• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

DANH CHỈ BẢN

Tháng Bẩy 1954 ở Hà Nội.. Người Hà Nội bỏ Hà Nội để vào Sài Gòn.

Tháng Bẩy 1954 ở Hà Nội.. Người Hà Nội bỏ Hà Nội để vào Sài Gòn.

Khi vào Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu lần thứ nhất, năm 1977, tôi nằm xà-lim Khu B. Khoảng 20 ngày sau ngày bị đưa vào xà-lim tôi đã quen quen với cuộc sống trong xà-lim,  một buổi sáng khoảng 10 giờ đang nằm lơ tơ mơ trên bệ xi-măng tôi nghe tiếng chùm chìa khoá đập loảng xoảng vào cánh cửa sắt xà-lim, tiếng mở khoá lách cách, tiếng then cửa, tiếng cai tù ra lệnh:

– Ði làm danh chỉ bản!

Ðây là lần đầu tiên trong đời tôi nghe tiếng “danh chỉ bản.” Chẳng biết “đi làm danh chỉ bản” là đi làm cái gì nhưng bụng tù bảo dạ tù “Cần gì biết. Lát nữa sẽ biết.” Tôi bận quần dài, bận áo – trong xà-lim tù nhân ở trần, quần sà-lỏn – tôi đi ra ngoài trời. Mèn ơi..! Trời nắng vàng đẹp biết chừng bao! Với người tù nằm cả tháng trong xà-lim không ánh sáng, không gió nắng, việc được đi ngoài trời, trong nắng, trong gió, trong buổi sáng nắng vàng là một hạnh phúc. Trời buổi sáng đang đi vào trưa vừa mát lại vừa ấm. Cai tù dẫn tôi đến chỗ làm danh chỉ bản. Thì ra “danh chỉ bản” là tiếng bọn ViXi học của bọn công an Tầu, nó là bản ghi tên tuổi, ảnh và dấu chỉ tay người tù. Những ông đàn anh của tôi chống Pháp đi tù thời Tây bị Tây bắt làm những tờ fiche, tức phiếu lý lịch, đời tôi chống bọn Bắc Cộng, tôi vào tù bị làm cái gọi là danh chỉ bản, tên khác nhưng fiche và danh chỉ bản giống hệt nhau, nó là bản ghi tên tuổi, ảnh, dấu chỉ 10 ngón tay của người tù.

Một hay hai cái bàn được kê giữa lối đi ngoài trời, gần ngay đấy là mấy phòng tù nữ. Mấy anh chị tù đứng xớ rớ, ngồi dưạ tường chờ đến lượt mình. Bọn công an Sở đến làm danh chỉ bản mặc đồng phục mầu vàng đất chết. Có một em nữ công an trạc 22, 23 tuổi, mặt em đen sì, đầy mụn trứng cá. Em này là con cháu bọn Việt Cộng nên được vào làm công an; trước ngày 30 Tháng Tư 1975 em mưu sinh lương thiện bằng cách hành nghề bán chuối chiên, vịt lộn ở những chợ Ông Tạ, chợ Gò Dầu, hay em  đi vớt bèo tấm bán cho những người nuôi cá kiểng, em đi bắt cào cào, châu chấu bán cho những người chơi chim trong thành phố. Nay “cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công”, em trở thành nhân viên công an nhăn dăn, viết năm chữ “Hồ chí Meo muôn nem..” em mướt mồ hôi nách, viết: “Không có gì quí hơn độc lập, tự do..” em dấp mồ hôi bẹn.

Sáng hôm ấy tôi nghe em nói với tên công an đang ngồi ở bàn. Tên công an đực này chỉ cần trông bản mặt đêu đểu cũng biết là công an Bắc kỳ nham nhở. Em nói:

– Sao nhiều người bị bắt quá? Mới tháng trước mình dzô làm giấy cho bao nhiêu người, hôm nay lại bao nhiêu người!

Tên Công An VC Bắc kỳ nói một câu xanh rờn:

– Bị bắt thì mới từng này người, chưa bị bắt thì còn mấy triệu người!

Chợ Trời Hà Nội Tháng Bẩy 1954. Người Hà Nội ra đi mang đủ thứ đồ vật ra bầy bán ở vỉa hè.

Chợ Trời Hà Nội Tháng Bẩy 1954. Người Hà Nội ra đi mang đủ thứ đồ vật ra bầy bán ở vỉa hè.

Buổi chiều đầu xuân ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích – Trời không còn lạnh nữa, Tần Phi… — tôi bâng khuâng nhớ lại chuyện Tình Xưa, tôi bồi hồi viết, tôi cảm khái gửi bài Thơ Vườn Kim Cốc và Truyện Tình Lục Châu đến những người đàn bà Việt Nam đẹp, đa tình, chung tình, chung thủy trên cõi đời này, những người đàn bà Việt Nam thơm ngát, thơm phức, nồng hương đã, đang và sẽ yêu nồng nàn, yêu sôi nổi, yêu say đắm, yêu ra rít, yêu bất chấp mọi trở ngại, yêu săng-phú tú lơ mo, yêu đến có thể chết và yêu đến chết, yêu đến kiếp sau, những người đàn bà Việt Nam sẵn sàng hy sinh  tất cả cho Tình Yêu! Tất cả là kể cả mạng sống!

Nàng… ơi, ơi… Nàng…! Nếu tôi gọi “Các Nàng ơi..” thì hơi kỳ, nên tôi chỉ gọi “Nàng” thôi. “Nàng”… là Nàng đấy! Tôi muốn viết cho Nàng, tôi muốn viết về Nàng thật nhiều, ông Nhà Văn Mai Thảo từng viết ông thấy sau khi ông qua đời Lịch Sử Thế Giới, Lịch Sử Nhân Loại sẽ viết về đời ông một ngàn trang “Ðời ta lịch sử viết ngàn trang..!” Tôi, khi tôi qua đời, chắc không có lịch sử nào viết một trang nào về đời tôi, nhưng khi tôi sống, tôi muốn viết về Nàng, về Tình Yêu của Nàng, một trăm ngàn trang. Không, viết về Nàng và Tình Yêu của Nàng mà chỉ một trăm ngàn trang là quá ít, là không đủ, là chưa nói được gì, là chưa đâu vào đâu cả, tôi muốn viết về Nàng và Tình Yêu của Nàng, một triệu ngàn trang!

Nhưng xin Nàng thông cảm. Bài này tôi viết về tác phẩm Chữ Nho & Ðời Sống Mới, tôi không thể ngừng ngang xương để viết sang chuyện Nàng, cả một số báo Sàigòn Nhỏ không thể chỉ đăng có một bài tôi viết về Nàng. Ta nên biết điều. Ta phải tự chế! Vậy thì ta tạm biệt nhau ở đây. Còn nhiều tình ái chan chan, còn nhiều trang báo ngàn ngàn mai sau. Vội gì!

Chữ Nho & Ðời Sống Mới. Trang 331.

nhất tự nhất lệ

(nhất mộttự chữ, lệ: nước mắt)

Một chữ là một giọt nước mắt – tức là văn chương quá dở, đọc lên muốn phát khóc. Each character is a cause for weeping, i.e. pathetic writings. Ngưng trích.

Lời giải thích của tác giả làm tôi théc méc. Tôi nghĩ khi đọc phải thứ “văn chương quá dở”, tức bài viết cà chớn, như cái gọi là Tập Phỏng Vấn Chồn Lăn Chồn Lộn Nếu Ði Hết Bẹn,  người ta không đọc tiếp, người ta vứt nó đi, không ai đọc văn dở để khóc cả. Hai nữa bài viết quá dở không thể gọi là “văn chương”. Bài văn làm người đọc cảm động đến ứa lệ là bài văn tuyệt diệu hảo từ. Trong cả một đời đọc sách của tôi, chỉ có hai lần hai bài văn tôi đọc làm tôi khóc. Phải nói ngay những khi đó tôi mới hai mươi tuổi, tôi còn trinh tiết, nên tôi dễ xúc động. Lần thứ nhất tôi cảm động ưá lệ là vào năm 1950 tôi đọc Kinh Thánh, Sách Thánh John, Tân Ước. Lời Thiên Chuá Jesus nói với các môn đồ khi Chuá sắp thụ hình làm mắt tôi ưá lệ. Lần thứ hai cũng vào khoảng những năm 1950 khi tôi đọc La Dame aux Camelias, tiểu thuyết Tình Paris có gì lạ không Em của Alexandre Dumas Fils, tình yêu của Marguerite, khi Marguerite nói với Armand:

– Em đây! Yêu em đi! Em là đồ chơi của anh. Lúc nào anh cần em đến với anh. Nhưng xin anh đừng lấy em làm vợ..!

Lời nói của Marguerite và Tình Yêu của nàng làm tôi cảm động, tim tôi thổn thức, hồn tôi nghẹn ngào, tôi khóc.

Kính thưa chư quí vị độc giả, và chư quí vị nữ độc giả thân mến của bổn báo: tôi sẽ viết về La Dame aux Camelias để trình với quí vị tại sao Marguerite La Dame aux Camélias làm tôi khóc.

Thời gian sau này, khi cuộc sống tuy không làm cho tim tôi chai đá nhưng tuổi tác không còn làm tôi dễ bị xúc động, đôi khi đọc những trang văn hay, tôi vẫn ngừng đọc, ấp quyển sách lên ngực, nhắm mắt, nghĩ: “ Sao lại có người viết hay đến thế này? Mình được đọc bao nhiêu là đoạn văn tuyệt diệu mà mình vẫn không viết được câu nào cho ra hồn! Mình chỉ hưởng thôi, mình không đền đáp. Mình tồi quá, mình bét quá! Thật xấu hổ!”

Câu tiếng Anh “Each character is a cause for weeping, i.e pathetic writings”, vốn liếng tiếng Ăng-lê của tôi, tôi học bộ English for To Night, nhưng tôi học không trọn bộ, cho tôi thấy ý của câu không giống như ý câu tiếng Việt, “pathetic writings” – hình như – không phải là “vaên dở.”

Trang 529, tác giả viết:

tứ đổ tường: bốn tệ đoan lớn của thanh niên đời xưa, gồm tửu (rượu chè), sắc (trai gái), tài (cờ bạc), và khí (nghiện thuốc phiện.) Ngưng trích.

Tôi kính hỏi tác giả: ông có chắc chắn ông giải thích đúng chữ “khí” trong “tửu, sắc, tài, khí” là “nghiện thuốc phiện” không ông? Ðã có nhiều người giải bốn tiếng ấy, tôi không thấy ai giảng tiếng “khí” là “nghiện thuốc phiện”. Tiếng “khí” thường được giảng là “sự tức khí, sự tức giận” của con người, người ta khi giận lên có thể làm những việc dại dột đến có thể bị tiêu tan sự nghiệp, thân bại, danh liệt. Cùng với việc nghiệân rượu, mê chơi gái, đánh bạc, việc thả lỏng tình ý mình theo cơn tức giận làm cho người ta bị tan nát cửa nhà.

Theo sự hiểu biết có thể sai mà cũng có thể đúng của tôi thì bốn tiếng “tửu, sắc, tài, khí” đã có trong ngôn ngữ người Ba Tầu nhiều trăm năm trước khi thuốc phiện được đưa vào nước Tầu, trước khi có nhiều người Tầu hút thuốc phiện. Về trò hít tô phê, tức hút thuốc phiện, người Việt Nam tuy bắt chước người Tầu nhưng tiến bộ không kém gì người Tầu. Trong tác phẩm Số Ðỏ, nhà văn Vũ Trọng Phụng, năm 1937, viết: “Cụ Cố Hồng, vì là một người Việt Nam hoàn toàn, nên cụ nghiện thuốc phiện.”

Tôi thấy “tửu, sắc, tài, khí” không phải chỉ là “bốn tệ đoan lớn của thanh niên đời xưa.” Ðó là những thói xấu tai hại của loài người. Ngày nào trái đất này còn con người ấy, ngày ấy tửu, sắc, tài, khí vẫn làm hại người ta. Thanh niên thời nay còn chơi, còn khổ, còn chết vì tửu, sắc, tài, khí dữ dội hơn, thê thảm hơn thanh niên đời xưa.

Nhân chuyện rượu chè, trai gái…, xin kể một chuyện vui để gọi là – bắt chước Nữ ca sĩ Lệ Thu hát phòng trà ngày xưa, khi thấy khán giả ngủ gật, thường nói: Ðể thay đổi không khí! Chuyện này nhiều vị đã nghe, đã biết nhưng kể lại chắc cũng không hại gì:

Anh con chơi bời bị ông bố mắng:

– Mày là thằng hư hỏng. Mày rượu chè, trai gái, cờ bạc, thuốc sái..! Không có cái tật nào là không có mày.

Anh con, anh này thuộc loại con có hiếu, anh bị ông bố chửi nhưng anh không nổi quạu, không hầm hầm xô ghế đứng lên, không vùng vằng bỏ đi, không ngồi đó nhưng sị mặt ra, anh nhỏ nhẹ chạy tội bằng lời phân trần:

– Thưa bố…Xin bố nghĩ lại cho. Con đâu đến nỗi quá tệ: con uống rượu con không uống chè, con chơi gái con không chơi trai, con đánh bạc con không đánh cờ, con hút thuốc con không hút sái!

Phải chăng vì câu tiếng Việt “rượu chè, trai gái, cờ bạc, thuốc sái” mà nhà biên khảo văn học Việt Nam ở thành phố Melbourne, Úc quốc, tiện tay giảng nghĩa chữ “khí” là “hút thuốc phiện?”

Trang 611:

yểu thọ bất nhị

(yểu chết non, thọ sống lâu, bất không, nhị hai)

Chết non hay sống lâu cũng không làm cho ta sinh ra hai lòng. Ngưng trích.

Theo ý ngu của tôi thì hình như “yểu thọ bất nhị” có nghĩa  con người “chết non hay sống lâu cũng như nhau, không có gì khác.”

o O o

Trang 249.

lục thập nhi nhĩ thuận

(lục sáu, thập mười, nhi thì, nh ĩtai, thuận thuận)

Sáu mươi tuổi thì tai nghe (sự thật mới) thấy thuận – một câu nói của Khổng Khưu, là đến tuổi đó thì sự thật mới không cón chối tai. Ngưng trích.

Ðến năm tuổi đời Sáu Bó tai ta mới chịu nghe sự thật sao ta? Những năm ta Ba Bó, Bốn Bó, Năm Bó, tai ta không chịu nghe sự thật? Có lý nào như thế? Theo ý ngu của tôi thì con người đến tuổi sáu mươi mới có đủ khả năng, qua kinh nghiệm sống, nhìn nhận mọi chuyện đều có thể xẩy ra, đều có thể là chuyện thật. Sáu mươi tuổi ta không còn thấy chối tai, thấy khó chịu khi phải nghe những chuyện ta cho là vô lý, không thật. Như những năm 1970, 1971, khi nghe ai nói uýnh nhau loạng quạng như vầy là có ngày Việt Cộng nó vào Sài Gòn, ta hổng chịu, ta quả quyết nó vào Sài Gòn thế chó nào được; ta hiu hiu kể Tết Mậu Thân mình đang ngủ, nó dzô đến đầu giường, nó kề dao vào cổ mình mới biết, dzậy mà mình vẫn bợp tai, đá đít nó, mình vẫn đuổi nó ra khỏi nhà mình, nay thì còn lâu, sức mấy! Có là sức voi nó cũng không vào được Sài Gòn!

Trang 278.

nam nữ thụ thụ bất thân

(nam trai, nữ gái, thụ trao tay, thụ nhận, bất không, thân thân)

Ðàn ông đàn bà, khi trao và nhận đồ đạc, không được đụng tay nhau (lỡ đụng chạm có thể sinh tà-ý) – một lời răn quái đản của Khổng-giáo. Ngưng trích.

Thưa tác giả: ông phê lời răn “Nam nữ thụ thụ bất thân” là “quái đản,” tôi thấy nó không quái đản một ly ông cụ nào, ngược lại tôi thấy nó tinh vi, nó ly kỳ ra gì, ông ạ. Thưa ông, đám con cháu Rồng Tiên nay văn minh, tiến bộ, không phải nam nữ chỉ cầm tay nhau mà ôm nhau nhẩy đầm, nhẩy đìa như điên; nhưng việc cầm tay nhau, việc ôm nhau nhẩy đầm khác mà việc hai anh chị đưa cho nhau vật gì đó để chạm tay nhau là chuyện khác, không phải chỉ khác sơ sơ mà là khác hẳn. Tôi thì tôi chẳng có dịp nào làm cái việc cố tình chạm tay ấy nhưng tôi nghe nói nhiều anh đàn ông yêu, hay muốn, chị đàn bà nào đó, nhưng không biết nàng có bằng lòng cho không, nên mấy ảnh thử nàng bằng cách đưa cho nàng vật gì đó, để cầm tay nàng, hay chạm tay nàng hơi lâu, lâu quá thời gian cần thiết, nếu nàng không rụt tay về ngay sau khi nàng cầm món đồ, nếu nàng cứ để cho anh cầm tay, anh chạm tay, rồi thì nàng cũng rụt tay về, nàng không thể để anh cầm tay nàng mãi, nhưng nàng để cho anh cầm tay nàng lâu quá thời gian cần thiết và hợp lý, hợp pháp, là anh đã có tín hiệu cho biết nàng bằng lòng.

Trang 323.

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh

(nhất một, nghệ: nghề, tinh giỏi, thân thân thể, vinh tươi tốt)

Chỉ làm một nghề thì tay nghề ắt giỏi và sống độc thân thì sướng cái thân – một lời khuyên người mới lớn đến nay còn chứng tỏ là rất đúng. Ngưng trích.

A…! Ðọc đến thành ngữ này thì tôi hiểu tại sao tác giả lại để tên sách là Chữ Nho & Ðời Sống Mới. Tuy “chỉ làm một nghề thôi thì chưa chắc tay nghề đã giỏi” nhưng lời giảng “nhất thân vinh” thì quả là mới toanh, thì rất Ðời Sống Mới, lại một lời giảng nữa tôi chưa từng thấy ai giảng. Từ bao giờ tôi vẫn tưởng “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” có nghĩa đơn giản là “làm giỏi một nghề, người có một nghề mà làm khéo, làm hay cái nghề đó thì một đời sung túc, có danh tiếng, được trọng vọng..” Ông Phó Chũi, tức Thợ May, ông Phó Nháy, tức Thợ Chụp Ảnh, ông Phó Koáp, tức Thợ Hớt Tóc, ông Phó Phở, tức Ông Thợ Phở..mà may đẹp, chụp ảnh đẹp, cắt tóc đẹp, nấu phở ngon… là nổi tiếng, có thể giầu một đời.

Nay, tuổi đời Bẩy Bó, năm 2005, đọc sách Chữ Nho & Ðời Sống Mới, tôi mới biết – muộn màng, muộn mất năm mươi năm, tức muộn nửa thế kỷ –  thành ngữ “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” còn có nghĩa “sống độc thân thì sướng cái thân..”, tức không có vợ thì sống sung sướng!

Mèn ơi..! Biết khôn thì đã muộn dzồi!

Xin viết nghiêm chỉnh: thành ngữ “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” được người Việt nói đến rất thường, người không biết gì về chữ Hán cũng hiểu nghĩa. Tại sao tác giả Chữ Nho & Ðời Sống Mới lại giảng nghĩa “nhất thân vinh” là “xê-li-bạt-te thì sống sung sướng” kỳ cục quá đến như thế?

Rất tiếc tôi không được tác giả cho đọc  tác phẩm trước khi in, nếu được đọc chắc tôi đã có thể giúp tác giả tránh được mấy cái lỗi ngớ ngẩn tôi vừa kể.

Trang 409.

sát vô đạo dĩ tựu hữu đạo

(sát giết, vô không, đạo đạo, dĩ gia dĩ, tựu thành việc, hữu có)

Giết bọn hung ác để cứu người có đạo đức (nhưng tôi chỉ thắc mắc ai là kẻ vô đạo). Ngưng trích.

Tác giả giải nghĩa từng chữ Hán, rất đúng và gần đúng hết, chỉ có trong câu trên ông giảng nghĩa chữ “dĩ” bằng tiếng “gia dĩ”,. tôi thấy giảng như thế là ông không giảng gì hết, hoặc ông giảng một tiếng Hán bằng một tiếng Hán khó hiểu hơn. Không biết nếu giảng chữ “dĩ” là “để,” “ giết thằng dữ ác để cứu người hiền lành..” có được hay chăng? Tác giả théc méc “không biết ai là kẻ vô đạo.” Nhưng với bọn cộng sản và người quốc gia dân chủ thì chắc ông đã biết bọn vô đạo là bọn nào, và tại sao ta phải giết những thằng vô đạo ấy.

Pháp-Việt đề huề

(Pháp nước Pháp, Việt Việt-nam, đ cầm, huề dắt tay nhau)

Pháp Việt dắt tay nhau.

Pháp Việt Ðề Huề là lập trường của những chính-khách như Hoàng Trọng Phu và Phạm Quỳnh đã chủ trương hồi tiền bán Thế kỷ XX nhưng số phận của họ Phạm – ông bị Việt Minh giết hồi mùa Thu 1945 – rõ ràng chứng-tỏ là ngay từ hồi đó, Ðảng Cộng-sản Việt-nam (ÐCVN) đã chọn võ-trang đấu-tranh chứ không chịu đưa đất nước đến độc-lập tự-do bằng một giải-pháp hoà-bình, có sự tham-gia của toàn dân và sự hợp-tác, dù là miễn-cưỡng, của Ðế-quốc Pháp…như dân Ấn, dân Hồi, dân Miến và biết bao dân tộc khác đã tạo được trong Liên-hiệp Anh sau Thế-giới Ðại-chiến II.

Ðể viết lại lịch sử cho công bằng hơn là những cuốn xuất bản ở Hà-nội từ 60 năm nay, các sử-gia phải đánh giá lại vai trò của Pháp và ÐCV trong thời gian 1945-55. Như tôi nghĩ thì nếu Hồ Chí Minh không cướp chính-quyền trong kỳ Cách-mạng Muà Thu thì người Việt vẫn có thể lần lần dành lại được chủ-quyền quốc-gia mà không phải chấp-nhận cả chục triệu thương vong trong hơn 30 năm chiến tranh. Hơn nữa, nếu chiến-cuộc chỉ kéo dài một, hai năm – như ở Nam-dương và Miến-điện – thì Việt-nam ắt đã tránh được những núi máu xương và hận-thù đến bây giờ còn chia rẽ các phần-tử Cộng-sản và Quốc-gia, người Bắc người Nam, giới vô-thần và tín-đồ các đạo.

Hơn nưã, nếu các sử-gia cho là chính-sách của Ðế-quốc Pháp suốt ba phần tư thế-kỷ đô-hộ Việt-nam không hoàøn toàn tiêu-cực – kể cả những chuyện như không để cho Vua Ðồng-khánh làm gì ích quốc lợi dân – và sách lược sắt máu của ÐCV, đặc biệt là trong giai-đoạn 1975-87, đã làm đất nước tụt hậu, ngay so với các lân-bang như Thái-lan và Mã-lai , thì có lẽ họ phải phục-hồi danh-dự cho những nhân-vật như Phạm Quỳnh và xét lại vai trò của Hồ Chí Minh. Không chừng họ Phạm còn có công hơn họ Hồ! Ngưng trích.

Tôi đồng ý với những lời nghị luận của tác giả Nguyễn Ngọc Phách trong đoạn văn trên đây. Chỉ có điều cần nói là bây giờ em nhỏ Việt Nam lên ba cũng biết việc Việt Minh Cộng Sản cướp chính quyền năm 1945 là một tai hoạ, một thảm nạn của dân Việt. Nếu không có bọn Việt Cộng, nước Việt Nam ta đã độc lập, tự do, hạnh phúc từ khuya. Lịch sử phải phục hồi danh dự cho những nhân vật Quốc Gia như ông Phạm Quỳnh. Ðó là việc bắt buộc, không phải là việc có lẽ. Tội phạm Hồ chí Minh bị nhân dân lên án, định tội, treo cổ lâu rồi, không cần chờ đến mai sau.

Tôi thấy thực dân Pháp có làm, đãù làm được nhiều việc công ích cho nhân dân Việt Nam; nếu không có thực dân Pháp, nếu cứ tin, cứ chờ bọn vua quan Nhà Nguyễn, thì giờ đây, năm 2005, đi từ Hà Nội sang Gia Lâm, tôi phải mất 5 tiếng đồng hồ sang đò qua sông Hồng, đi từ Hà Nội vào Sài Gòn tôi phải mất ít nhất là 30 ngày.

Tác phẩm Chữ Nho & Ðời Sống Mới sẽ được nhiều thế hệ người Việt đến sau tôi đọc. Những người Việt mai sau ấy sẽ thấy tội ác của bọn đảng viên Ðảng Cộng Sản Việt Nam trên những trang sách văn học, trong những câu thành ngữ ông cha họ đã dùng, đã nói mà họ muốn biết, muốn học. Những người Việt ấy có thể không đọc những quyển sách dầy cộp chuyên viết về tội ác của bọn cộng sản Việt Nam, họ sẽ không tìm mà họ sẽ thấy những tội ác của bọn cộng sản Việt Nam trên những trang sách tác phẩm biên khảo văn học Chữ Nho & Ðời Sống Mới của Nguyễn Ngọc Phách.

Không có tập sách biên khảo Thành Ngữ Hán Việt nào có thể thu thập được tất cả những câu thành ngữ Hán Việt trên cõi đời này, xong tôi vẫn thấy tiêng tiếc vì kỳ thư Thành Ngữ Hán Việt Thông Dụng của Nguyễn Ngọc Phách không có một số câu thành ngữ rất được thông dụng ở Việt Nam như:

Hợp Phố châu hoàn: châu ngọc trở về Hợp Phốù, ngụ ý vật quí bị mất trở về với chủ của nó. Cậu Kim Trọng vớ được cái thoa cài tóc của cô Thúy Kiều, khi thấy cô đi tìm, phát ngôn lửng lơ con cá vàng:

Thoa này bắt được hư không.
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về! 

Lạc bất tư Thục: vui không nhớ Thục. Bệnh sống ở nước mới vui quá, quên nước cũ, một bệnh dường như phổ biến, tức có nhiều người mắc bệnh, ở Pháp, Mỹ.

Sơ bất gián thân: mình là người không thân với đương sự thì mình đừng tìm cách súi bẩy để chia rẽ đương sự với người thân của đương sự.

Ða thọ đa nhục: sống lâu, nhục nhiều.

Cái quan định luận: đóng nắp áo quan rồi mới luận xem người nằm trong áo quan là người hiền, ác ra sao. Nhiều khi nó đã cái quan từ khuya, nó đã nằm dưới hố từ lâu rồi, mình vẫn không kể tội được nó. Vì nó cái quan nhưng anh em, thủ hạ của nó còn cầm quyền, những thằng ấy có thể bỏ tù mình nếu mình nói thằng đàn anh chúng có tội.

Vân vân…và vân vân..! Còn nhiều câu nữa, không thể kể hết. Ðấy là chưa kể đến một lô những thành ngữ tôi nghe nói hoài mà tôi không hiểu nghĩa như câu “Âm hộ vô mao bần chí tử..!”

o O o

Giữa việc nằm với quyển sách hay, không nằm với đàn bà đẹp, và việc nằm với người đàn bà đẹp, không nằm với quyển sách hay, quí vị chọn việc nào?

Tôi nằm với đàn bà đẹp.

Khoan! Xin đừng ồn ào. Ðừng vội kết tội tôi đa dâm, tôi không trọng văn học, tôi là tên không ra gì, tôi coi bộ mông đàn bà quí hơn quyển kim cổ kỳ thư! Dù có bị kết những tội ấy tôi vẫn thản nhiên như ông Khổng Khâu khi ông bị vu cáo là can tội sờ nhằng, soạng bậy trên xe điện ngầm ở New York. Ông Khổng tỉnh bơ vì ông không bao giờ đến New York. Tôi tỉnh queo vì tôi không can những tội ấy.

Trước khi làm việc gì ta phải suy nghĩ. Ta suy nghĩ để làm gì? Ðể làm những việc phải. Tôi chọn việc nằm với đàn bà đẹp vì những lý do sau đây:

Sách hay như đàn bà đẹp. Sách là người tình chung tình, chung thủy của tôi. Dù tôi có phụ bạc Sách, dù tôi có bỏ quên Sách mười năm, hai mươi năm trong xó tủ, khi tôi sờ đến Sách, khi tôi mở Sách, Sách vẫn âu yếm tôi, vẫn vui vẻ, vẫn ngọt như mật ong, vẫn đậm như táo Tầu với tôi, Sách vẫn nói như ru vào tai tôi: “Em đây. Em vẫn chờ anh. Bao lâu rồi, từ đêm anh bỏ em không có bàn tay thằng nào sờ vào em cả. Em sung sướng quá, anh yêu ơi! Lâu lắm em mới lại được anh sờ, anh mó, anh mân mê! Ôi..! Lâu rồi em mới lại được anh yêu. Nhưng mà hổâng sao, em vẫn yêu anh, em yêu anh lắm lắm, em không bao giờ bỏ anh, em không bao giờ hờn giận anh,  chúng ta lại yêu nhau như năm xưa. Trái tim em đây, gan, ruột, phổi, phèo em đây, anh thưởng thức em đi. Em cho anh trọn vẹn. Em còn nguyên như ngày em mới về với anh..!”  Ðang nằm ôm Sách, đang nâng niu Sách, đàn bà đẹp thơm như múi mít đến bên giường, tôi quăng ngay Sách xuống sàn, tôi quẳng ngay Sách vào gậm giường! Ðêm sau, tôi buồn, tôi thất nghiệp, tôi không có việc gì làm hay hơn, tôi lom khom tìm Sách, tôi chổng mông lôi Sách từ trong gậm giường ra. Sách không giận hờn, Sách vẫn yêu thương tôi như không có chuyện gì xẩy ra cả, Sách nói dịu dàng: “Em đây. Ðêm qua với Nàng anh vui thú chứ? Nàng có chiều anh như anh muốn hông? Em không đòi hỏi gì. Ðược anh sờ đến là em sung sướng quá dzồi..!”

Sách như thế đấy! Nhưng, từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó đều biết Giai nhân, tức Ðàn bà, lại tức Ðàn bà Ðẹp, thì không như thế. Với Ðàn bà Ðẹp tôi không thể nào đạp Nàng từ trên giường xuống sàn để tôi ôm Sách, đối xử với Ðàn bà Ðẹp như thế, tôi vỡ mặt liền một khi, với Ðàn bà Ðẹp tôi không thể nói, không chỉ tôi mà không anh đàn ông nào trên cõi đời này có thể nói: “ Ðêm nay anh thích đọc sách hơn, em cảm phiền chờ đến đêm mai.!”

Nhưng Sách thì tôi không cần nói gì cả. Tôi quăng Sách đi, tôi ôm Sách lại, Sách vẫn cho tôi muốn làm gì Sách thì làm. Ðàn bà Ðẹp thì còn lâu! Sức mấy! Con người hơn con vật ở việc biết suy nghĩ, biết tính chuyện lợi hại, biết việc gì nên làm. Tôi chọn việc nằm với đàn bà đẹp, hoãn lại việc nằm với quyển sách hay, vì lý do giản dị là nếu nằm với quyển sách hay mà từ chối đón tiếp, mà không nằm ngay với đàn bà đẹp, cuộc đời ái tình và sự nghiệp của tôi sẽ đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó, đen như cái lá đa ca dao, không những chỉ đen nó còn nát hơn cái mền Sakymen, xưởng máy chân cầu Bình Triệu. Trong khi đêm nay nằm với Ðàn bà đẹp, đêm mai tôi vẫn có thể nằm du dương với quyển Sách hay.

Chỉ có vậy thôi! Không có chuyện đa dâm, đa tình, đa sầu, đa cảm, đa bệnh, đa âm, đa hệ, đa ngôn, đa sự, đa đoan, đa tạ, đa thê, đa nguyên, đa đảng… chi cả trong việc tôi chọn Ðàn Bà Ðẹp!

6 Responses

  1. Chữ Nho và Đời Sống có thể kiêm thêm chức năng…tiếu lâm !
    ” có một nghề giỏi và..sống độc thân, thì vinh hiển ! ”
    Không biết quý độc giả đọc câu giải thích ý nghĩa của tác giả xong, thì cảm thấy ra sao; riêng tôi , được một tràng cười thoải mái !
    Hay thiệt !

  2. Chú thích ảnh : ” Tháng bảy 1954 ở Hà nội….người Hà nội bỏ Hà nội vào Sài gòn.” Theo tôi thấy trong hình là 2 á xẩm chớ người Hà nội gì mà ăn mặc kỳ quá dzay ?

  3. […] DANH CHỈ BẢN (Hoàng Hải Thủy).”Cai tù dẫn tôi đến chỗ làm danh chỉ bản. Thì ra […]

  4. […] DANH CHỈ BẢN (Hoàng Hải Thủy).”Cai tù dẫn tôi đến chỗ làm danh chỉ bản. Thì ra ‘danh […]

  5. Thời VNCH,Cảnh sát và An ninh quân đội có dùng từ “danh bản”. Khi sưu tra an ninh mà kết quả là :”Không có tên trong danh bản” là khỏe re !

  6. Làm “danh chỉ bản” nôm na là lấy dấu vân tay. Thế thui !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: