• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

THƠ và CHUYỆN

bia3

Chuyện đây là chuyện về những người làm Thơ.

Từ những năm 1950, đọc sách báo, tôi đã biết đến tác phẩm Tùy Viên Thi Thoại cuả Viên Mai. Nhưng tôi chỉ được nghe chuyện loáng thoáng. Kể cả những ông năm xưa ấy viết về Tùy Viên Thi Thoại cũng chẳng biết gì nhiều về tác phẩm này. Lý do: Tùy Viên Thi Thoại không được dịch ra chữ Việt.

Dâng lên một chén mời Trời. Đưa ra một chén để mời Vầng Trăng.  Thơ Nguyễn Đức Liêm.

Dâng lên một chén mời Trời.
Đưa ra một chén để mời Vầng Trăng.
Thơ Nguyễn Đức Liêm.

Trong 20 năm – từ 1954 đến 1975 – Tùy Viên Thi Thoại không được dịch trong Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Năm 2007 con tôi tìm mua được cho tôi tập Tùy Viên Thi Thoại mới xuất bản. Người dịch là Trương Đình Chi. Trong lần xuất bản này sách chỉ in 500 cuốn.

Tôi vẫn nghĩ “Lộc không nên hưởng một mình. Văn lại vàng không nên.” Tôi đọc, tôi trích một số đoạn trong Tùy Viên Thi Thoại mời quí vị cùng đọc.

Viên Mai, tác giả Tùy Viên thi Thoại, sống đới Vua Khang Hy, ông chỉ trích và bình thơ của những người sống cùng thời với ông. Tôi thấy phần Thơ không mấy hay, riêng phần Thoại – những chuyện viết về đời từ, cá tính những thi sĩ, những trường hợp, hoàn cảnh bài thơ được làm, là lạ và đáng kể. Mời quí vị đọc.

Đây là bài Tưạ của Tùy Viên Thi Thoại:

* Đàn Mặc Trai viết tập Sở Đình Bại Châu Lục và tự đề tựa, có đoạn viết:

“..Có người đi chơi vùng Nam Hải, bắt được con kiến dài chừng một thước, anh ta ướp muốn con kiến để mang về cho mọi người cùng xem. Tô Đông Pha ăn món sò ngon ở đây, dặn con đừng nói cho ai biết, e những vị công khanh sẽ tìn ra Nam Hải ăn tranh mất món sò ngon này. Tôi viết tập này như người đem con kiến lạ khoe mọi người, không bắt chước thói tham miếng ăn ngon như Tô Đông Pha, dấu món ngon sợ người ta ăn mất.”

CTHĐ: Tô Đông Pha không chỉ không được ca tụng trong tập Thi Thoại này. Trái lại,Thơ của Tô bị chê là không có gì xuất sắc, không có chiều sâu, con người Tô bị chê là tham ăn, nhỏ mọn. Tôi théc méc: Tô nói chuyện ăn sò với con của Tô, ai nghe được lời Tô nói.

* Mi họa: Vẽ lông mày. Trương Sưởng làm chức Kinh triệu doãn đời Hán Tuyên Đế, tuy có tài nhưng thiếu nghiêm trang, thường vẽ lông mày cho vợ trước khi đi làm. Quan hữu tư tấu hặc, vua trách hỏi. Xưởng tâu:

“Thần thấy trong khuê phòng còn lắm việc tệ hơn chuyện vẽ lông mày.”

CTHĐ: Từ ngàn năm trước, phụ nữ Tầu đã làm việc nhổ lông mày và dùng mực vẽ lông mày. Tôi théc méc khi thấy ngày xưa các Vua Tầu xét nét đời tư của các quan quá kỹ.

* Đường Thanh Thần có bài thơ:

Bất đệ viễn qui lai

Thê tử sắc bất hỷ.

Hoàng khuyển cáp hữu tình

Đương môn ngọa dao vĩ.

Thi trượt, từ xa về. Sắc mặt vợ con đều buồn. Con chó vàng thế mà có tình, đón ở cửa, vẫy đuôi mừng.

* Kim Thánh Thán chuyên phê bình tiểu thuyết nên ít người biết tài làm thơ của ông. Ông là tác giả một số bài thơ rấy hay, như một bài tả cảnh ngủ trọ ở một dã miếu:

Chung hưởng tiệm dĩ tịch

Trùng ư Phật diện phi

Bán song quan dạ vũ

Tứ diện quải tăng y.

Mọi tiếng động đã im, côn trùng bay trước mặt Phật. Cửa sổ nửa khép vì mưa đêm. Bốn mặt tường áo sư treo đầy.

* Năm tôi làm chức Tể ở thành Giang Ninh – lời Viên Mai –  có tên con trai họ Tièn mua vợ của tên họ Trương làm vợ lẽ. Hai  bên thuận giá, nhưng tên Trương cứ khất lần không chịu giao vợ. Tên Tiền làm đơn thưa quan. Tôi hỏi cung thì thấy tên Trương là phu đào mỏ than, mặt mũi đen sạm, con vợ nó có nhan sắc, yểu điệu. Tên Tiền đẹp trai mà lại biết làm thơ. Tôi nghĩ hai đưá mà thành vợ chồng thì thật đẹp đôi, như duyên trời định. Nhưng nếu tôi xử cho hai đưá lấy nhau thì trái luật lệ. Tôi bèn cho bán mỏ than để tên Trương phải đi kiếm ăn nơi khác. Có kẻ nha dịch hiểu ý quan, bầy kế cho tên Tiền mua mỏ than. Rồi ngày tháng qua, tôi quên vụ đó.

Hơn mười năm sau tôi đi chơi núi Nguư Đầu, thấy bên đường có cặp vợ chồng cùng ba trẻ nhỏ, thắp hương, quì chào lậy tôi. Tôi dừng lại xem thì người chồng là anh Tiền. Anh kể:

“Được quan tác hợp, chúng tôi thành vợ chồng. Khi vợ cả tôi chết, Trần thị đây thành vợ chính của tôi. Ba đưá trẻ này là con chúng tôi. Vợ chồng tôi được biết hôm nay ngài đi qua đây chúng tôi đến cám ơn ngài.”

CTHĐ: Ngày xưa Quan Tầu nắm cả hai quyền: hành pháp, tư pháp.

* Tạ Thương Mi, người Tô Châu, suốt đời làm mặc khách. Ông có câu thơ mà ông đắc ý là:

Duy hữu hương tâm tiêu bất đắc

Hựu tùy nhất nhạn lạc Giang Nam.

Chí có nỗi nhớ quê là không thể mất.

Lại cùng chiếc nhạn xuống Giang Nam.

* Thơ Tống

Khuyến quân mạc não mấn mao ban

Mấn đáo ban thời dã tự nan.

Đa thiểu chu môn niên thiếu tử

Bị phong suy thượng Bắc Mang sơn.

Khuyên người đừng buồn vì mái tóc người điểm trắng. Có được mái tóc điểm trắng cũng rất khó. Bao nhiêu thiếu niên quyền quí đã bị gió đưa lên nghĩa trang núi Bắc Mang.

* Sách Bát Loại Sao ghi đời Tống, có chuyện cho mượn vợ:

“Ông Trần và ông Phan làn quan cùng triều, bạn thân nhau, Ông Trần than;

“Tôi với bác ngang chức nhau, tuổi cũng ngang nhau. Bác có mấy đưá con trai, tôi chẳng có đưá nào.”

Ông Phan nói:

“Tôi có người thiếp đã sinh hai đưá con trai. Tôi cho bác mượn. Khi bác có con trai thì xin trả lại tôi.”

Người thiếp của ông Phan đuợc đưa sang nhà ông Trần. Bà này sinh cho ông Trần một con trai, đặt tên là Trần Liễu. Được trả về cho ông Phan, bà sinh cho ông Phan một trai, đặt tên là Phan Quí. Trần Liễu và Phan Quí cùng trở thanh hai vị danh nho nổi tiếng một thời.  Chuyện này được người đời cho là giai thoại. Mà kể ra các vị hiền giả đời Tống như ông Trần, ông Phan, thật là rộng lượng và đạt lý.

CTHĐ: Đàn bà Tầu đời xưa không có nột chút giá trị gì cả. Chắc không ở đâu trên trái đất có chuyện “cho mượn vợ” như ở đất Tầu,

* Thái Thú Cao Nam Phu có bài thơ vịnh chuyện “Cho mượn vợ”::

Tặng thiếp sinh nhi cổ nhân hữu

Nhi sinh hoàn thiếp cổ nhân vô

Tống hiền khoát đạt cánh như thử

Ký ngữ nhân gian tiểu trượng phu.

Viên Mai bình luận: Người xưa tặng thiếp cho bạn để ngươi thiếp sinh con cho bạn thì có, nhưng người thiếp sinh con cho ông bạn rồi trở về nhà chồng cũ thì từ xưa chưa thấy. những ông nho hiền đời Tống đã làm việc đó. Hạng người thường hãy nhìn vào đó.

Tặng thiếp sinh con xưa đã có.

Sinh con, trả thiếp, chuyện xưa không.

Người hiền đời Tống làm như thế.

Cho bọn tầm thường được ngóng trông.

Tập Đông Hán Độc Hành Truyện có chuyện người tên là Nghiêm Vĩ, tránh cuộc loạn Vương Mãng, giả làm người thanh manh, vợ ông ăn nằm với trai ngay trước mặt mà ông coi như không biết.

* Thơ của Trần Kiến Phúc:

Hà tất tha sinh định hội kỳ.

Tương phùng tức tại mộng lai thì.

Ô đề, nguyệt lạc, nhân hà xứ!

Hựu thị nhất phiên tân biệt ly.

Không cần hẹn gặp lại nhau ở kiếp sau. Ta gặp nhau ngay trong mộng khi ta ngủ. Khi quạ kêu, trăng lặn, người đâu thấy. Thế là lại thêm một lần biệt ly.

Thơ H2T:

Cần gì hẹn gặp nhau kiếp sau.

Trong mộng đôi ta gặp nhau.

Quạ kêu, trăng lặn, Em ở đâu?

Ta lại biệt ly, Anh lại sầu.

* Đổng Nguyên Kính mua được một nghiên mực. Cạnh nghiên có đề bài thơ:

Tự hữu hồng quán nhật,

Cánh vô khách nhập Tần.

Khả lân Dịch Thủy thượng,

Sầu sát bạch y nhân.

Tuy mặt trời có vầng khí đỏ bao quanh, nhưng không có vị khách nào vào nước Tần. Đáng thương trên bờ sông Dich, người áo trắng buồn muốn chết.

* Viên Mai: Tôi đọc sử thấy chép: Mạnh Hạo Nhiên làm thơ rất vất vả, đến nỗi lông mày bị rụng hết. Vương Duy vừa đi vừa nghĩ vần thơ, bị ngã vào vại dấm. Ngày nay ta đọc Thơ của hai vị, thấy lời Thơ nào cũng thanh thoát, đẹp như y phục của thần tiên, không có vết nối, đường khâu. Hai vị học rộng, biết nhiều nhưng khi làm Thơ không dùng đến những hiểu biết ấy.

* Có ông lão làm nghề đóng, ghép thùng gỗ. Khi ông về già, anh con ông bỏ đói ông. Con ông sinh con trai, ông già thương cháu bồng bế nó cả ngày. Có người hỏi ông:

“Bố thằng nhỏ này bỏ đói ông. Ông thương nó làm gì?”

Ông lão làm bốn câu thơ:

Tằng ký đương niên dưỡng ngã nhi,

Ngã nhi kim hựu dưỡng tôn nhi.

Ngã nhi ngạ ngã, bằng tha ngạ,

Mạc khiến tôn nhi ngạ ngã nhi.

Thường nhớ những ngày ta nuôi thằng con ta. Con ta nay nuôi cháu ta. Con ta nó bỏ đói ta thì mặc nó, ta mong cháu ta không bỏ đói con ta.

* Lòng yêu thương của người con gái thường ngả về chồng, xưa nay vẫn thế. Vào khoảng đời Tần, Nam Việt là một bộ lạc Mán rất mạnh. Họ rất tài bắn nỏ, mỗi mũi tên bằng đồng họ bắn ra có thể giết chết đến mươi người. Triệu Đà lấy làm lo. Nhân Nam Việt Vương có con gái là nàng Lan Châu. Nàng có sắc đẹp lại biết cách chế nỏ. Triệu Đà bèn hỏi cưới Lan hâu cho con trai mình và cho con sang Nam Việt ở rể.

Ba năm sau chàng rể học được cách chế nỏ của dân Nam Việt, bỏ trốn về nước. Triệu Đà cũng có nỏ lợi hại như nỏ của quân Nam Việt, bèn cho quân đánh, bắt sống được ua am Việt. Việc này chép ở sách Việt Kiêu Chí; tôi – (Viên Mai) – bèn vịnh rằng:

Triệu Vương phụ tử khai biên giới

Lai chủng Lan Châu nhất đóa hoa.

Đồng nỗ tam thiên tùy tế khứ,

Nữ nhi tâm thái vị phu gia.

Cha con Triệu Vương mở bờ cõi nhờ gây được một đóa hoa là nàng Lan Châu. Ba ngàn cây nỏ đồng mất theo chàng rể, lòng người con gái vẫn nghiêng nặng về bên chồng.

CTHĐ: Đây là chuyện Mỵ Châu-Trọng Thủy của ta. Chỉ khác tên nhân vật.

* Hoa Nhụy phu nhân, vương phi của Mạnh Sưởng, vua nhà Hậu Thục. Nàng có tài văn chương, là tác giả của cả trăm bài thơ. Nhà Hậu Thục bị diệt, nàng trở thành một cung phi của Tống Thái Tổ. Đây là bài thơ nàng vịnh Nhà Hậu Thục mất:

Quân Vương thành thượng thụ hàng kỳ.

Thiếp tại thâm cung ná đắc tri.

Thập tứ vạn nhân tề giải giáp,

Ninh vô nhất cá thị nam nhi.

Trên thành quân vương cắm cờ hàng. Thiếp tại thâm cung nào có biết gì. Mười bốn vạn người đều cởi giáp. Không có người nào đáng gọi là đàn ông.

CTHĐ: Cảm khái cách gì.

* Cố Mục Vân đến Long Trung thăm di tích của Vũ Hầu Gia Cát Lượng. Gặp trời mưa, vào tránh mưa ở Ngoạ Long Cương. Gặp một cái am cỏ bên đường, một ông già trong am ra đón Cố, mời Cố vào am dùng trà. Đang ngồi nói chuyện, Cố nhìn lại thấy con hổ ngồi ngay cửa am. Cố sợ ngã ngửa. Ông già đỡ Cố ngồi lên, cười nói:

“Khách đừng sợ. Con hổ này đã quy y, nó là đồ đệ của lão.”

Ông già lại nói:

“Biết ông hay thơ. Ông cho vài câu tặng lão, lão cám ơn.”

Cố từ chối, nói vì mắt kém, viết chữ khó khăn. Ông già đưa cho Cố mấy củ khoai luộc, bảo Cố ăn, rồi bảo Cố nhắm mắt, ngồi yên. Lúc sau Cố mở mắt, thấy sáng rỡ, nhìn rõ mọi vật. Cố kinh ngạc, thán phục, bèn làm bài thơ:

Nhất  y, nhất bát, nhất quân trì

Vân thủy, thiên nhai nhậm sở chi.

Mạc tiếu đạo nhân vô bạn lữ

Tân thu mãnh hổ tác đồng nhi.

 

Ngẫu hướng sơn tiêu chú độc long

Phong lôi dục bạt vạn chu tùng

Tu du minh nguyệt đương không khởi

Qui đáo mao diêm đả vãn chung.

Một áo, một bát, một bình nước; mây nước, chân trời muốn đi đâu thì đi. Chớ cười ông đạo không có bạn, ông mới thu được con hổ dữ làm tiểu đồng.

Có hứng lên đầu núi dùng phù chú trừ con rồng độc. Gió sấm ầm ầm nổi như muốn lật đổ ngàn vạn cây thông. Một lúc sau trăng lại sáng tỏ trên trời. Người về am cỏ đánh chuông chiều.

Ông già giữ Cố ngủ lại am một đêm. Khi chia tay, ông nói với Cố:

“Tháng Giêng sang năm, ngày thứ nhất của tháng, ta mở kho thuốc bố thí chúng sinh. Đúng ngày ấy anh lên đây, ta sẽ cho anh thứ thuốc khiến thấn thể anh nhẹ nhàng, anh có thể tu luyện thành tiên. Đừng quên lời ta dặn.”

Ngày đầu Tháng Giêng, Cố lên núi, nhưng vừa tới chân núi thì  gặp bão tuyết. Tuyết trắng rừng, trắng núi, che lấp đường mòn lên núi. Cố sợ ông đạo không cón ở đó, mò lên gặp cọp thì nguy, nên quay về. Sau đó vài năm, mắt Cố mờ đi, thân thể suy yếu. Cố hối hận đã không làm theo lời ông đạo, bèn làm bài thơ.

CTHĐ: Tôi không trích bài thơ chữ Hán của Cố. Đây là ý Thơ:

Tuổi già thật đáng than thở, biết tìm đâu thuốc tiên để giữ nét mặt son trẻ. Tuổi già nhiều phiền não, ngũ quan còn đủ nhưng không còn cái nào hoạt động tốt. Tàn tạ như hoa quá thời, gầy ốm khác gì thân cỏ sau đêm đông sương phủ. Tay run, đầu choáng, đi lẩy bẩy không cất được chân lên. Tự giận dung mạo mình thay đổi, người ta ghét tính tình mình lệch lạc. Ôi chao..Ta nay tám chục mà đã như thế này, buồn thương biết bao những ông thần tiên sống cả ngàn tuổi ở Bồng Lai.

* Lời Viên Mai: “Con tằm ăn lá dâu nhưng khi nhả ra là tơ, không phải là lá dâu. Con ong hút nhụy hoa nhả ra mật.”

* Giang Hạp Nhiên cho biết đây là bài thơ của một thiếu phụ gửi cho chồng. Mời đọc lời dịch bài thơ:

Thiếp năm mười lăm tuổi được hứa gả cho chàng. Năm muời bẩy tuổi làm lễ vu qui mới biết mặt chàng. Gió xuân phảng phất, đôi ta lưu luyến nhau. Nhưng vui với nhau được nửa năm đôi ta phải chia ly. Núi sông xa cách ngàn dặm, bát ngát sóng biếc. Người bên sông Ngân Hà mỗi năm còn được gặp nhau một lần. Còn thiếp thì li bì đau yếu, nay đã gần cõi chết. Thiếp hận chưa sinh được con cho chàng. Nếu chàng nghĩ đến tình của thiếp thì em gái của thiếp đã trưởng thành, chàng nên nối lại dây đàn với em của thiếp. Việc đời đều được định trước, muốn gửi ngọc minh châu cho người thương ở xa để hẹn ước kiếp sau ta sẽ lại là vợ chồng.

CTHĐ: Sắp ra khỏi cuộc đời, dặn chồng : “Lấy em gái em làm vợ.” Người vợ như bà nhà thơ này là Number One.

* Lý Ngọc Châu tiên sinh nói:

“Người làm thơ phải đọc sách nhiều, trong tâm phải có ngàn vạn quyển sách Thơ mới có Thần. Lời Thơ có những ý giống ở sách, có những ý chẳng theo sách nào. Người làm thơ không biết mà người đọc thơ cũng không biết. Như thế có thể gọi là thực chất của Thơ.

Cùng là nhạc khí, đàn sắt mà gẩy thì gọi là cổ (khua, gõ,) gẩy đàn cầm thì gọi là thao (dượt, phô.) Đỗ Phủ có câu: “Quần sơn, vạn hác phó Kinh Môn.” Nếu ta đổi chữ quần (đàn, bọn ) thay bằng chữ thiên (một ngàn ) thì câu thơ bị mất âm điệu. Tuy hai chữ nghĩa gần như nhau nhưng chữ dùng khác đi lời thơ sẽ khác hẳn.

* Thường nói “Phụ nữ không nên làm thơ. Nói như vậy là quê, nông cạn. Đức Khổng lấy thơ Quan Thư, thơ Cát Đàm, thơ Quyên Nhĩ đặt lên đầu ba trăm thiên Kinh Thi. Người làm những bài thơ đó là phụ nữ.”

* Có người đem tập thơ của một vị quan lớn đến đưa tôi, ngỏ ý muốn tôi trích vài bài cho vào Thi Thoại. Tôi xem, thấy mệt, buồn ngủ. Tôi nói với người đem Thơ:

“Thơ rất thanh tao, già dặn, có công phu, nhưng chê là dở thì  không có lời nào chế được, trích cũng không có câu nào trích được. Rất tiếc.”

* Các vị quan võ mà hay về văn chương, đó là biểu hiện của thời thái bình thịnh trị. Tôi đi chơi núi Qúi Trì Tề thấy trên núi có bài thơ của Nhạc Vũ Mục – Nhạc Phi – Thơ khắc lên vách đá:

Niên lai trần thổ mãn chinh y

Ngẫu đắc nhàn ngâm thướng thúy vi.

Hảo thủy, hảo sơn khan bất tận,

Mã đề thôi sấn nguyệt minh qui.

Lâu nay bụi bám đầy áo chiến, được lúc nhàn lên đỉnh cao ngâm thơ. Sơn thủy đẹp ngắm hoài không chán, vó ngựa đuổi theo trăng sáng mà về.

* Mùa đông năm Nhâm Tý, tôi qua đất Hoài, trên tiệc rượu, được nghe Tư Mã Nghiêm Đình đọc mấy bài thơ của Tướng quân Tôn Sĩ Nghị khi cầm quân chinh phạt phương Nam (Việt Nam.)

Loan thành khâm đối tiếp trùng dương

Thượng hạ tư văn cảnh vật hoang

Dần vụ giao diên công yểm nhật

Đinh nam nha chủy quán canh sương

Nhập vân bản động bàn thiên chiết

Giáp đạo ông đồ võng tứ trương

Tối thị mã tiền phiền ủy lạo

Tân lang mãn hạp đáng hồ tương.

Vành đai bao bọc vùng Loan Thành tiếp giáp với biển. Từ trên xuống dưới việc văn học và cảnh vật đều tan hoang. Từ giờ Dần sương mù dầy trắng như dãi rồng che phủ mặt trời, trai tráng dùng cái cày như mỏ quạ đi cày từ lúc còn sương mù. Các bản, các động lẩn trong mây quanh co trăm ngàn dặm. Trên đường những ông đồ ngồi võng đi qua. Rất phiền là trước ngựa luôn luôn phải ủy lạo mọi người, cau trầu để đầp hộp thay cho hũ tương.

CTHĐ: Trong bài thơ trên có hai chữ tiếng Việt “Ông đồ.”

* Xưa thường có những bậc khuê các có thi tài tuyệt diệu. Ngày nay thấy có quá ít. Khi tôi giữ chức Tể – tri phủ – ở Giang Ninh, có cô gái tên là Uyển Ngọc, bỏ nhà chồng ở Sơn Dương trốn đi, đến tu trong một ngôi chùa ở bản hạt. Nhà chồng đệ đơn xin truy nã. Phùng Lệnh Doãn ở Sơn Dương gửi thư nhờ tôi truy tầm. Uyển Ngọc bị bắt. Khi nàng sắp bị giải về Sơn Dương, nàng phải đến phủ đường lãnh giấy. Nhân đó nàng dâng tôi bài thơ:

Ngũ Hồ thâm xứ tố hình hoa

Ngộ nhập Hoài Tây cô khách gia.

Đác ngộ Giang Châu Bạch Tư mã

Cảm tương u oán tố tỳ bà.

Vốn là một đóa hoa thơm ở Ngũ Hồ xa sôi. Chẳng may sa vào nhà anh lái buôn ở Hoài Tây. Nếu may mà gặp quan Tư Mã họ Bạch, ta dám đem nỗi oán hận thầm kín gửi vào tiếng đàn tỳ.

Tôi đọc thơ, ngờ có người làm hộ. Nàng xin phép được làm thơ ngay trước mặt tôi. Tôi chỉ cái cây đã rụng hết lá ở sân sảnh đường mà bảo nàng vịnh. Nàng thưa:

“Quan đã cho phép kẻ tiện tỳ này làm thơ, xin cho giấy bút và chỗ ngồi. Không lẽ tiện tỳ phải quì dưới đất mà làm thơ.”

Tôi y lời, cho nàng giấy bút và án viết. Nàng làm bài thơ:

Độc lập không đình cửu

Tiêu tiêu hướng thái dương

Hà nhân năng thủ thực

Di tác hậu đình phương.

Một mình đứng giữa sân đã lâu ngày, sớm sớm ngóng ánh thái dương. Ai người có thể ra tay đem trồng lại, dời vào sân sau thành một cây hoa làm cảnh.

Ít lâu sau quan Lệnh doãn họ Phùng ở Sơn Dương sang thăm, tôi hỏi ông chuyện nàng Uyển Ngọc, ông nói:

“Việc người phụ nữ ấy bỏ chồng không đáng bị tù, dòn, lại thêm người phụ nữ có tài sắc, biết làm thơ,  mà lấy phải anh chồng lái buôn quê kệch thì cũng đáng thương, nhưng xử cho chị ta ly dị cũng không được. Tôi tha về cho họ thu xếp với nhau.”

Tôi hỏi:

“Sao ông biết nàng có tài làm thơ?”

Ông đáp:

“Nàng dâng tôi bài thơ:

Khấp thỉnh thần minh tể

Dung nô phản cố hương

Tha thời hóa Thục điểu

Hàm kết đáp quân bằng.

Khóc xin quan Tể sáng suốt như thần, tha cho kẻ hèn mọn này được về quê cũ. Sẽ xin hóa ra chim đất Thục, ngậm vành, kết cỏ để báo đáp.

* Tổng Đốc Cát Lễ lấy bài thơ của Trần Thương Châu, cho là có ngôn từ phỉ báng Vua, làm sớ tấu dâng lên Vua Khang Hy. Vua đọc, phê:

“Thi nhân thường dùng lời bóng bẩy để ký thác ý tình. Lẽ nào ta lại cố ý bắt bẻ và ghép tội họ.”

Trần Thương Châu khi đó đã bị Tổng Đốc Cát Lễ bắt giam. Nhờ Vua Khang Hy, nhà thơ được phục chức, thăng chức, và điều đi làm việc ở nơi khác.

CTHĐ: Hoan hô Khang Hy.

2 Responses

  1. … “Tôi théc méc: Tô nói chuyện ăn sò với con của Tô, ai nghe được lời Tô nói.”

    CHÍ LÝ !

    * Mi họa: Vẽ lông mày. Trương Sưởng làm chức Kinh triệu doãn đời Hán Tuyên Đế, tuy có tài nhưng thiếu nghiêm trang, thường vẽ lông mày cho vợ trước khi đi làm. Quan hữu tư tấu hặc, vua trách hỏi. Xưởng tâu:

    “Thần thấy trong khuê phòng còn lắm việc tệ hơn chuyện vẽ lông mày.”
    Tôi théc méc khi thấy ngày xưa các Vua Tầu xét nét đời tư của các quan quá kỹ.

    CÓ BẢN KHÁC GHI: “TRONG CHỐN KHUÊ PHÒNG CÒN NHIỀU CHUYỆN HAY HƠN VẼ LÔNG MÀY” … VUA NGHE XONG CƯỜI VÀ THA TỘI.

    HÌNH NHƯ THỜI NÀO CŨNG CÓ QUAN BỊ XÉT NÉT, CÓ QUAN KHÔNG BỊ …

  2. GÕ’i Hoàng huynh tiêu? sû’ cua? cu. Du’o’ng Khuê, dê cûng thác mã’c không biêt’ Hoàng huynh có phäi là trong ho hàng cua? cu. không ?
    http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_Khu%C3%AA

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: