• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

MÍT tên TÂY

Quảng cáo trên báo của Hiệu May LEMUR CÁT TƯỜNG. Năm 1937 Hà Nội có phố Lê Lợi. Đang thời Tây, Hà Nội có phố mang tên danh nhân Việt Nam: Số Nhà 16 Phố Lê Lợi ( Giốc Cây Thị Hàng Kèn ) Hà Nội. Trong năm đó đường phố Sài Gòn toàn tên Tây.

Quảng cáo trên báo của Hiệu May LEMUR CÁT TƯỜNG. Năm 1937 Hà Nội có phố Lê Lợi. Đang thời Tây, Hà Nội có phố mang tên danh nhân Việt Nam: Số Nhà 16 Phố Lê Lợi ( Giốc Cây Thị Hàng Kèn ) Hà Nội. Trong năm đó đường phố Sài Gòn toàn tên Tây.

Có lần ông Văn sĩ Đặng Trần Huân lên tiếng trách:

“Tại sao người Việt lại cứ tự gọi mình là Mít, Việt Cừu??”

Chắc ông văn sĩ cho rằng người Việt tự gọi mình bằng những cái tên ấy là việc tự hạ, tự khinh, không nên, kỳ cục, ngu xuẩn.

Tôi định thưa với ông người nước nào cũng tự cười mình và dân mình trước khi cười người khác và cười dân nước người. Người Việt gọi Tầu là Tẫu, Tây là Tẩy, Mỹ là Mẽo, người Việt gọi người Việt là Mít cũng phải thôi. Mít do tiếng Anamite mà ra. Anamite xuất từ tiếng “An Nam Đô Hộ Phủ “do bọn Vua Tầu đặt ra, một tên gọi có cả ngàn năm trước. Triều Tiên năm xưa cũng bị bọn Vua Tầu gọi là “An Đông Đông Hộ Phủ “nhưng cái tên nước bị trị này không ở lâu với dân Triều Tiên.

Tôi chưa kịp thưa chuyện đó với ông Đặng Trần Huân thì ông đã qua đời.

Bài này viết về những ông Mít có tên Tây trong giới văn nghệ-văn gừng Việt Nam. Không có nhiều ông. Tôi chỉ thấy trước năm 1945 có hai ông văn nghệ Mít mang tên Tây: Ông Hoạ sĩ Lemur Cát Tường, và ông Thi sĩ J. Leiba. Cái tên TchyA của ông văn thi sĩ Đái Đức Tuấn có vẻ Tây nhưng không phải là tiếng Tây.

Tôi biết ông Thi sĩ J. Leiba qua mấy bài thơ của ông trong tập Thi Nhân Việt Nam. Ông này là Thi sĩ Việt trước nhất mang bút danh Tây. Tôi đọc những chuyện viết về ông Lemur Cát Tường nhưng tôi không biết chuyện năm 1946 ông bị Việt Minh giết ở Hà Nội. Ông chết mất xác. Đây là tiểu sử ông Lemur Cát Tường trên Internet:

cattuong“Cát Tường (1912 – 1946, sinh ở Sơn Tây) tên thật là Nguyễn Cát Tường, bút danh là Lemur Cát Tường (nghĩa tiếng Hán: Cát Tường là điềm lành và tiếng Pháp: le mur là bức tường), là một hoạ sĩ Việt Nam.

Năm 1928, Cát Tường trúng tuyển vào Khóa 4 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – École des Beaux Arts –  ông tốt nghiệp năm 1933

Trong thời gian đô hộ của Pháp ở Việt Nam, chiếc áo dài phụ nữ Việt  đã “biến thiên,” nhờ được cách tân theo văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam. Do học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đầu thập niên 30 của thế kỷ XX, Cát Tường, cùng với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là người khởi xướng phong trào cách tân áo dài truyền thống. Ông đề ra phương châm: “Quần áo tuy dùng để che thân, song nó là tấm gương ngoài phản chiếu ra cái trình độ, trí thức của một dân tộc”.

“Le Mur” là kiểu áo dài cách tân đầu tiên Họa sĩ Cát Tường tung ra, được lấy cảm hứng hoàn toàn từ chiếc robe của phụ nữ phương Tây với đường nối vai, tay phồng, cổ lá sen…, đặc biệt những màu thâm, nâu, đen của áo dài phụ nữ truyền thống được thay bằng những màu sắc tươi sáng, áo mặc với quần trắng. Sau khi thịnh hành một vài năm, đến năm 1934, khi họa sĩ Lê Phổ cải tiến kiểu áo dài “Le Mur” theo cách dung hòa giữa váy phương Tây với áo tứ thân truyền thống, áo “Le Mur” của Cát Tường dần dần không còn được dùng nhiều như trước.

Tháng 12 năm 1946, tình hình ở Hà Nội rối loạn khi quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh sắp xẩy ra, dân Hà Nội tản cư ra khỏi thành phố. Gia đình Cát Tường về làng Tràng Cát, tỉnh Hà Ðông.

Ngày 17 tháng 12 năm 1946, chưa có giao tranh ở Hà Nội, ông Cát Tường trở về nhà ông ở Hà Nội để lấy thuốc men, quần áo cho các con ông và bà vợ ông sắp tới ngày sinh. Ông bị Việt Minh bắt tại Hà Nội và đưa đi biệt tích. Ông mất tích từ đó.

Tiểu sủ Thi sĩ J. Leiba trên Internet:

leibaJ. Leiba (1912 – 18 tháng 12 năm 1941), tên thật là Lê Văn Bái; là nhà báo, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. ( Trước năm 1945.)

J. Leiba – viết tắt chữ Jean Leiba – tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái trong tên ông mà ra. Ông sinh ở Yên Bái, chính quán là làng Nam Trực, phủ Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông học Trường Bưởi (Trường Trung học Bảo hộ), đến năm thứ ba, ông bỏ học, đi theo một nhóm tài tử giang hồ trong một năm. Sau đó, ông trở về quê học chữ Hán, rồi  lên Hà Nội viết báo, làm thơ.

Bước chân vào làng thơ từ khoảng năm 1929-1930, ban đầu với bút danh Thanh Tùng Tử, ông viết cho tờ Hà Thành Ngọ báo. Năm 1934, tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra đời, ông cộng tác với Chủ báo Vũ Đình Long, rồi được mời làm Chủ bút tờ Ích Hữu. Ông còn viết cho các tờ: Tân báo, Tin văn, Việt Báo, Nam Cường, L’Annam Nouveau… Nhưng ông thật sự được người đọc chú ý nhiều là nhờ những bài thơ của ông đăng trên tuần báo Loa.

Năm 1935, ông thi đỗ bằng Thành Chung, được bổ vào ngạch thư ký Tòa Sứ Bắc Kỳ, ông nhận việc ở Tòa Sứ tỉnh Sơn Tây. Trong thời kỳ làm công chức ở đây, ông sống khá trác táng. Đến khi đổi lên làm việc ở Tòa Sứ Hà Giang thì J. Leiba đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim. Ông xin nghỉ việc để về Hà Nội chữa trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể khỏi bệnh ông về sống ở quê nhà ông. Tại đây, thỉnh thoảng ông  gửi một vài bài thơ cho báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy và Tri Tân.

Ngày 18 tháng 12 năm 1941, J. Leiba từ trần ở tuổi 29.

J. Leiba có viết một số truyện ngắn, nhưng không thành công bằng thơ. Thơ ông, tuy chỉ có hơn chục bài đăng báo, chưa in thành tập, nhưng đã được giới thiệu trong quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân và trong bộ sách Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoài Chân viết về Thi sĩ J. Leiba:

“Thơ đăng báo Loa với cái tên ký chẳng Việt Nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền được người ta mến thích. Người ta thích thơ J. Leiba có giọng Đường, mà lại nói lên được nỗi lòng của người thời nay. Trong khuôn khổ xưa, cái hương vị mới ấy rất dễ làm say lòng người…Thơ Leiba ra đời (1934) giữa lúc ai nấy đều cảm thấy mình như trẻ lại. Các nhà thơ đương thời, Thế Lữ, Đông Hồ, Thái Can, kẻ trước người sau, đều tả nỗi lòng của người thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhưng không ai nói được đầy đủ như tác giả bài “Năm qua”...Những câu như:

Hoa tặng vừa tàn bông thược dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa…

Hay là:

Sầu đối gương loan, bóng lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?

Có thể để ngang những câu tuyệt hay trong thơ cổ.

..Chán nản đưa người về tôn giáo. Thơ Leiba hồi sau có bài đượm mùi Phật, mặc dầu chưa đúng hẳn với tinh thần đạo Phật. Bài Bến Giác chẳng hạn có một giọng lạnh lùng, chua chát nhưng chưa phải là giọng của kẻ đã dứt hết trần duyên…Tuy thế ông là người gần đạo Phật hơn hết trong các nhà thơ bấy giờ..

Theo Từ điển Văn học: “J. Leiba vì ân hận với những ngày sống trác táng lầm lỡ cũ, ông  hướng về đạo Phật để tìm nguồn an ủi. Những bài thơ của ông lúc này nhiễm mùi đạo nhưng vẫn không tránh khỏi giọng yếm thế và đôi khi còn kiêu bạc.”

Trong quyển Thi Nhân Việt Nam, thơ Leiba được tuyển giới thiệu bốn bài, đó là những bài: “Năm qua”, “Mai rụng”, “Hoa bạc mệnh” và “Bến Giác”.

Bến Giác

Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am không.
Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.

Thi sĩ Leiba trước khi từ biệt cõi đời có bài thơ Lưu biệt, trong đó thi sĩ nói đến một loài hoa ông thích:

Ta vẫn yêu hoa, mé trước song,
Giàn đưa hương sớm, dệt muôn hồng.
Trăm hoa, lòng vốn yêu riêng cúc,
Hương đạm, thần cao, khí tiết trong.

Người đời danh lợi mải đua chen,
Luống tủi hoa thơm bạn cỏ hèn.
Yêu cúc, giận đời tri kỷ ít,
Cùng hoa lên ở chốn non tiên… 

Ví biết phù sinh đời có thế,
Thông minh, tài bộ, thế gia chi!
Học thành, danh đạt, chung quy hão:
Mắt nhắm, tay buông, giữ được gì?
Thà chọn sinh vào nhà ẩu phụ,
Cục cằn, mất dạy, lại ngu si.

o O o

Văn thi sĩ TchyA:

TchyA (1908 – 1969), tên thật Đái Đức Tuấn, bút danh khác: Mai Nguyệt, là  nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Dường như không một lần ông TchyA gỉải thích cái bút danh kỳ bí của ông. Nhiều người  cùng thời với ông giải thích TchyA là “Tôi chẳng yêu ai, “và “Tôi chỉ yêu Angèle.” Những ông bạn ông gọi ông là “Tẩy Chià”, và “Tẩy Sia.” Có thể Nhà Văn Vũ Trọng Phụng nhớ cái tên “TchyA” khi ông tạo ra nhân vật Týp Phờ Nờ – TYPN – Tôi yêu phụ nữ – trong Số Đỏ.

TchyA quê ở làng Ngọc Giáp, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá. Xuất thân trong một gia đình quan lại, sau khi có bằng tú tài toàn phần, ông làm tham tá ở Nha Học chánh Đông Dương từ năm 1930. Đái Đức Tuấn bắt đầu viết báo, viết văn từ 1935 cho các tờ Đông Tây, Nhật Tân, Tiểu Thuyết Thứ Bảy

Năm 1946 Đái Đức Tuấn tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng. Khoảng năm 1950 ông gia nhập Quân đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc đại úy đồng hóa, Ông giải ngũ năm 1956. Những năm 1964, 1965 ông làm việc trong Nhà Phát Hành Sách Báo Thống Nhất. Nhà phát hành này những năm đó được giao cho Nha Cựu Chiến Sĩ quản lý.

Ông mất ngày 8 tháng 8 năm 1969 tại Sài Gòn.

Vũ Ngọc Phan nhận xét:

Văn Thi Sĩ TCHYA Đái Đức Tuấn.

Văn Thi Sĩ TCHYA Đái Đức Tuấn.

Văn của Tchya “không phải thứ văn chương hàm súc hay linh hoạt, nên những truyện ngắn của ông đều dài dòng, cổ lỗ…chỉ những tập truyện truyền kỳ là còn kha khá.

Và cũng như văn, thơ ông đượm rất nhiều phong vị cổ. Ở văn, gọt giũa quá, nhiều khi tai hại; nhưng ở thơ, nó lại có được đôi phần hay là lời điêu luyện, già giặn. Tôi nói “có được đôi phần hay”, vì nếu gọt giũa lắm vẻ tự nhiên, sự thành thật sẽ không còn nữa…

Sống liều nghịch với sầu thương
Thuyền cô đẫm bóng tà dương nhẹ chèo
Sương tàn lả ngọn ba tiêu,
Lòng trần thoảng sạch bể chiều nhấp nhô

(trích Thoát Tục)

…Về không nổi, ngày thêm tẻ
Ở chẳng nên chi, tóc điểm vàng
Gánh nợ thê noa nào trả nữa
Chân trời đâu nhỉ cái bồng tang?…

(trích Mưa Gió)

Về thơ, ông chịu ảnh hưởng thơ Đường, còn về tiểu thuyết truyền kỳ, ông chịu ảnh hưởng Liêu Trai. Ông là một nhà văn và là một nhà thơ không có  gì đặc sắc.

Ông Lãng Nhân viết về ông TchyA trong hối ký Nhớ Nơi Kỳ Ngộ:

 Đái Đức Tuấn  quê Thanh Hóa.  Anh đỗ tú tài, làm tham tá Nha Học Chính, hay vẽ và làm thơ ngay trên bàn giấy công chức. Thơ anh có những câu :

Thì giờ  vỗ cánh bay như quạ 
Bay hết đường xuân kiếm chỗ ngồi
Rượu đến gà kêu cô cuốn chiếu 
Quay về, còn lại mảnh tình tôi …

Thế chiến Thứ Hai bùng nổ, ách quân phiệt Phù Tang  chồng lên ách thực dân Pháp làm khổ dân ta, TchyA nghỉ việc ở Nha Học Chính, anh nói: “Tây sắp thua rồi, ở lại làm gì ?”

Nhật đầu hàng, chiến tranh chấm dứt. Quân Tầu – chính phủ Tưởng Giới Thạch – vào Bắc Việt giải giới quân Nhật. TchyA biết chữ Hán  đủ để bút đàm với những sĩ quanTầu, anh trở thành một cố vấn Ban Chỉ huy Quân Tầu. Từ đó anh mặc quân phục Tầu, mũ lưỡi trai, giầy ủng, bên hông có khẩu súng lục.

Đến khi quân Tầu Tưởng rút về Tầu, anh đi theo họ sang đến tận Côn Minh …

Khoảng năm 1950, tôi nhận được giấy gọi của Sở Mật Thám Pháp, đến nơi, được biết, có ông Đái Đức Tuấn  ở Côn Minh gửi đơn xin về  Hà Nội, ông cậy tôi đứng bảo lãnh.  Tôi vui vẻ ký nhận bảo lãnh cho anh, ít bữa sau tôi tái ngộ với TchyA,  tóc anh vẫn bồng bềnh. Vài tháng sau, anh vào Huế, do lời mời của Thủ Hiến Phan Văn Giáo, vốn là bạn thân của anh khi trước ở Thanh Hóa. Ông Thủ Hiến mời anh vào quân đội với cấp bực Đại Uý Chiến Tranh Chính Trị. Loại sĩ quan được trưng dụng này được gọi là sĩ quan đồng hoá.

Sáng ngày 10-8-1968, tại  Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, bạn Vũ Hoàng  Chương rưng rưng mắt lệ, đọc mấy lời thống thiết trước quan tài TchyA :

Đành lẽ “trót sinh giàu cảm lụy 
Dẫu tàn thân thế khó quên nhau.”

Mai hoa tái thế bao giờ nữa ?
Minh nguyệt tiền thân biết hỏi đâu ?
Tàn cuộc văn chương từng góp lệ
Tàn đêm lữ thứ lại chung sầu
Tàn đi mãi đấy hồn phong nhã
Tàn cả rồi chăng lớp biển dâu?
Và cũng tàn theo ba tiếng khóc
Ngấm vào ba thước đất vùi sâu…
Tàn mai, tàn nguyệt, tàn cơn mộng
Anh đợi gì chưa nổi trống chầu ?

Câu đối viếng tang Tchya của Vũ Hoàng Chương: Mấy năm liền sao rụng làng văn, vận nước sô nghiêng hồn chữ nghĩa. Rằm tháng bảy anh về đất Phật,  lệ ngâu thấm ướt tập’ Đầy Vơi ‘ 

CTHĐ: Tôi mù tịt về đời tư, tác phẩm của ông Lemur Cát Tường, ông J.Leiba; tôi biết đôi chút về đời tư ông TchyA. Tôi được gặp ông vài lần ở Sài Gòn. Năm 1952, hay 1953, tôi là lính trong cái gọi là Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền của Phòng Năm Quân Đội Quốc Gia VNCH. Về sau Phòng Năm là Cục Tâm Lý Chiến. Vì ba gai, tôi bị Thiếu Tá Trần Tử Oai, Trưởng Phòng Năm, tống xuống một Đại Đội Trọng Pháo ở Sóc Trăng. Sống ở thị trấn Sóc Trăng chừng ba, bốn tháng, tôi xoay xở và được về Sài Gòn học Khoá Huấn Luyện Tâm Lý Chiến. Buổi tối tôi vào tiêm á phiện Amy ở đường Boulevard de la Somme – sau năm 1956 là đường Hàm Nghi – Năm xưa ấy việc hút á phiện chưa bị cấm. Anh bạn đưa tôi vào Amy chỉ cho tôi thấy ông quân nhân – bận quân phục – nằm bên bàn đèn, bảo tôi:

“Ông văn sĩ TchyA đấy.”

Đấy là lần thứ nhất tôi được thấy ông TchyA.

Sáng hôm sau trong lớp học, tôi thấy Đại Úy Đái Đức Tuấn quân phục nghiêm chỉnh, vẻ mặt tươi tỉnh, lon lá đàng hoàng, giảng một bài về kỹ thuật chiến tranh tâm lý.

Năm 1956, hay 1957, Văn sĩ TchyA là hội viên Hội Văn Bút Việt Nam – PEN Club – ông đi dự Đại Hội PEN International họp ở Tokyo. Khi về ông nói chuyện về cuộc Đại Hội PEN Tokyo tại trụ sở Hội Văn Bút Việt Nam. Ông cho biết Đại Hội ra lời kêu gọi các nhà văn Âu Mỹ không nên đòi tiền bản quyền những văn phẩm được dịch trong các nước nghèo, viện lý do văn sĩ những nước nghèo không có tiền trả quyền dịch những văn phẩm Âu Mỹ. Đại Hội đề nghị những nhà văn Âu Mỹ cho người thế giới – Thế Giới Thứ Ba, Thế Giới của những quốc gia nghèo, chậm tiến, ở Á châu, Phi châu – được  tự do dịch tác phẩm để phổ biến văn hóa.

Khoảng năm 1964, 1965, dường như ông TchyA – khi đó là hội viên Hội Cựu Chiến Sĩ Quân Lực Quốc Gia VNCH – làm Quản Đốc Nhà Tổng Phát Hành Sách Báo Thống Nhât.
Đây là một đoạn trong một bài Viết ở Rừng Phong năm 2000.

Trích: Năm 1956, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa vừa thành hình, chính phủ do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo, thực hiện ngay việc củng cố vị trí của Quốc Gia trên trường quốc tế. Hội Văn Bút Việt Nam được thành lập và được nhận là hội viên của Hội PEN International, tên Việt là Hội Văn Bút Quốc Tế. Theo như tôi biết — rất có thể không đúng lắm — Sở Nghiên Cứu Chính Trị, Giám Đốc là Bác sĩ Trần Kim Tuyến, thành lập Hội Văn Bút Việt Nam; cấp nhà làm trụ sở Hội, bàn ghế, chi kinh phí cho Hội, cấp tô-lô-phôn, thư ký; vị Chủ Tịch Hội thứ nhất là Nhà Văn Đỗ Đức Thu. Năm 1956 Đại Hội PEN Intern. họp ở Tokyo, Chủ Tịch Đỗ Đức Thu và ông Phó Chủ Tịch Tchya Đái Đức Tuấn, đại diện PEN Viet Nam, đi dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Tokyo. Mọi phí khoản đều do Sở Nghiên Cứu Chính Trị đài thọ. Đại Hội PEN Tokyo có sự tham dự của Nhà Văn Mỹ John Steinbeck, tác giả The Grapes of Wrath, một tiểu thuyết nhiều ông Nhà Văn Việt cho là rất hay. Đi dự đại hội về, hai vị đại biểu cho các hội viên Văn Bút Việt Nam ở nhà biết đại hội có ra một bản đề nghị — đề nghị, lời kêu gọi, không phải là lệnh, không phải là Quyết Nghị — đề nghị “các nhà văn Âu Mỹ đừng đòi tiền bản quyền tác giả với những người dịch tác phẩm của các ông trong những nước nghèo; để phổ biến văn hóa trong những nước nghèo, chậm tiến, bị tàn phá, suy bại vì chiến tranh, xin đừng đòi tiền bản quyền tác giả.”

Tháng Tám năm 2014 khi tôi viết bài này tất cả những vị văn nghệ sĩ có tên trong bài đều đã ra người thiên cổ.

4 Responses

  1. Nhieu nguoi khong thich doc bai cua Hoang Hai Thuy nhu xua nua- vi ong khong viet ve nhung de tai dang”HOT”.

    • “Nhiều người” là bao nhiêu người, thưa ông (bà)? Đôi khi, có những đề tài tuy không “HOT” với mình, nhưng “Hot” với những người khác. Xin cho biết ông hiểu “Hot” như thế nào cơ?

      • Ý ông (bà) Ho Tran: “HOT” là cướp- hiếp- giết chứ gì? Tào lao! Ông không đọc thì thôi, đừng phán bậy bạ nữa. Và cũng đừng lấy suy nghĩ của ông mà gán cho mọi người. Riêng bản thân tôi rất cám ơn những bài viết của Hoàng Hải Thủy, cám ơn công sức của ông đã mang lại cho mọi người.

  2. Gởi ông HO : Muốn “hót” thì ông/bà có thể tìm báo Hà Nội mới, Nhân Dân..nhiều lắm, nhiều lắm. Ở đấy người ta hót vi vu không tả được..hãy tìm đến nhá. Vào trang này ông đọc thì được chứ đừng Ho bậy…xin can !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: