• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

THÉC MÉC MÙA THU

Sổ Xố Mỹ: Không cần mua vé số, chỉ cần ghi tên, nếu trúng số độc đắc người trúng sẽ đưọc chi mỗi tuần 10.000 đô đến trọn đời?

Sổ Xố Mỹ: Không cần mua vé số, chỉ cần ghi tên, nếu trúng số độc đắc người trúng sẽ đưọc chi mỗi tuần 10.000 đô đến trọn đời?

Chín giờ sáng ngày 30 tháng 10, 2014, thấy những tin trên Internet:

– NewYork: con trai chặt đầu bà mẹ, lôi xác ra đường, tự sát.

– Việt Nam: Thêm một người treo cổ trong phòng giam trụ sở Công An. Trong năm 2014, tính tới tháng 10, có 14 người Việt bị bắt giam tự tử trong những trạm công an.

– Heo rừng cắn chết một phụ nữ ở Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Người viết ở Rừng Phong không mong đọc được những tin vui trên Internet; trong mấy tháng dài những tin bọn khủng bố cắt cổ nạn nhân, tin có ảnh đi cùng, tin phi cơ mất tích, tin phà chở người bị chìm, mỗi tai nạn làm chết đến ba trăm, bốn trăm người, tin những thiếu nữ bị bắt cóc, bị giết, xác bỏ trong bụi cây, chân cầu, miệng cống ..v..v..làm trái tim người đọc trầm xuống.

Sáng hôm nay, tin:

– Ông bà Mỹ ở Michigan đã có 12 con trai. Nay bà có bầu, ông bà mong sẽ có cô con gái.

Tin trên làm tôi nhớ một chuyện xẩy ra ở Sài Gòn Xưa – dường như vào khoảng những năm 1970 – ông bà – dường như chủ tiệm vàng – ở bên chợ Tân Định, đã có 12 cô con gái. Nay bà có bầu, ông bà mong sinh cậu con trai. Dường như lần này ông bà có cậu con trai. Tin vui này được đăng trên nhật báo Chính Luận. Tôi đọc tin ấy trên báo.

Năm 1970 Sài Gòn, năm 2014 Arlington, Virginia. Ba mươi tư mùa sầu riêng đi qua cuộc đời, chuyên viên phóng tác tiểu thuyết ở vào tuổi trung niên năm ấy – mái tóc bạnh kim – nay là ông già còm cõi, khuôn mặt in hằn những vết roi đời, mái tóc năm xưa 100.000 sợi nay còn 100 sợi, nếu quên chuyện xưa, nếu kể không đúng chuyện, không phải là sự lạ. Đương sự kể đúng mới là chuyện lạ.

Không biết trong Mười Ba Cô Tân Định có bao nhiêu cô hiện sống ở Pháp, ở Mỹ, ở Úc, ở Việt Nam?? Năm nay – 2014 – các cô chừng trên dưới Năm Bó tuổi đời.

Nên hôm nay, gượng vui, tôi viết những chuyện văn nghệ văn gừng, để quí vị đọc cho tạm quên những đen tối của cuộc đời trong năm, mười phút. Văn nghệ có thể giúp người đọc giải trí. Tôi viết về những théc méc của tôi.

Hịch Tướng Sĩ

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu mạng Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được ?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào ? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu ! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt !

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thực hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng ?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy; nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không ?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy ? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa ?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.

o O o

CTHĐ: Kính thưa Trần Hưng Đạo Đại Vương.

Tôi chắc những người Việt ngày xưa – luôn cả người Việt ngày nay – chẳng ai biết những người tên là Kỷ Tín, Vương Công Kiên, Nguyễn Văn Lập, Cốt Đã Ngột Lang ..v..v.. Tôi tiếc Ngài đã không nhắc đến trong bài Hịch của Ngài những văn thần, danh tướng của dân tộc ta như Lữ Gia, Lý Thường Kiệt, Lê Hoàn….

Lý Thường Kiệt, danh tướng thứ nhất và duy nhất của dân tộc Việt Nam  đã thống lĩnh quân Việt đánh sang đất Tầu. Tôi thắc mắc thấy những người Sài Gòn đặt tên đường phố Sài Gòn năm 1955 đã quên ông. Đến những năm 1960 thành phố Sài Gòn mở con đường qua chợ Tân Bình, tên vị danh tướng Lý Thường Kiệt mới được dùng để đặt tên con đường này.

o O o

Nguyễn Tuân: Ấm đất.

Nguyễn Tuân: Ấm đất.

Ấm đất.

Những buổi có phiên chợ, cụ Sáu ngồi ghé vào nhờ gian hàng tấm của người cùng làng, bày ra trên mặt đất có đến một chục chiếc ấm mà ngày trước, giá có trồng ngay cọc bạc nén, chửa chắc cụ đã bán cho một chiếc. Có một điều mà ai cũng lấy làm lạ, là cụ bán lũ ấm đất làm hai lớp. Mấy kỳ đầu, cụ bán toàn thân ấm và bán rất rẻ. Còn nắp ấm cụ để dành lại. Có lần vui miệng, cụ ghé sát vào tai người bà con:

“Có thế mới được giá. Có cái thân ấm rồi, chẳng nhẽ không mua cái nắp vừa vặn sao? Bán thân ấm rẻ, rồi đến lúc bán nắp ấm, mới là lúc nên bán giá đắt. Đó mới là cao kiến.”

Cụ Sáu cười hề hề, rồi vội quay ra nói chuyện với bạn hàng đang mân mê những cái thân ấm đất đủ màu, cái thì dáng giỏ dâu, cái thì múi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng. Cụ đang bảo một ông khách:

– Thế nào tôi cũng tìm được nắp ấm cho ông. Cứ phiên sau lại đây thế nào cũng có nắp. Không, đúng ấm tàu đấy mà. Nếu không tin ông cứ úp ấm xuống mặt miếng gỗ kia. Cho ấm ngửa trôn lên. Cứ xem miệng vòi với quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng miếng gỗ thì biết. Nếu muốn thử kỹ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm Tàu.

CTHĐ bàn loạn: Quí vị vừa đọc một đoạn trích trong truyện ngắn Những Chiếc Ấm Đất của Nguyễn Tuân. Tôi sốt ruột khi thấy nhiều người Việt ca tụng văn tài Nguyễn Tuân. Bốc Nguyễn Tuân lên đến mây xanh. Dường như không ai thấy trong những tác phẩm của Nguyễn Tuân có những sự kiện vô lý, ngô nghê, ngớ ngẩn như chuyện những cái ấm đất. Nhân vật bán ấm đất chơi trò láu cá, ma lanh, gạ bán ấm pha trà không có nắp ấm cho người mua giá rẻ, rồi sau đó bán nắp ấm với giá thật đắt. Không ai mua ấm pha trà không có nắp. Ai lỡ mua ấm không nắp để bị bắt buộc phải mua nắp ấm giá đắt, người ta nhổ vào mặt người bán.

o O o

Đại úy Nguyễn Văn Nhung.

Khi anh em ông Diệm cùng Đại Úy Đỗ Thọ và Đại uý Hồ Trung Hậu được dẫn đến chiếc xe M 113 đậu trước cửa nhà thờ Cha Tam thì Đại úy Nguyễn Văn Nhung  ra lệnh tài xế xe M113 mở cửa sau xe và ra hiệu cho hai người bị bắt vào xe.

Ông Nhu phản đối:

“Tổng thống vẫn còn là Tổng thống, đón Tổng thống bằng xe nầy à? “

Đại úy Nhung lầm lì, không trả lời, đẩy mạnh anh em ông Diệm vào trong khoang xe, ra lệnh cho tài xế đóng cửa xe tức khắc. Đáng lẽ xe nầy chở 4 người nhưng vì khoang xe chật, đầy quân dụng nên tôi bảo Đại úy Đỗ Thọ và Đại uý Hồ Trung Hậu sang đi xe khác! Xong, tôi ngồi xe Jeep có Đại úy Nghĩa ngồi băng sau, chỉ huy đoàn xe M 113 đón anh em ông Diệm hướng về Bộ Tổng Tham Mưu.

……..

Đến nơi, khi mở cửa xe M 113 thì sàn xe đẫm máu của anh em ông Diệm, máu tươi tràn ra ngòai sàn xe, ai thấy cũng lấy làm thương tâm, tôi thì hòan tòan sững sờ không ngờ mình là chứng nhân và dính líu trực tiếp vào một cuộc thảm sát vô cùng tàn bạo! Sau nầy, có dịp gặp lại tôi, Đại úy Hồ Trung Hậu cám ơn rối rít. Ông nói:

“Nếu hôm đó tại Nhà thờ Cha Tam, ông không bảo tôi và Đại úy Thọ sang xe khác thì hai đứa tôi chắc cùng chung số phận anh em ông Diệm, chết dưới bàn tay đẫm máu của Đại úy Nhung!”

Đại uý Nguyễn Văn Nhung được thăng lên Thiếu Tá. Nhưng chỉ đến ngày 30 tháng 1, 1964, xẩy ra cuộc chỉnh lý, Tướng Nguyễn Khánh lên cầm quyền.  Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt giam. Ngày 17 tháng 2 năm 1965, sĩ quan Báo chí Bộ Quốc Phòng của Thủ tướng Nguyễn Khánh loan báo:

“Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sỹ quan tùy viên của Trung tướng Dương Văn Minh, bị bắt giữ hồi đêm 30 tháng 1, 1975, bị giam tại Trại Hoàng Hoa Thám, đã tự vẫn bằng dây giày”.

Có lời đồn Tướng Nguyễn Chánh Thi đã tham gia vào việc đánh đá, tra tấn Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung làm cho Thiếu tá Nhung chết thê thảm. Bà Huỳnh Thị Nhi, vợ TT Nguyễn Văn Nhung, cho biết khi khâm liệm xác ông Nhung, bà thấy trên mặt, trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím, có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô. Như vậy, Thiếu tá  Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người. Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn, từ số 140 ngày 1/10/70 đến số 160 thì Thiếu tá Nguyễn văn Nhung đã “bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Lời khai của ông được thâu băng trao cho Tướng Khánh.”

CTHĐ: Tôi thắc mắc: tại sao những Tướng làm đảo chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm lại giết Đại úy Nguyễn Văn Nhung?

o O o

Qua những bài Thơ của Nhà Thơ Nguyễn Du tôi thấy ông kể ông đói dài, đói dzẹt, tóc ông bạc sớm, ông nhiều bệnh, trong 10 năm tuổi đời thanh xuân của ông, từ năm ông 20 đến năm ông 30 tuổi, ông sống nhờ nhà người ở chân núi, ở bãi biển, ông thường buồn thương ngửa mặt nhìn trời, tôi cứ tưởng ông là người cơ thể yếu đuối, ông sống cô đơn, buồn sầu như lời ông tả trong Thơ Ông. Nào là:

Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
Phong trần đội lý lưu bì cốt,
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng!

Người đến bước đường cùng không có mộng đẹp,
Trời xoay bể khổ lại để thúc giục thêm bước chân phiêu lưu.
Trong đám người phong trần thân ta chỉ còn da bọc xương,
Trên gối khách buồn tênh, mái tóc rối bù!

Nào là:

Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ, tân du thiếu,
Nhất thất xuân hàn cửu bệnh đa…

Trải gió bụi mười năm bỏ nước đi xa
Phơ phơ tóc bạc ở nhờ nhà người.
Đường dài ngày muộn, ít có bạn mới,
Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều…

Lại nào là:

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên…

Người tráng sĩ đầu bạc bi ai đứng nhìn trời
Hùng tâm và sinh kế cả hai đều mờ mịt…

Lại lại nào là:

Xuân hàn, hạ thử tối tương xâm,
Nhất ngọa Hồng Sơn tuế nguyệt thâm.
Minh kính hiểu hàn khai lão sấu,
Sài phi dạ tĩnh khốn thân ngâm.
Thập niên túc bệnh vô nhân vấn,
Cửu chuyển hoàn đơn hà xứ tầm?
An đắc huyền quan minh nguyệt kiến,
Dương quang hạ chiếu phá quần âm.

Xuân lạnh, hè nóng cứ theo nhau đánh ta,
Ta nằm bệnh ở Núi Hồng nhiều năm rồi.
Sớm mai lạnh soi gương thấy già và gầy,
Đêm vắng, cửa sài đóng, nghe tiếng rên.
Bệnh đã mười năm, không ai thăm hỏi,
Tiên đan chín lần luyện mới thành, biết tìm đâu ra.
Sao được thấy trăng sáng ở huyền quan,
Chiếu ánh sáng phá tan vầng khí âm u.

Những lời Thơ như thế làm tôi yên trí Thi Sĩ Nguyễn Du là người nhiều bệnh, nhiều buồn, người ông gầy gầy, tóc ông bạc sớm, thận ông suy, một đêm ông đi tiểu bốn, năm lần, ông thường bị đau lưng, thấy đàn bà ông sợ, ông sống nhờ nhà những người quen, khi xét trong túi có 30 đồng tiền ông mừng vì ông có tiền mua rượu, ông làm thơ:

Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử, đông hàn, đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh cố giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Lan mùa xuân, cúc mùa thu.. nay thành chuyện hão,
Nắng mùa hạ, lạnh mùa đông đã cướp đi tuổi trẻ.
Dắt con chó vàng đi tìm vui trên núi Hồng,
Nằm bệnh trong mây trắng bên sông Quế.
Nơi thôn quê mua rượu mãi không chán,
Trong túi còn có ba mươi đồng tiền.

… nhiều ngày ông nhịn đói. Về mặt Tình Dục, nói theo Mỹ là về Sex, chắc ông yếu lắm. Nhưng mà..

Đọc Tiểu Sử của ông tôi té ngửa. Mèn ơi.. Nhà Thơ Lớn của tôi, Nhà Thơ tôi vinh danh là “Thi sĩ tài hoa nhất kể từ ngày dân tộc Việt Nam biết làm Thơ “, không phải là Thuyền Trưởng Hai Tầu, ông là Thuyền Trưởng Ba Tầu. Về mặt Thuyền Trưởng, ông hơn ông Thuyền Trưởng Hai Tầu Văn Quang một cấp. Nhà Thơ Lớn của tôi 3 vợ, 18 con, 12 trai, 6 gái.

Đấy là Nhà Thơ Thuyền Trưởng đói, bệnh, đấy là Nhà Thơ Thuyền Trưởng sống vất vưởng đến năm 30 tuổi mới ra làm quan và chỉ làm quan có 20 năm. Nếu Nhà Thơ đỗ Tiến Sĩ ngay năm Nhà Thơ 20 tuổi, Nhà Thơ làm quan ngay từ năm Nhà Thơ 22 tuổi, số vợ con của ông sẽ đông đến chừng nào, ông đâu có kém gì thân phụ ông là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm 9 bà vợ, 21 người con! Không những không kém, có thể cái gọi là “năng xuất sinh sản” của ông còn cao hơn thân phụ ông!

Tôi théc méc về chuyện Thi sĩ Nguyễn Du 30 tuổi mới ra làm quan. Ông từ trần năm ông 52 tuổi. Như vậy ông có ba bà vợ từ năm nào trong đời ông? Từ năm ông 20 tuổi hay từ năm ông 30 tuổi?

52 tuổi, ba bà vợ, 18 người con. Phải nói ông là người đàn ông khá mạnh về sinh lý.

Người đời sau viết về đời tư Thi sĩ Nguyễn Du thật nhiều. Tôi chưa thấy ai viết đến chuyện Thi sĩ ba vợ, 18 người con.

Tôi théc méc Thi sĩ Nguyễn Du làm nhiều – rất nhiều – bài thơ vịnh những nhân vật lịch sử Tầu, vịnh và ca tụng Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, Kinh Kha, Dự Nhượng, Chu Du .. v.. v… Ông ca tụng Mã Viện:

Đề Đại Than Mã Phục Ba Miếu

Tạc thông Lãnh đạo, định Viêm khư.
Cái thế công danh tại sử thư.
Hưóng lão đại niên căng qu8ác thước.
Trừ y thực ngoại tận doanh dư.
Đại Than phong lãng lưu tiền liệt,
Cổ miếu tùng san các cố lư.
Nhật mộ thành tây kinh cức hạ,
Dâm Đàm di hận cánh hà như.

Đề Miếu Mã Phục Ba ở Đại Than

Đục thông đường Ngũ Lĩnh đi bình định đất miền Nam.
Công danh hơn đời còn ghi ở sử sách.
Về già nhiều tuổi mà còn khoe quắc thước.
Trừ cơm áo ra hết thẩy đều là thừa.
Giữa sóng gió của Đại Than để lại công lao ngày trước.
Cây tùng, cây sam bên miếu cổ xa cách quê nhà.
Xế chiều, dưới đám gai góc phiá tây thành,
Nỗi than tiếc ở Dâm Đàm * nay như thế nào.

CTHĐ: Nhà thơ không làm qua một bài thơ nào về những nhân vật lịch sử dân tộc Việt, dân tộc của ông. Đoc những bài thơ Bắc Hành của ông, tôi có cảm nghĩ tác giả là một ông Tầu.

Tôi théc méc nhất là chuyện ông chứng kiến trận Vua Quang Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh quân dân Việt đánh tan quân Mãn Thanh xâm chiếm Thành Thăng Long. Năm ấy ông 20 tuổi. Nhưng ông không có qua một câu thơ nào về chiến công ấy.

Tại sao thế?

Tôi không thấy ai théc méc về việc những thi phẩm vịnh nhân vật lịch sủ của Nhà Thơ Nguyễn Du gần như không có một nhân vật lịch sủ Việt Nam nào.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Du thương tiếc nhà Lê. Nhưng thơ ông cho tôi thấy ông sang Tầu chỉ sau Vua Lê Chiêu Thống khoảng mười năm, ông đi qua những con đường Vua Lê Chiêu Thống đã đi, không có bài thơ nào của ông xót thương Vua Cũ.

———-

* Dâm Đàm: Tên gọi Hồ Tây thời Hai Bà Trưng, Mã Viện. Thời ấy – tôi chắc – hồ thông với sông Hồng nên năm năm, trong mùa nước lớn, nước sông Hồng chẩy vào hồ Tây, hồ rất rộng. Thơ Tầu ghi thời Mã Viện đến hồ ấy, thấy hồ rộng đến độ chim bay qua mỏi cánh, rơi xuống hồ. Thời xưa ấy sông Tô Lịch cũng thông với sông Hồng. Đời nhà Lý cho đắp đê sông Hồng, nước sông Hồng không chẩy vào hồ Tây; hồ Tây thu nhỏ, sông Tô Lịch thành sông cạn. CTHĐ

4 Responses

  1. Bài mới của cụ u8….có 1 đoạn nói về vụ đại úy Nhung giết anh em Diệm trong xe thiết giáp…. và sau đó tới phiên mình cũng bị thanh toán chết trong tù.

    HHT théc méc: vì sao các phản tướng đã giết thiếu tá Nhung ? sợ nhân chứng hay có ai đó trả thù dùm cho Diệm.

    Kg có tòa án nên những chuyện này thuộc về nghi án !

    VHM (cn) taberd686970.altervista.org

  2. Em bình loạn cào cào , trúng trật không chịu trách nhiệm.

    1) Đức Trần Hưng Đạo : có lẽ sính ngoại như hầu hết những người Việt hồi ấy và bây giờ. Cũng có thể Đức Trần H. Đạo không muốn nhắc tới nhà Lý vì nhà Trần cướp ngôi nhà Lý.

    2) Phải giết Đại úy Nhung để bịt miệng. ĐU Nhung chỉ là con dê tế thần.

    3) Nguyễn Tuân và Ấm Đất = Nhảm. CTHĐ trúng trăm phầm trăm.

    4) No comment.

  3. Trích : “Tin trên làm tôi nhớ một chuyện xẩy ra ở Sài Gòn Xưa – dường như vào khoảng những năm 1970 – ông bà – dường như chủ tiệm vàng – ở bên chợ Tân Định, đã có 12 cô con gái.”

    Đó là tiệm vàng Kim Thịnh. 2 ông bà tuy giàu có nhưng rất tốt, không hợm hĩnh với những trẻ con nhà nghèo. Vào dịp mùa trung thu, trẻ con (học sinh) đứng chờ xe bus đi Phú nhuận – Thông tây Hội đều được ông hoặc bà Kim thịnh cho bánh ăn.

    2 ông bà đều trắng trẻo, nên các chị, các cô đều trắng cả. Đặc biệt là họ rất giống nhau (cái miệng).

  4. Tôi théc méc nhất là chuyện ông chứng kiến trận Vua Quang
    Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh quân dân Việt đánh tan quân
    Mãn Thanh xâm chiếm Thành Thăng Long. Năm ấy ông 20
    tuổi. Nhưng ông không có qua một câu thơ nào về chiến
    công ấy….Trong mắt kẻ sĩ như Nguyễn Du, Phạm Thái thì Huệ chỉ là kẻ thất phu , cuộc chiến lẽ không xẩy ra …cũng như 1975 không một kẻ sĩ nào có thể ca ngợi cái đáng lẽ không thể vì không nên xẩy ra cả…một cuộc chiến ngớ ngẩn của dân Anamit !.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: