yếm hôn nàng. Nàng nói, giọng yếu, run,như hết hơi:

“Khi em nhìn thấy anh, em tưởng anh chết, anh hiện về với em, hay em đang mơ, hay em phát điên.”

Bây giờ chàng nhìn thấy hai quầng thâm dưới hai mắt nàng, đen như tất cả những sắc tố đen trên da nàng quy tụ cả về đấy. Làn tóc mới gội dưới bàn tay chàng ẩm, vô hồn, thân thể áp vào chàng cứng, đầy những góc cạnh.

Nàng mỉm cuời. Chàng thấy một bên má nàng hơi hóp lại. Chàng hôn lên đó:

“Sao vậy?”

“Em mất hai cái răng. Trông em có xấu lắm không?”

“Không.” Chàng trả lời. Đến lúc đó chàng mới nhớ cái thai trong bụng nàng khi chàng đi, chàng hỏi;

“Em cho nó ra hả?”

Hella đáp vội:

“Không. Em đẻ non. Nó chỉ sống được vài tiếng đồng hồ. Cách nay hai tháng.”

Nàng đã biết tính đa nghi của chàng, nàng đi đến mở tủ lấy ra một tập giấy được buộc bằng sợi dây đỏ. Nàng tìm trong đó bốn tờ giấy đưa cho chàng.

“Anh đọc đi.”

Nàng nói với giọng không hờn giận cũng không buồn phiền. Những con dấu công sở và những con tem dán trên những tờ chứng nhận cho chàng biết nàng không phá thai. Nàng lại mở tủ, lấy ra mội số tã, áo con nít mới đẻ. Không hỏi chàng biết nàng đã cắt mấy bộ áo của nàng để may tã chờ đứa con của họ sắp ra đời. Bỗng dưng chàng hờn giận vì cuộc sống đã làm cho mầu hồng trên má, trên môi nàng nhạt đi, làm hai cái răng của nàng rụng mất, làm công lao cắt, may những tã, áo con nít của nàng trở thành vô ích.

Trong một lúc khá lâu hai người cùng thấy bối rối, ngượng, mất tự nhiên. Họ cùng nhìn ngây lên những tường phòng rạn nứt, trần phòng trũng xuống, chiếc ghế cô đơn. Rồi chầm chậm, từ từ, như hai người dự một lễ cổ của bộ lạc, như những kẻ vô đạo kết hợp với vị thần mơ hồ, hai người hành lễ mà không biết cuộc lễ sẽ ban phúc hay giáng hoạ, họ nằm xuống giường và yêu nhau. Chàng yêu với sự nồng cháy của nhớ, của rượu, của hối hận, của tội lỗi; nàng yêu với sự nống ấm của tình yêu, của trìu mến, với niềm tin cuộc phối hợp này là đúng, là tốt, nó sẽ đem hạnh phúc đến cho chàng và nàng. Và nàng chấp nhận cảm giác đau đánh trên thân thể  chưa lành mạnh của nàng, chấp nhận sự tàn nhẫn trong hành động ân ái của chàng, chấp nhận việc chàng không tin nàng, chấp nhận việc chàng không tin tất cả mọi người, chàng không tin cả chính chàng. Nàng hiểu rằng trong tất cả những người chàng biết ở cõi đời này, chàng cần nàng, chàng cần lòng tin của nàng, cần thân thể nàng và cần tình yêu chàng của nàng.

Ngưng trích Trở Về Tội Ác.

Mosca ở lại với Hella. Để sống với nhau chàng phải làm mọi việc ra tiền, nhưng chàng cố tránh làm những việc bất hợp pháp. Rôi Hella có thai. Nàng đau. Cần tiền Mosca làm vài vụ cướp hàng của bọn buôn lậu. Số bạn lính của chàng ở lại Đức lôi cuốn chàng vào những vụ phạm pháp. Hella cần thuốc Penicilline. Mua phải Penicilline giả, Hella chết. Mosca bắn chết người bán thuốc gỉả. Chàng trở về với thế giới tội ác.

Mario Puzo viết The Dark Arena năm 1955. Sáu mươi năm sau – 2014 – tôi viết về The Dark Arena ở Hoa Kỳ.

 

3 Responses

  1. nguoi phap toi bay gio van con jealous voi nguoi mi
    bay gio ho ngheo lam nhung van con kenh kieu
    buon thay co mot so nguoi vn chiu anh huong ve tinh than cua phap qua nhieu
    ho rat co tinh than cong
    neu ban speak broken english nguoi mi appreciate ban vi du sao ban cung da try va ho nghi english khong phai la native language cua ban nhung it nhat ban cung try va ho cung cam thay ay nay khi khong noi duoc ngon ngu cua ban
    nguoi phap neu ban noi tieng phap khong dung giong cua ho ho se cuoi vao mat cua ban va co atitude ra mat
    minh hoa nhu vay cho ban thay su khac biet giua nguoi phap va mi
    mi rat thuc te va tuong doi de chiu
    phap rat kho chiu va impossible to deal with
    nguoi phap hay lay qua khu ra de bien minh cai that bai cua hien tai
    nguoi mi thi ho nhin vao hien tai de danh gia ho khong care qua khu vang son thanh cong gi het don gian bay gio ban la ai? va ban da lam duoc nhung gi?

  2. vn minh chac bi troi bat toi hay sao ma xui quay bi thang phap do ho lai o sat nach thang tau va cai tri boi cong san
    hay nhin vao singapour va hongkong bi thang anh do ho dat nuoc cua ho kha hon
    cung la hai thang thuc dan nhung dat nuoc nao bi do ho boi nhom noi tieng anh xem ra do hon nhom noi tieng phap
    khong tin ban cu xem nuoc singapor va hongkong xem
    con nuoc nhat di len sau the chien thu hai cung do mi va quan dong minh giup ho mot phan va cugn chinh ho co tinh than hoc hoi va thuc te , ho cung hoc hoi duoc tu chinh ke thu da tang hai trai bom nguyen tu cho ho nhung ho hoc de thanh cong chu khong phai de that bai hay bien minh cho that bai cua ho do vay in the end ho da thanh cong giong nhu nguoi mi nhung gi ban thanh dat duoc se la cau tra loi hay nhat cho ai muon biet ve ban

  3. Troop là cả một đạo quân, hay ít nhất một nhóm người. Không hiểu tại sao ở đây có người lại viết, “the British lost 100, 000 troops to desertion…” thay vì phải viết, “the British lost 100,000 soldiers,” tức 100,000 binh sĩ, mới đúng, chứ 100,000 troops thì nhiều vô số kể!
    Anh đã sống những ”dây phút” dữ dội. Đại ca Hoàng Hải Thủy đã dùng sai từ ”dây” (a string) thay vi “giây” (a second). Đó là chưa kể những sai sót nho nhỏ như “cằm” thay vì “cầm,” “nước Đức” thay vì “nước Đúc,” “Trở Về” thay vì, “Trở Vế….”
    +“`

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: