• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

VỢ ÔNG ANH, BÀ BÁN CHÁO

Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh

Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh

Bốn, năm giờ một buổi chiều đầu năm 1976, Cờ Máu Bắc Cộng và ảnh Hồ Già mới vào Sài Gòn chừng bẩy, tám tháng,  tôi trên xe đạp đi trên đường Hiền Vương. Đến khoảng gần Công Trường Dân Chủ, đường Lê Văn Duyệt, đường phố vắng tanh, tôi nghe tiếng sè sè trên mặt đường. Nhìn xuống, chiếc lá khô gió thổi lăn trước bánh xe tôi. Lá cây cao-su, không phải lá phong, lại càng không phải là lá ngô đồng, chiếc lá lăn trên mặt đường phát ra tiếng sè sè như muốn nói với tôi lời gì đó.

Vợ Ông Anh

Vợ Ông Anh

Lúc ấy, trên xe đạp, tôi nghĩ đến câu Thơ Tầu “Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri Thu…” Một lá ngô đồng rơi, mọi người biết mùa Thu đến.

Tôi nghĩ:

“Chỉ một lá ngô đồng rơi. Người ta biết mùa Thu đến. Tại sao 3 triệu người Sài Gòn ngày đêm rên khóc, người thế giới không một ai biết cả?”

Tại sao? Câu hỏi không có câu trả lời.

Năm 1976 Sài Gòn có khoảng 3 triệu người. Không phải chỉ có đường Hiền Vương vắng bóng người mà là cả thành phố Sài Gòn vắng tanh.  Niền Vương vắng người mà là cả thành phố vắng tanh. hà nhà đóng cửa. Chắc 3 triệu người Sài Gòn năm xưa ấy đều có cảm giác như tôi: “Chúng ta bị người thế giới bỏ rơi, và bỏ quên.” Cảm giác bị bỏ quên – với tôi – thật ghê rợn. Và sầu tủi. Không phải buồn, mà là ghê rợn. Hôm nay – buổi sáng một ngày Tháng Chín năm 2014, thời gian qua đã 40 năm, khi viết những dòng chữ này, tôi vẫn có cái cảm giác sầu tủi vì tôi và đồng bào tôi bị người thế giới bỏ rơi, bỏ quên năm xưa ấy.

Tôi hỏi mẹ tôi:

“Năm 1947 nhà mình về làng quê. Mẹ sống ở làng 4 năm, quanh quẩn trong một nhà, chắc những ngày ấy Mẹ buồn lắm. So cái buồn năm xưa ấy với cái buồn hiện nay, Mẹ thấy sao?”

Mẹ tôi nói:

“Năm xưa ở quê cũng buồn nhưng không tuyệt vọng. Bây giờ buồn mà tuyệt vọng.”

Buồn và tuyệt vọng là tâm trạng của người Sài Gòn những năm sau Ngày 30 Tháng Tư 1975. Những ngày đầu Sài Gòn còn ô-tô-buýt, một tối khoảng 6 giờ tôi trên xe buýt từ Sài Gòn về Ngã Ba Ông Tạ, qua trạm đậu xe đường Phạm Hồng Thái, tôi nhìn xuống thấy trên hè phố đầy bóng tối có tới năm, sáu mươi phụ nữ đứng chờ. Họ không chờ xe buýt mà chờ khách mua dâm. Toàn những phụ nữ trẻ trạc tuổi em gái tôi.

Bà Bán Cháo

Bà Bán Cháo

Tôi bước ra, không thấy phố, không thấy nhà

Không thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.

Chỉ thấy hồn bay, dù không có gió,

Thấy mẹ già trong cửa héo hon.

Tôi thấy Em môi nhạt mầu son

Gốc cây Đói, đời buồn đứng đợi.

Thấy chúng ta trong lòng ngục tối

Còn vu vơ kêu gọi Thiên Đường..

Những tin đồn: “Quân ta còn đông lắm. Rằn ri xuất hiện ở Cát Lái. Trực thăng quân ta từ Thái Lan bay về Rạch Giá mỗi ngày. Ta mở cho chúng nó vào để ta diệt chúng nó..” Người Sài Gòn mong ước như thế nên tưởng tượng ra những chuyện như thế. Không phải để nói cho sướng miệng mà là để sống. Rõ hơn: để bám víu vào Sự Sống.

Những năm ấy người Sài Gòn bị đoạn tuyệt với thế giới. Đường liên lạc duy nhất của người Sài Gòn với thế giới – những nước Anh, Mỹ, Pháp. Úc – là qua đài phát thanh.

Hai đài phát thanh được người Sài Gòn đón nghe nhiều nhất những năm sau năm 1975 là Đài VOA và Đài BBC. Những ông bạn tôi gọi Đài VOA là Đài Vợ Ông Anh, Đài BBC là Đài Bà Bán Cháo, Bà Bán Cam, Bà Bánh Cuốn, Bà Bún Chả. Những năm ấy – từ 1976 đến 1980 – Đài BBC được người Sài Gòn đón nghe nhiều hơn Đài VOA. Tôi – những năm không phải nằm phơi rốn trong tù – là một trong số những người Sài Gòn chăm chăm nghe Đài BBC mỗi ngày.

Nghe để xem người thế giới có nhắc gì đến Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà vừa bị tiêu vong hay không, có tin gì có hại cho bọn Bắc Cộng cướp nước, có lời người thế giới chửi rủa bọn Bắc Cộng hay không??

Những ngày xưa, những đêm xưa qua lâu rồi trên dòng thời gian. Tôi chắc không ai có thể nhớ đúng chi tiết những chuyện xẩy ra 40, 50 năm trước. Chuyện thời sự, chuyện đất nước, chuyện những đài phát thanh xưa, không phải những chuyện riêng tư. Nhớ như tôi nhớ chuyện xưa – Tám Bó tuổi đời – như thế này là khá lắm rồi. Nhiều ông bạn Tám Bó của tôi khen tôi:

“Sao mày nhớ hay quá. Nhớ những chuyện năm 1975 đã là hay rồi, mày nhớ cả những chuyện năm 1954.”

Nhớ nhưng tất nhiên không nhớ đúng thời gian, năm tháng, trước sau. Không thể nhớ đúng. Quí vị đọc bài này xin đừng bắt lỗi tôi viết sai thời gian. Tôi viết bài này nhân chuyện Đài Vợ Ông Anh – VOA – tính chuyện trao đổi tiếng nói với Đài Bắc Cộng. Tôi viết góp ý kiến còm cõi của tôi. Viết ngay:

“Đài VOA cần gì phải trao đổi giờ phát thanh với bọn Đài Bắc Cộng. Dân Việt trong nước vẫn chăm nghe Đài VOA, dân Việt ở hải ngoại không một ai thèm nghe Đài Bắc Cộng.”

Từ năm 1954, bọn Bắc Cộng ra luật cấm nhân dân nghe lén những đài phát thanh tư bổn. Ai nghe bị bắt, bị tù. Năm 1980 Luật Cấm này được đăng lại trên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng. Tôi có đọc bản tin ấy. Nhưng bọn Cộng cấm, người dân vẫn cứ nghe những đài BBC, VOA. Với những radio transistor, việc người Sài Gòn nghe những đài phát thanh Âu Mỹ là việc thật dễ làm. Bọn Cộng không thể ngăn được việc người Sài Gòn nghe những lời bà Vợ Ông Anh, Bà Bán Cháo nói mỗi ngày. Bọn Cộng cũng không thể tịch thu tất cả những radio của người dân.

Những năm sau năm 1975, theo nhận xét của tôi, chính phủ Hoa Kỳ có chính sách  “bỏ quên, không nhớ ” Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Đài Vợ Ông Anh tránh không loan tin về Việt Nam. Tin tốt cho VNCS không loan mà tin xấu lại càng không loan.

Nhưng từ năm 1980 Đài Vợ Ông Anh có mục “Âm Nhạc Việt Nam ở hải ngoại.” Mục này do ông Lê Văn có sáng kiến mở ra và phụ trách. Lê Văn Vợ Ông Anh, Đỗ Văn Bà Bán Cháo, là hai cái tên thân thuộc với người Sài Gòn nghe đài phát thanh Âu Mỹ. Nghe mục ”Âm Nhạc Việt Nam ở hải ngoại,” người Sài Gòn biết và bảo nhau:

“Ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn có nữ ca sĩ Nguyệt Ánh khi hát nhạc Việt bận áo dài có Cờ Vàng.”

Người Sài Gòn kể rõ:

“Nữ ca sĩ Nguyệt Ánh là con gái của Đại Tá Nguyễn Văn Y.”

Khi nghe kể chuyện về việc ở Hoa Kỳ, có cô ca sĩ Nguyệt Ánh khi hát nhạc Việt, bận áo dài có Cờ Vàng, tôi thấy ấm lòng, tôi nghĩ:

“Tao ở đây chúng mày cấm tao treo Cờ của tao. Nhưng chúng mày không thể cấm anh em tao ở Mỹ dương Cờ Vàng của Quốc Gia chúng tao.”

Tôi ấm lòng khi thấy anh chị em tôi sang Mỹ vẫn không quên Quốc Gia, không quên Cờ Vàng.

Nhiều người Sài Gòn ưá nước mắt khi nghe lời ca “Món quà cho quê hương” của Việt Dzũng.

“Gửi về cho cha vài thước vải… Cha may áo mặc ra pháp trường..

Gửi về cho anh vài chỉ vàng.. Anh thu xếp tìm đường vượt biên..”

Nhiều người thấy nhói trong tim khi nghe lời ca:

“Sài Gòn ơi.. Tôi đã mất Người trong cuộc đời.

Sài Gòn ơi.. Tôi đã mất Tình Yêu tuyệt vời..”

Nhạc và Lời của Nam Lộc.

Đêm Ba Mươi Tết năm 1976 – có thể là năm 1977 –  nằm bên cái radio Sony rệu rã trên căn gác lửng, tôi nghe Đài Bà Bún Chả truyền lởi một số người Việt ở Âu Mỹ gọi qua đài về cho người thân của họ ở Việt Nam. Tết 1976 nhân viên Việt trong Đài BBC có sáng kiến mời môt số thính giả Việt nói về Việt Nam cho người thân. Tôi nghe lời một thiếu nữ nói với bố mẹ cô qua làn sóng điện BBC. Thiếu nữ này được BBC giới thiệu là người ở Ngã Ba Ông Tạ. Tôi nằm trong một căn nhà nhỏ ở Ngã Ba Ông Tạ, xúc động nghe lời cô:

“Ba Má ơi. Con đang sống ở nước Ý. Con nhớ Ba Má. Ở đây trời lạnh lắm. Tết đến, con thèm được hưởng cái nắng ấm Ngày Tết ở quê hương ta.”

Cô nghẹn lời, cô nói như khóc.

Bà Bán Cháo loan nhiều tin về Quốc Gia VNCH hơn Vợ Ông Anh. Nguyên nhân như tôi đã viết: “Những năm sau năm 1975, chính quyền Mỹ có chủ trương không nói, không loan tin về nước Việt Nam và người Việt Nam.”

Qua Bà Bán Cháo tôi được biết ký giả Nguyễn Thiện Nhơn của Đài. Nếu tôi nhớ tên ông ký giả BBC không đúng, xin bỏ qua. Ký giả Nguyễn Thiện Nhơn làm một phóng sự về người Việt ở hải ngoại. Tôi nhớ hai chuyện ông kể:

* Đến Toronto tôi hỏi chuyện một bà người Việt bán sạp trái cây. Bà hỏi tôi:

“Ông ra nước ngoài mấy năm rồi?’

Tôi trả lời bà:

“Hai mươi năm.”

Bà khóc:

“Tôi mới xa nước hai năm đã muốn chết rồi. Xa nước hai mươi năm, sống gì nổi.”

*  Đến New Orleans, tôi – ( ký giả Nguyễn Thiện Nhơn ) – ngồi trên một xe Police đi thăm thành phố. Ông Cảnh sát New Orleans đưa tôi đến một khu gia cư có mấy nhà người Việt. Ông cho tôi biết ở đây có một bà Việt Nam mấy lần bị những người nhà bên cạnh thưa về tội chửi bậy, chửi tục. Tôi được gặp bà người Việt đó. Bà nói:

“Con tôi bị mấy thằng con Mễ bắt nạt. Tôi sợ gì mà không chửi chúng nó.” Bà chỉ biết có mấy câu chửi tiếng Mỹ, bà dùng những câu chửi ấy mà không biết nghĩa những tiếng tục tĩu trong đó.

Những năm 2000, tôi gặp ký giả Nguyễn Thiện Nhơn ở Virginia. Tôi không có dịp hỏi có phải ông là ký giả Nguyễn Thiện Nhơn Đài BBC những năm 1980? Có phải ông là người kể hai chuyện trên hay không?

Những năm 1980 nhiều người Sài Gòn nghiện nghe chuyện Bà Bán Cam. Tôii là một trong những người nghiện ấy. Mỗi tuần BBC có mục “Tạp Chí Đông Nam Á,” mục này phát thanh trong 30 phút lúc 9 giờ 30 giờ Sài Gòn mỗi tối Thứ Năm. Mục này loan toàn những chuyện liên can đến Sài Gòn. Đang nửa cuộc ăn nhậu đến 9 giờ tối, tôi bỏ cuộc, lên xe đạp về nhà. Nhiều ông bạn hỏi:

“Về làm gì sớm thế. Đang vui.”

Tôi trả lời

“Về nghe Bê Bê Xê.”

Nhiều lần ở cà-phê vỉa hè, quán rượu nghèo ven đường xe lửa. trong tiệm hớt tóc, tôi nghe người Sài Gòn loan những tin như tin này:

“Các nước ký Hiệp Định Paris 1972 về Việt Nam họp lại để tính chuyện trừng phạt bọn Cộng Hà Nội phá hiệp định, xâm chiếm Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.”

Tôi hỏi:

“Tin ở đâu?”

“Bê Bê Xê loan tối hôm qua.”

“Tối hôm qua tôi nghe Bê Bê Xê. Làm gí có chuyện đó.”

Ông Cao Hữu Đính, ông đàn ông tôi, ra Chợ Trời Huỳnh Thúc Kháng chọn mua một radio transistor. Tôi hỏi anh:

“Anh có hai radio rồi. Anh còn mua cái này làm chi nữa?”

Anh trả lời:

“Cái transistor của tôi rệu quá rồi. Tôi cần cái này để nghe Bê Bê Xê cho rõ.”

Khi phải vào cầu tiêu trong giờ BBC phát thanh, anh Đính mang radio transistor theo anh vào cầu tiêu. Anh nhớ từng chi tiết BBC loan để kể lại cho các bạn anh.

Năm 1985 trong Phòng Giam Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan Đăng Lưu, tôi gặp người quen là anh Tám. Anh ở trong một tổ chức Phục Quốc. Mấy ông trong tổ chức này tự phong những cấp Thiếu Tướng, Trung Tướng, Tôi hỏi anh làm gì trong tổ chức, anh nói anh chuyên nghe BBC mỗi tối, ghi nhận tin để báo cáo với ông Thiếu Tướng. Ra toà, ông Thiếu Tướng bị nó phang án tù 20 năm khổ sai, anh bạn Tám của tôi, chuyên viên nghe Đài BBC, bị nó phang án tù khổ sai 5 năm.

Một buổi chiều không nhớ rõ năm tháng, tôi đến nhà ông bà Anh Ngọc trong Cư Xá Lữ Gia. Nhà mở cưả nhưng ông bà không có trong nhà. Con gái của ông bà cho tôi biết ông bà sang một nhà bên cạnh. Tôi đứng lớ ngớ bên xe đạp trước cửa nhà, chưa biết nên đi đâu, thì ông bà về. Ông nói:

“Sang nhà bên cạnh nghe nhờ radio.”

Tôi hỏi:

“Nhà có radio. Sao phải đi nghe nhờ?”

“Radio nhà rệu quá. Có khi bắt không được đài. Radio nhà ông bạn mới toanh, nghe suya lắm.”

Thì ra ông Lê Văn Vợ Ông Anh loan tin vào giờ đó VOA sẽ phỏng vấn Nghệ sĩ Thành Được, người vừa vuợt thoát ở nước Đức. Nhiều người Sài Gòn vào giờ đó đón nghe VOA để được biết đích xác về chuyện Nghệ sĩ Thành Được.

Một sáng tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi mới từ Sài Gòn đến Virginia được khoảng mười ngày, ông bạn Nguyễn Sơn, nhân viên Đài VOA, đưa tôi đến thăm văn phòng Đài ở Washington DC. Tôi được Đài phỏng vấn. Trời lạnh. Tôi thấy năm, bẩy ông bà Mỹ, áo mũ sùm sụp, đứng hút thuốc lá trước cửa vào toà nhà trong có Đài VOA. Tôi thấy đường phố DC có nhiều con sóc chạy qua, chạy lại. Tôi không biết loài sóc sống bằng gì trong thành phố chỉ có những toà công thự và những cây sao.

Đến Đài, tôi được gặp các ông Lê Văn, Bùi Bảo Trúc, tôi gặp lại Ngọc Hoán, người từng một thời làm việc với tôi trong tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Và tôi gặp lại bà Nhung, bà vợ ông Anh Ngọc. Bà Nhung từng dịch nhiều bài cho Tạp Chí Triển Vọng của USIS Saigon – Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở Sài Gòn – Ông bà sang Kỳ Hoa trước vợ chồng tôi khoảng hai, ba năm. Bà vào làm biên tập viên kiêm xướng ngôn viên VOA từ năm 1993 cho đến năm nay – 2014 – bà vẫn ngày ngày đến VOA.

Đài BBC có ông Đỗ Văn. Ông này là một Công Tử Hà Đông. Tên ông là Đỗ Văn Quý, có khi được gọi là Quỹ. Tôi học cùng lớp tiểu học với anh của ông là Đỗ Văn Phú ở thị xã Hà Đông những năm 1944, 1945. Phú đi kháng chiến từ năm 1947. Phú trạc tuổi tôi. Năm nay Tám Bó. Tôi không biết Phú còn sống hay không.

Đỗ Văn và cô Judith Stove  phụ trách chương trình phát thanh tiếng Việt của BBC trong nhiều năm. Nhiều người Sài Gòn thân quen với hai cái tên Đỗ Văn, Judith Stove. Dường như Đỗ Văn, và cô Judith Sove, là hai ký giả truyền thanh Âu Mỹ thứ nhất được bọn Cộng Hà Nội cho phép vào làm phóng sự ở Hà Nội và Sài Gòn. Họ vào Việt Nam khoảng những năm 1988, 1989. Tôi ở tù về, vợ tôi kể:

“Cô Judith Stove Đài BBC nói trên đài: “Nhờ công an Việt Nam, tôi mới biết tôi có mấy cái quần jeans.”

Năm xưa ấy bọn Công An sợ nữ ký giả Judith Stove mang tài liệu vào Việt Nam nên chúng mở va-li xét từng bộ y phục của cô.

o O o

Đoạn văn này tôi viết ở Kỳ Hoa năm 1999.

Tháng Giêng năm 1984 có tin nói về một đài phát thanh chống Cộng mới được phát sóng. Một số người ở miền Trung tình cờ bắt được băng tần của đài này. Tin ấy truyền về Sài Gòn. Giữa tháng Hai anh Cao Hữu Đính và tôi nghe được đài này. Đây là Tiếng Nói của Đài Phát Thanh Kháng Chiến Mặt Trận Phục Quốc Hoàng Cơ Minh.

1984-1999… Mười lăm năm trôi qua thật nặng mà cũng thật nhanh. Đài Phát Thanh Kháng Chiến năm ấy phát thanh năm lần một ngày, mỗi lần một giờ. Đài yếu, rất khó bắt. Người nào có duyên với đài thì may tay có lời, bắt được tiếng nói ngay bất kể máy thu thanh xấu, rệu rã, lão liệt, nhiều người có máy tốt mò đài cả nửa giờ vẫn không ra. Một giờ phát thanh quá dài. Đài Kháng Chiến phát thanh bằng băng thâu sẵn, ba bốn ngày mới thay một băng, tin tức không có, gần như phát toàn những bài viết đả kích cộng sản.

Vợ chồng tôi phấn khởi đón, tìm nghe đài, chúng tôi xúc động khi nghe nhạc hiệu của đài, bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” – nhạc, lời ca thật hay nhưng chúng tôi đã lãng quên cùng năm tháng – chúng tôi muốn đứng tim khi nghe Thái Thanh hát bài “Quê Em… Quê em miền trung du… Đồng quê lúa xanh rờn… Giặc tràn lên cướp phá… Anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê… Giặc tan đón em về…”

Năm ấy Thái Thanh đang sống ở Sài Gòn. Người ở đây nhưng tiếng hát của người lại ở một nơi nào xa lắm vọng về. Nghe tiếng hát Thái Thanh trên làn sóng Đài Phát Thanh Kháng Chiến tôi nghĩ đến những cái gọi là giả chân, chân giả của cõi đời này. Rõ ràng là tiếng hát của Thái Thanh nhưng lúc đó Thái Thanh đâu có hát.

Một tối lúc 11 giờ đêm, tôi mở nghe đài Kháng Chiến. Cái radio Sony mười lăm, mười sáu tuổi đời – nó đến với tôi khoảng năm 1966, 1967 – nằm bên tôi trên căn gác lửng, nhưng Alice nằm tình tang trên cái võng treo ở dưới nhà lại nghe được tiếng nó rõ hơn tôi. Nguyên nhân là hệ thống truyền âm trong căn nhà nhỏ của chúng tôi hết sức ly kỳ. Đêm ấy vợ chồng tôi cùng nghe một bài bình luận viết về các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Đại ý của bài này là trước 1975 văn nghệ sĩ miền Nam có cái lỗi là đã không tích cực chống Cộng, nhưng sau 1975 văn nghệ sĩ miền Nam có cái hay là không một người nào cộng tác với Việt Cộng.

Và đây là nguyên văn một lời trong bài bình luận ấy tôi nghe và nhớ mãi:

“… Trong năm 1983 chúng ta được đọc văn thơ chống Cộng của Hoàng Hải Thủy, Hoàng Cầm, Nguy­ễn Chí Thiện…”

Tôi bồi hồi xúc động với những cảm giác vui lo. Tôi được kể tên trước Hoàng Cầm, thi sĩ tôi rất ái mộ, văn nghệ sĩ đàn anh của tôi. Hết giờ phát thanh tôi lọ mọ đi xuống gác, nói với vợ tôi:

– Em nghe rõ đài nói đến tên anh không? Chắc chúng nó phải bắt anh thôi, chúng nó không để anh yên đâu.

Vợ chồng tôi chẳng can đảm gì hơn ai, nhưng chúng tôi không sợ hãi khi biết chắc tai họa tù đầy lại sắp đến. Truớc đó 6 năm, bọn Công An Thành Hồ đã đến căn nhà nhỏ này của chúng tôi, còng tay tôi đưa đi tù hai năm.

Nhiều người quen tôi nghe Đài Phát Thanh Kháng Chiến nói đến tên tôi. Một sáng anh Nguyễn Văn Đạt, anh là Trung Tá, đi tù khổ sai ở miền Bắc về năm 1980, trên chiếc xe đạp mini, đến nhà chúng tôi. Vợ chồng tôi tiếp anh vài phút ở cửa. Anh nói:

“Tôi đến chào từ biệt anh.”

Anh nói với vợ tôi:

“Chị làm vợ một người chồng có tài. Chị phải chịu cái tai của anh ấy.”

Sáu năm sau, khi tôi trở về Sài Gòn, anh Đạt đã qua đời.

Khi bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi lần thứ hai ồ đến nhà bắt tôi lần thứ hai. Cũng như lần trước, khi tôi ra khỏi nhà, vợ tôi ở lại nhà một mình. Lần này tôi nói hai câu cuối cùng với vợ tôi:

“Anh yêu Em.”

“Anh sẽ về với Em.”

Trên xe đi đến Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu – Phải viết tôi trở lại Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu mới đúng – tôi ngồi băng sau, giữa hai anh công an. Một anh hỏi tôi:

“Anh có nghe Đài Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh chứ?’

Tôi trả lời:

“Có.”

“Anh có thấy đài nói đến anh không?”

“Có.”

“Mấy hôm nay ành còn nghe được đài ấy không?”

Đài đã bị phá sóng. Tôi trả lời:

“Không.”

Tôi trở về Cư Xá Tự Do, và về trong vòng tay gầy của vợ tôi, đầu năm 1990. Năm 1993 tôi được tin ODP cho vợ chồng tôi sang Hoa Kỳ. Chúng tôi được ông bà Anh Ngọc gửi cho tấm ảnh ông bà trên một thảm cỏ ở Virginia. Cỏ xanh, đầy lá vàng. Cảnh quá đẹp. Tôi nói với vợ tôi:

“Chúng mình đến Virginia nhé.”

Cùng lúc, tôi nghe Đài VOA phỏng vấn Bà Khúc Minh Thơ, Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam. Bà Khúc Minh Thơ ở Virginia. Chúng tôi nhờ bà bảo lãnh. Tới Tháng Mười Một năm nay – 2014 – vợ chồng tôi đã sống ở Virginia 20 năm.

Dòng Thời Gian dài một ánh bay.
Những Ngày như Lá, Tháng như Mây.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: