• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

GI’s JUNE 1944

“GI’s June 1944” là chuyện về những người Lính Mỹ đến giải phóng nước Pháp năm 1944. GI’s nguyên chữ là Governement Issue: Nhà Nước cấp phát. Tất cả những gì của người lính Mỹ: quân phục, quân trang, vũ khí, từ cái mùi-soa, đôi vớ đến cái dây lưng quần, cây bàn chải răng ..vv..vv.. đều của Nhà Nước. Dzi Ai : GI là tên người Mỹ tự đặt cho người lính Mỹ.

soldier1Lính Mỹ đổ bộ vào bãi biển Normandy, Pháp, Ngày 6 Tháng 6 Năm 1944. Đã 68 mùa thu lá bay..những ngày như lá, tháng như mây…. Chuyện xưa nhưng tôi vẫn tìm xem trên Internet. Tôi gửi những chuyện xưa tôi tìm được đến những người đọc tôi ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca.

Năm 1944 tôi 11 tuổi. Lẽ tất nhiên chú nhi đồng tỉnh Hà Đông bên hông Hà Nội là tôi năm 1944 mù tịt về cuộc Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai. Những năm 1960 đọc những bài viết về Thế Chiến, tôi nhớ đến hôm nay – một chiều Tháng Sáu năm  2014 – khi tôi viết những dòng chữ này, tôi vẫn nhớ  những lời đề cao và vinh danh những  người Lính Mỹ vào giải phóng các nước Âu Châu, đặc biệt là Paris và nước Pháp.

“Trong lịch sử chiến tranh thế giới, lần thứ nhất người ta thấy một đạo quân đi chinh phục là những người lính trẻ, khoẻ mạnh, văn minh, lịch thiệp. Đạo quân ấy là Quân Mỹ. Những đoàn quân đi chinh phục trước họ gồm những chiến binh hung hãn, dơ bẩn, râu tóc bờm sờm, y phục rách rưới, người đầy tật bệnh, ghẻ lở, chấy rận. những đoàn quân này đi đến đâu là cướp thực phẩm của dân địa phương để ăn, cướp y phục của dân bị xâm chiếm để mặc. Quân Mỹ vào giải phóng các nước Âu Châu bị Đức Quốc Xã chiếm, đem theo thực phẩm, thuốc men, y phục cho dân địa phương. Họ là những cứu tinh, là những người hùng của dân Pháp.”

Nguyên bản chữ Anh của Des GI’S et des Femmes.

Nguyên bản chữ Anh của Des GI’S et des Femmes.

Từ bao nhiêu năm tôi vẫn nhớ những lời ca tụng ấy. Đến năm nay – 2014 – tôi vẫn cho những lời ca tụng ấy là đúng. Tôi vẫn nghĩ, vẫn tin Lính Mỹ, trong Thế Chiến Hai ai, những người Lính Mỹ vào giải phóng nước P là những người Lính tinh hoa của Thế Giới. Từ 70 năm nay tôi mê Lính Mỹ; tôi mê Lính Mỹ về nhiều chuyện. Xin kể một chuyện: tôi mê Lính Mỹ ở những bộ quân phục của họ. Với tôi, quân phục Lính Mỹ đẹp nhất thế giới. Kaki Mỹ, calot Mỹ là những tiếng tôi nghe các ông đàn anh tôi trầm trồ những năm 1945, 1946. Tôi mê những chiếc quân xa Jeep tôi thấy trên màn ảnh xi-nê. Năm 1946 chưa có quân xa Jeep đến Hà Nội. nhưng một số phim chiến tranh và phim truyện Hollywood Mỹ đã đến Hà Nội. Vài ba phim, nhưng có. Tôi nhớ trong một phim có cảnh những người Lính Mỹ nhẩy đầm trong một hội quán của họ. Một nữ quân nhân – tôi nghĩ là do cô đào Rita Hayworth diễn – nhẩy đẹp quá. Năm xưa ấy tôi chưa biết tên cô. Tôi nhớ mãi hình ảnh người nữ quân nhân Mỹ ấy.

Và tôi nhớ  tên phim là Only Angels have Wings, tên tiếng Pháp Seul les anges ont des ailes: Chỉ thiên thần có cánh. Cái tên thật hay, gợi cảm. Chuyện phim xi-nê về những phi công và phi cơ mà có tên như thế là tuyệt. Rồi ngày tháng lại qua..Cuộc biển dâu đưa tôi sang sống ở xứ người. Năm 2000, tôi có điều kiện tìm bộ phim xưa, phim Only Angels have Wings. Tìm để được nhìn lại trên phim những hình ảnh đẹp tôi đã được nhìn năm tôi mười một, mười hai tuổi. Nhưng Hollywood có phim Only Angels have Wings, xong phim này không phải là bộ phim tôi xem năm 1946 trên màn ảnh rạp Majestic ở Hà Nội. Phim có Rita Hayworth, Cary Grant nhưng không phải là phim về Thế Chiến Hai.

Tôi mê quân xa Jeep Mỹ từ năm 1946. Tôi nhìn thấy Quân Xa Jeep trên màn ảnh xi-nê. Năm 1946 chưa có chiếc quân xa Jeep nào trên đất Bắc Kỳ. Từ năm ấy tôi tự hẹn ngày nào đó mai sau mình sẽ làm chủ một quân xa Jeep. Năm 1961 giấc mơ quân xa Jeep của tôi thành tựu; tôi làm chủ một quân xa Jeep do quân đội phế thải. Đó là chiếc ô tô thứ nhất trong đời tôi. Rất tiếc tôi đã để mất mấy tấm ảnh tôi ngồi trên Xe Jeep của tôi những năm 1960.

Năm nay Tháng Năm trở lại, tôi tìm trên Internet tài liệu để viết về chuyện Tháng Năm năm 1945 quân Đức Quốc Xã bại trận, đầu hàng, nhiều cô đầm Pháp lấy chồng Đức bị đàn ông Pháp lôi ra cạo trọc đầu, làm nhục. Tôi bất nhẫn về việc làm đó của đàn ông Pháp. Tôi cho việc họ trả thù đàn bà là tàn nhẫn, không hào hiệp. Và hèn. Vài năm trước đây tôi đã có một bài Viết ở Rừng Phong về chuyện tôi vừa kể. Năm nay tôi tìm ra tài liệu về những người Lính Mỹ đào ngũ khi họ vào giải phóng Âu châu khỏi tai họa Đức Quốc Xã.

Một đoạn trích trong bài “Tháng Năm 1944” đã đăng tuần trước:

During the Second World War, the British lost 100.000 troops to desertion, and the Americans 50.000. Commonwealth from Canada, Australia, New Zealand, South Africa and Britain’s colonial empire also left the ranks in their thousands. But, surprisingly, only one WWII deserter was executed for his crime.

Trong Thế Chiến Thứ Hai, quân đội Anh Quốc mất 100.000 lính đào ngũ, quân đội Mỹ Quốc mất 50.000 lính. Quân Khối Thịnh Vượng Chung, gốm Canada, Australia, New Zealand, Nam Phi và các nước thuốc địa của Đế Quốc Anh mất nhiều ngàn lính, nhưng chuyện ngạc nhiên là chỉ có một binh sĩ Thế Chiến Thứ Hai đào ngũ bị tử hình.

Ngưng trích.

Hôm nay tôi tìm được quyển “Des GI’s et des Femmes” của Nữ tác giả Mary Louise Roberts. Bà Roberts là giáo sư Lịch sử Pháp ở Đại Học Wisconsin, Hoa Kỳ. Nguyên tác là “What Soldiers do.” Người Lính làm gì. Tác phẩm đươc xuất bản ở Hoa Kỳ từ những năm 2005 nhưng không được công luận Mỹ chú ý. Nguyên nhân có thể vì chuyện xẩy ra ở nước ngoài đã quá lâu, dù là những chuyện do Lính Mỹ làm. Và vì người Mỹ không thích đọc những chuyện bê bối Lính Mỹ làm ở ngoại quốc.

Tháng Tư 2014, “What Soldiers do” được dịch sang tiếng Pháp: “Des GI’s et des Femmes. Amours, viols et prostitution à la Liberation,” Lính Mỹ và Đàn bà. Tình dục, hiếp dâm và nghề mãi dâm trong thời Giải Phóng. Tác phẩm được nhiều người Pháp tìm đọc và làm cho nhiều người Mỹ năm nay phải nhớ đến những hành động không đẹp mà người Lính của họ đã làm ở Âu châu hơn 60 năm trước.

Và để hôm nay “Des GI’s et des Femmes” lên trang báo này.

Theo bà Roberts những tài liệu về Lính Mỹ gây tội ác ở Âu châu được giữ kín trong văn khố; năm 2000 số tài liệu này mới đuợc mở cho dân đọc. Bà Roberts đọc những tài liệu này, bà đến thành phố Le Havre, hải cảng nước Pháp, nơi những người lính Mỹ GI đưọc tập trung chờ tầu biển về Mỹ, bà đọc tài liệu trong Thư Viện Le Havre. Bà choáng váng khi thấy vết tích những tội ác của Lính Mỹ.  Bà viết:

“Cho đến nay nhiều người Mỹ vẫn tin chắc là những người Lính Mỹ của họ đi ra ngoại quốc đều là những chiến sĩ dũng cảm không chút tội lỗi.

Đây là một đoạn trong bài giới thiệu tác phẩm: “Des GI’s et des Femmes.”

L’invasion de la Normandie en Juin et une seconde invasion dans le sud en Août, ont mobilisé près de 3 millions de soldats qui débarquèrent en France en 1944.

Après la guerre, le rapatriement et la démobilisation des troupes ont pris du temps. Même en 1946, il y avait encore environ 1,5 million de troupes en Europe. Le logement et la gestion des milliers de soldats qui attendent l’embarquement pour rentrer chez eux ont eu des difficultés. De plus, selon le commandement américain, à l’automne 1944, près de 10 000 GI déserteurs répandent la terreur sur tout le territoire.

Le magazine Life présentait à l’époque la France comme « un gigantesque bordel dans lequel vivaient 40 millions d’hédonistes qui passent leur temps à manger, boire et faire l’amour »

En 1945, Le Havre était rempli de soldats américains en attente d’être rapatriés dans leurs pays. Certains habitants ont écrit au Maire que certaines femmes ont été « attaquées, volées, sur la rue et dans nos maisons » et « il s’agit d’un régime de terreur imposé par des bandits en uniforme ». Un propriétaire de café du Havre a témoigné « nous nous attendions à des amis qui ne nous ferait pas honte de notre défaite, au lieu de cela, il y eut seulement l’incompréhension, les mauvaises manières et l’arrogance des conquérants » Un tel comportement était aussi commun à Cherbourg. Un résident a déclaré que « Avec les Allemands, les hommes devaient se camoufler. Mais avec les Américains, nous avons dû cacher les femmes .”

Selon l’historien américain J Robert Lilly, il y aurait eu 3 500 viols commis par des soldats américains en France entre juin 1944 et la fin de la guerre5. Les troupes américaines engagées ont commis 208 viols et une trentaine de meurtres dans le département de la Manche. Pour le seul mois de juin 1944, en Normandie, 175 soldats américains seront accusés de viols.

Le commandement américain a jugé entre le 14 juin 1944 et le 19 juin 1945, 68 cas de viol concernant 75 victimes. Au total, 139 soldats se trouvaient présents sur les lieux des crimes – 117 (84 %) d’entre eux étaient noirs et 22 (16 %) étaient blancs.

Certains militaires coupables ont été exécutés, comme dans l’affaire Clarence Whitfield, condamné à mort par pendaison le 20 juin 1944 à Canisy par la cour martial. Cent trente des 153 troupes soupçonnés de viols étaient des Afro-Américains… Les tribunaux militaires ont condamné les soldats afro-américains à des peines plus sévères que les soldats américains blancs. L’ US forces a exécuté 29 soldats pour viol dont 25 Afro-Américains, et les autorités militaires américaines invitèrent les victimes à assister à la pendaison des coupables.

Phỏng dịch: Cuộc xâm chiếm Normandie Tháng Sáu và cuộc xâm chiếm thứ hai Tháng Tám vào miền Nam đã điều động đến gân 3 triệu binh sĩ đổ bộ lên đất Pháp năm 1944.

Sau chiến tranh, việc hồi hương và giải ngũ binh sĩ cần thời gian. Năm 1946 vẫn còn khhoảng 1 triệu 500.000 binh sĩ ( Đồng Minh ) ở Âu châu. Việc lo nơi cư ngụ và quản trị số binh sĩ chờ ngày lên tầu về nước có nhiều khó khăn. Thêm nữa, theo giới chỉ huy quân Mỹ, mùa thu 1944 gần 10.000 GI đào ngũ gieo rắc kinh hoàng trên khắp nước.

Tạp chí Life mô tả nước Pháp thời ấy như “một nhà điếm khổng lồ trong đó có 40 triệu đàn ông hưởng dục qua thời gian với những việc ăn, uống và làm tình.”

Năm 1945, hải cảng Le Havre đầy nhóc lính Mỹ chờ về nước. Một số cư dân viết cho ông Thị Trưởng báo rằng có một số phụ nữ đã “bị tấn công, bị cướp ở ngoài đường và ngay trong nhà họ và đây là chế độ khủng bố được áp đặt bởi những tên cướp bận quân phục.” Một chủ tiệm café trong thành phố nói chúng tôi chờ đợi những người bạn thân, những người không làm chúng tôi xấu hổ vì cuộc bại trận của chúng tôi; thay vào đó chỉ có sự không hiểu biết, những cách xử thế tồi tệ và vẻ hung hăng của kẻ chinh phục.” Cung cách hành xử như thế cũng xẩy ra ở Cherbourg. Một cư dân nói:

“Với người Đức, bọn đàn ông Pháp phải ngụy trang. Nhưng với người Mỹ chúng tôi phải cất dấu đàn bà.”

Theo sử gia Mỹ J Robert Lilly, lính Mỹ trên đất Pháp làm 3.500 vụ hiếp dâm trong khoảng từ tháng Sáu đến ngày hết chiến tranh. Trong quận hạt Manche lính Mỹ làm 208 vụ cưỡng hiếp và khoảng ba mươi vụ giết người. Riêng trong tháng Sáu 1944 ở Normandie có 175 lính Mỹ bị kết tội cưỡng hiếp.

Từ ngày 14 tháng Sáu 1944 đến ngày 19 tháng Sáu năm 1945. Bộ Tư Lệnh Mỹ đã xử 68 vụ hiếp dâm, 68 vụ này gây ra 78 nạn nhân. Tất cả có 130 người lính có mặt ở những nơi xẩy ra những cuộc cưỡng hiếp – 117 lính Mỹ Đen, 22 lính Mỹ Trắng bị kết tội.

Một số quân nhân phạm tôi bị xử tử, như trong vụ anh Clarence Whitfield, bị Toà Quân Sự xử treo cổ ngày 20 tháng Sáu 1944 ở Canisy. Một trăm ba mươi người trong số 153 lính bị nghi tội hiếp dâm là Mỹ Đen. Những toà án quân sự xử phạt những người lính Mỹ Đen những hình phạt nặng hơn lính Mỹ Trắng. Quân lực Mỹ đã xử tử 29  lính trong số có 25 Lính Mỹ Đen can tội hiếp dâm, nhà chức trách quân sự Mỹ mời những nạn nhân đến chứng kiến cuộc treo cổ những kẻ phạm tội.

CTHĐ: Tôi trích đăng vài đoạn tài liệu chữ Pháp để quí độc giả thấy tôi không bịa chuyện. Và để quý vị thấy những đoạn văn tôi dịch không đúng nguyên văn. Năm nay khả năng dịch văn của tôi không còn được minh mẫn như 60 năm xưa.

Nũ tác giả Roberts kể: Các báo quân đội Mỹ mô tả cuộc Giải Phóng như một truyện tình, đi kèm bài viết là những tấm ảnh Lính Mỹ ôm hôn những phụ nữ Pháp.

Tài liệu còn ghi chuyện: Lính Mỹ ở Pháp phạm tội bị treo cổ. Án thi hành ngay trên đất Pháp. Nhưng ở Pháp, người Pháp xử án tử hình bằng máy chém – guillotine – Bộ Tư Lệnh quân Mỹ phải điện về nước yêu cầu gửi một hangman – chuyên viên treo cổ – sang Pháp để làm việc thi hành án.

Theo tôi – CTHĐ – tình trạng Lính Mỹ làm bậy trên đất Pháp không hoàn toàn do lỗi của Lính Mỹ. Các cô đầm Pháp năm xưa ấy đã hân hoan chào đón Lính Mỹ chiến thắng một cách quá đáng. Qua những tấm ảnh ta thấy cảnh những cô đầm Pháp tươi như hoa, trèo lên quân xa Mỹ um hun lính Mỹ, các cô um hun thấm thít những chàng GI ở giữa đường, ở khắp nơi. Các cô thân mật với Lính Mỹ trước. Thân mật quá đáng. Các cô cũng không có lỗi. Dân Pháp sau bốn năm bị người Đức xâm lăng cai trị, bị thiếu đủ mọi thứ. Họ thiếu đường, thiếu cà phê, bơ, sưã, họ thèm từng muỗng đường, từng cục sà-bông, từng điếu thuốc lá, từng thếp sô-cô-la. Lính Mỹ có thừa những thứ đó. Việc trao đổi là tự nhiên. Những chàng GI cũng không có lỗi. Họ đã chiến đấu, họ đã chạm mặt cái Chết, họ đã nhìn thấy những người bạn đồng đội của họ gục ngã. Họ là đàn ông, họ cần đàn bà. Họ đã hưởng những lạc thú họ cho là họ có quyền hưởng.

Chuyện những người đàn bà đem thân phục vụ Lính Mỹ xẩy ra nặng hơn ở hai nước bại trận: Đức và Nhật. Đàn ông Nhật bại trận mà không chết được đứt ruột, nát gan khi thấy vợ, con gái họ buổi chiều đúng ở cổng những trại quân Mỹ, chờ những chàng GI ra chọn, dắt đi. Phụ nữ Nhật làm đĩ công khai, không che dấu. Ở nước Đức bại trận xẩy ra những vụ lính Nga Xô giết cưỡng hiếp tập thể phụ nữ Đức. Những vụ lính Mỹ hiếp dâm không thấy xẩy ra ở nước Nhật bại trận.

Người lính trong chiến tranh phải chạm mặt với cái Chết, họ xúc động thấy những người bạn đồng đội của họ chết thê thảm. Họ cần đàn bà. Nhưng – dường như – không quân đội nước nào được phép tổ chức những nhà chưá gái phục vụ việc giải quyết sinh lý cho lính. Có tài liệu ghi trong Thế Chiến Hai, khi Lính Mỹ vào đất Pháp, môt ông Sư Đoàn Trưởng Quân Đội Mỹ cho mở một nhà chưá gái phục vụ những chú Lính trong đơn vị ông – tất nhiên gái được tuyển là gái Pháp – nhưng nhà chưá này chỉ hoạt động được chưa đầy một tuần là có lệnh phải dẹp bỏ. Do đó những người lính GI phải làm bậy phụ nữ địa phương.

Tôi thấy bà Mary Louise Roberts viết không đúng sự thật: “Bộ Tư Lệnh Quân Mỹ khơi động tinh thần Lính Mỹ bằng cách kín hở cho họ biết phụ nữ Pháp ngon lành, vào đất Pháp họ sẽ được hưởng phụ nữ Pháp.” Tôi không nghĩ, tôi không tin những người Lính Mỹ vào giải phóng Âu châu chỉ vì muốn thoả mãn dâm dục. Nôm na là vì muốn chơi gái Pháp.

Tháng Tư 1945 có 160.000 lính Đồng Minh đổ bộ vào Pháp. Bộ binh đến bằng tầu biển từ Anh, Lính Dù  từ những phi cơ Mỹ cất cánh từ những phi trường Anh. Có 4.414 Lính Mỹ tử trận trong cuộc đổ bộ trên mặt trận dài 50 mile, có từ 4.000 đến 9.000 GI bị thương nặng nhẹ.

Lính Mỹ tử trận ở nước ngoài được chôn ngay tại nước ấy. Nghĩa Trang Lính Mỹ lớn nhất có lẽ là Nghiã Trang Normandy.

Mời đọc Thông Điệp gửi Binh Sĩ Đồng Minh của Tướng Dwight D. Eisenhower, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh trên chiến trưaờng Âu Châu. Thông Điệp truyền thanh trong đêm 5 Tháng 6, 1944.

Soldiers, Sailors and Airmen of the Allied Expeditionary Force! You are about to embark upon a great crusade, toward which we have striven these many months. The eyes of the world are upon you. The hopes and prayers of liberty loving people everywhere march with you. In company with our brave Allies and brothers in arms on other fronts, you will bring about the destruction of the German war machine, the elimination of Nazi tyranny over the oppressed peoples of Europe, and security for ourselves in a free world.

Your task will not be an easy one. Your enemy is well trained, well equipped and battle hardened, he will fight savagely.

But this is the year 1944! Much has happened since the Nazi triumphs of 1940-41. The United Nations have inflicted upon the Germans great defeats, in open battle, man to man. Our air offensive has seriously reduced their strength in the air and their capacity to wage war on the ground. Our home fronts have given us an overwhelming superiority in weapons and munitions of war, and placed at our disposal great reserves of trained fighting men. The tide has turned! The free men of the world are marching together to victory!

I have full confidence in your courage, devotion to duty and skill in battle. We will accept nothing less than full victory!

Good Luck! And let us all beseech the blessings of Almighty God upon this great and noble undertaking.

— Gen. Dwight D. Eisenhower

 Bộ Binh, Hải Quân và Không Quân Lực Lượng Đồng Minh. Các bạn sắp bước vào việc thực hiện một chiến dịch mà chúng ta đã gắng sức đi tới từ nhiều tháng nay. Thế giới để mắt vào các bạn. hy vọng và lời nguyện của những người yêu tự do ở khắp nơi đi cùng các bạn. Cùng với những bạn Đồng Minh can đảm và thân thiết của chúng ta trên những mặt trận khác, các bạn sẽ làm cuộc hủy diệt bộ máy chiến tranh của Đức Quốc, việc tiêu diệt ách Nazi tàn bạo trên những dân tộc bị áp bức ở Âu Châu, và cho nền an ninh của chúng ta trong thế giới tự do.

Nhiệm vụ của các bạn không phải là việc dễ làm. Kẻ thù của các bạn được huấn luyện kỹ, được trang bị đầy đủ và dầy dạn chiến tranh, họ sẽ chiến đấu tàn bạo.

Nhưng năm nay là năm 1944! Nhiều sự kiện đã xẩy ra từ những năm 1940-41 Nazi chiến thắng. Khối Quốc Gia LiênKết đã giáng cho người Đức nhiều trận thảm bại, trên chiến trường, người với người. Những trận tấn công bằng không lực đã làm suy giảm nặng lựclượng của họ trên không và khả năng chiến đấu của họ trên mặt đất. Hậu phương của chúng ta cung cấp cho chúng ta những lợi thế lớn về võ khí và quân dụng chiến tranh cùng việc đặt vào quyền sử dụng của chúng ta những lực lượng trừ bị gồm những chiến binh được rèn tập kỹ. Sóng đã đổi chiều. Những người tự do trên thế giới đang cùng đi tới chiến thắng.

Tôi hoàn toàn tin ở sự can đảm, sự tận tâm với nhiệm vụ và khả năng chiến đấu của các bạn. Chúng ta sẽ không chấp nhận gì ngoài chiến thắng hoàn toàn.

Chúc may mắn. Chúng ta cùng xin sự ban ân của Thiên Chúa Toàn Năng trong việc làm cao thượng này.

— Tướng Dwight D. Eisenhower.

Ngày 5 Tháng 6, 1944, Tướng Dwight D. Eisenhower, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh Chiến Trường Âu Châu, nói với vị chỉ huy Sư Đoàn Không Vận 101 – Airborne Division 101 – lởi ngắn:

“Full Victory. Nothing Else.” “Toàn thắng. Không gì khác.” 

Hết Thông Điệp.

Thế Chiến Thứ Hai kết thúc năm tôi 15 tuổi.

Tôi viết về Thế Chiến Thứ Hai năm tôi 80 tuổi.

Cảm khái cách gì!

6 Responses

  1. Reblogged this on Giai01's Blog and commented:
    xem

  2. […] GI’s JUNE 1944 (Hoàng Hải […]

  3. cai gi cung co hai mat o doi khong co gi la hoan hao het chung ta phai nhin toan dien duoc nhieu hay mat nhieu? cai ma nguoi dan phap duoc tu linh mi nhieu hon la ho mat
    cung gion nhu uong thuoc vay : minh phai danh doi cai duoc va cai mat , vi minh bi benh ma minh dau co quyen chon lua cung giong nhu minh khong giu duoc nuoc phai nho vo nguoi khac thi de nhien minh phai mat mot cai gi do de duoc cai ma minh muon cai nao quan trong hon?
    linh mi cung la nguoi ma nguoi thi co ke tot ke xau
    cung nhu che do vnch cung co tham nhung bat cong
    nhung so voi viet cong thi van con tot hon van lan
    di nhien neu phai chon vnch va vc thi khoi phai ban roi di nhien la vnch
    cung nhu mi bay gio vay song o day co ke ki thi co ke khong nhung overall thi verygood

    • “dao nao cung la dao, dao cao dai cung là dao”
      = đạo nào cũng là đạo, đạo cao đài cũng là đạo.
      = dao nào cũng là dao, dao cạo dái cũng là dao.

      Bài viết của angie hay, nhưng tôi không đọc hết vì sợ hiểu lầm như thí dụ nói trên. But, thanks anyway.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: