• Năm 25 tuổi

    hoang-hai-thuy-25-tuoi.jpg

    Hoàng Hải Thủy, năm 25 tuổi, trong căn nhà 78/5 đường Mayer, mới đổi tên là đường Hiền Vương, Tân Định, Sàigòn, Năm 1957.
  • Thể Loại

  • Được yêu thích …

  • Bài Cũ

MUÔN  CHUNG, NGHÌN TỨ

melia

Nhà Văn An Khê  Nguyễn Bính Thinh là một trong số những người viết tiểu thuyết đăng nhật báo – tên Pháp là truyện feuilleton: phơi-ơ-tông – nổi tiếng của giới nhật báo Sài Gòn những năm từ 1960 đến 1975. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của anh là truyện “Người vợ hai lần cưới.” Truyện này, khoảng năm 1960, được làm thành phim với cái tên “Hai Chuyến Xe Hoa.”

Làng báo Sài Gòn có hai người vì chống Pháp mà phải ở tù Côn Đảo: ông Trần Tấn Quốc, tù Côn Đảo 5 năm, những năm tù ấy ông 20 tuổi, mãn án trở về quê ông sống yên ổn. Là phạm nhân chính trị từ Côn Đảo về nhưng ông không bị quan Tây, quan Ta làm khó dễ gì cả. Ông lên sống ở Sài Gòn và trở thành chủ nhiệm nhật báo Tiếng Dội từ năm 1950.

Người viết báo thứ hai bị tù Côn Đảo là anh Nguyễn Bính Thinh. Anh tù Côn Đảo những năm từ 1943 tới 1945. Tháng Tư 1945 anh  được chính phủ quốc gia Trần Trọng Kim hủy án, cho trở về Sài Gòn, anh gia nhập quân đội năm 1950,  năm 1956, anh giải ngũ và trở thành Nhà Văn An Khê. Anh lấy bút hiệu An Khê vì khoảng năm 1952, 1953 anh là sĩ quan trong một Tiểu Đoàn Khinh Quân đánh trận An Khê, anh bị thương trong trận này. Đạn bắn vào cánh tay trái của anh, đạn không làm anh gẫy tay nhưng để lại một vết sẹo dài.

Năm 2000, ở Mỹ, tôi đọc Hồi Ký “Từ Khám Lớn đến Côn Đảo” của Nhà Văn An Khê. Anh viết Hồi Ký này năm 1983 khi anh sống ở Pháp. Tháng Tư 1975 anh An Khê sống ở Sài Gòn, năm 1980 anh và gia đình anh sang Pháp.

Mời quí vị đọc vài đoạn trích:

Hồi Ký An Khê

Từ Khám Lớn đến Côn Đảo.

..Mẹ tôi từ Kiên Giang lên Sài Gòn, bà được đặc cách vào Khám Lớn thăm tôi. Vào lúc 1 giờ trưa, văn phòng Xếp Khám có lệnh đòi làm tôi kinh sợ không biết có chuyện gì xẩy đến cho tôi. Khi bước chân vào văn phòng Xếp Chánh, một việc ít có, tôi bất ngờ trông thấy mẹ tôi. Tôi tưởng như tôi thấy mẹ tôi trong chiêm bao. Mẹ tôi nhìn tôi, nước mắt tuôn ròng. Lòng bà mẹ nào không xót sa đau đớn khi trông thấy đứa con mình thương yêu đang ở trong tình trạng thê thảm. Đầu trọc lốc, người ốm nhách, chỉ mặc chiếc si-líp vải xanh may vá víu, chân đi xịch sụi. Mẹ con gặp nhau hôm nay không biết còn có lần nào gặp lại nữa không!

Ông Xếp Chánh nói vài lời trấn an mẹ tôi là tôi bị bịnh tê nhức, chỉ nằm nhà thương ít lâu khắc khỏi bịnh. Y bước ra ngoài để cho mẹ con tôi tự do nói chuyện với nhau trong khoảng 10 phút. Tại văn phòng Xếp Chánh hôm ấy chính mắt tôi trông thấy trên tường sau bàn giấy của y ta có treo hai cây đại đao gác chéo lên nhau. Tuy là vật cổ ngoạn thưở xưa để lại song ánh thép hai cây đao bén sáng lung linh người nhìn có cản giác như đao có tanh tanh mùi máu người. Về sau tôi đọc quyển “Sài Gòn năm xưa “của nhà sưu tầm và khảo cổ Vương Hồng Sển, mới biết xưa kia trước khi có máy chém, tả đao chặt thủ cấp tử tôi bằng hai cây đao ấy.

Mẹ tôi đem cho tôi mấy bịch cốm kẹo và hai gáo dừa bự đựng thịt heo và thịt bò ram mặn. Ôi..không biết mẹ tôi hỏi ai mà biết được mấy món thức ăn rất cần có của người tù. Mẹ tôi bảo tôi:

“Má biết con không hút thuốc nên không mua thuốc đem vô.”

Bà có dè đâu thuốc lá là món rất cần cho người  tù, thiếu gì cũng được, thiếu thuốc lá là khổ nhất. Tội nghiệp mấy người bạn tù của tôi đang chờ tôi về phòng để có điếu thuốc hút. Viên Xếp Khám khi biết chuyện không vui ấy liền kéo ngăn bàn viết lấy ra một gói thuốc điếu Mélia Vàng đưa cho tôi. Ông khuyên mẹ tôi nên gửi lại cho tôi ít tiền để tôi có tiền mua bánh kẹo,  thuốc điếu.

Gói Mélia Vàng đem về phòng giam là nỗi vui của anh em tù cùng phòng. Tôi không biết hút thuốc nên đưa cả gói cho anh Tư Có để anh chia cho anh em. Tôi lấy cốm kẹo ra bầy tiệc liên hoan anh em cùng ăn. Sau đó anh Tư Có và vài bạn tù có chút thịt kho để ăn cơm. Anh Tư Có mau lành mấy vết thương vì bị tra tấn, ban đêm anh không còn rên rỉ vì đau nhức nữa.

Anh thường ngâm Kiều cho chúng tôi nghe. Khi đến đoạn Từ Hải nói với Thúy Kiều:

“Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau.”

Anh đắc ý, nắm tay tôi, ngâm lại câu đó như một lời hứa hẹn. Tôi nghe và mỉm cười, ghi nhận lời hứa của anh cho vui lòng anh. Tôi nào nghĩ đến ngày nào đó tôi được anh trả nghĩa.

Người chung cảnh khổ thương nhau là chuyện thường. Tôi chia sẻ chút ít phần ăn của tôi cho các bạn tù có gì đáng kể. Tôi không dè một năm sau khi bị đưa ra tù ở Côn Đảo, tôi đã dùng hai câu Kiều ấy để nhắc anh Tư Có nhớ đến tôi. Đây là thời gian anh Tư Có – anh ra Côn Đảo trước tôi – đang cực khổ thê thảm ở Sở Đốn Củi Chuồng Bò thì may mắn được trung đội lính Nhật gọi ra làm thông ngôn. Anh biết tiếng Nhật. Anh trở thành người tù đỡ khổ nhất Côn Đảo thời ấy.

Một hôm có hai chiến hạm Nhật vào vịnh biển, cho lên đảo một đội lính Nhật  khoảng 30 người. Một chuẩn úy Nhật, được gọi là Tài-chồ, chỉ huy đội lính này. Tài-chồ cho biết lính Nhật lên đảo để kiểm xoát trạm thông tin của Pháp đặt trên Núi Chúa. Trong đội lính Nhật có người biết tiếng Pháp, Tài-chồ cần có người Việt biết tiếng Nhật làm thông ngôn. Anh Tư Có biết tiếng Nhật. Anh được gọi ra làm thông ngôn. Do đó anh trở thành một nhân vật quan trọng trên đảo.

Lúc ấy tôi vừa thoát ra khỏi khu biệt giam Chuồng Cọp, tôi bị đưa về Khám 2 nhà thương, ở phòng tù bệnh liệt. Ở đây tôi gặp anh Giáo Thố, anh làm cặp-rằn Sở Đốn Củi. Anh kể là anh Tư Có đến thăm anh. Tôi nhờ anh Giáo Thố khi gặp anh Tư Có, ngâm dùm tôi câu Kiều:

Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau.

Tôi chỉ nhờ anh Giáo Thố nói vậy thôi. Qua ngày sau anh Giáo Thố tìm gặp tôi, kể anh Tư Có nghe câu Kiều ấy, hỏi ngay:

“Phải anh T. nhắn không?”

Và nói:

“Được rồi. Tôi có cách kéo ảnh về ở chung với tôi.”

Tôi được biết khi ấy quân đội Nhật muốn tìm và dùng một số người Tù Việt Quốc Gia. Viên đội hai sao Sato phụ trách về chính trị bảo anh Tư Có chọn một số tù chính trị ra làm việc. Anh Tư Có biên tên tôi trong số người này.

Thế là một buổi sáng cánh cửa sắt Khám 2 mở rộng cho viên đội Nhật Sato đi với viên Xếp Khám Tây vào tìm tôi. Đấy là do anh Tư Có cẩn thận dặn Sato phải vào tận khám tìm tôi, đừng nhờ bureau effectif gọi tôi, e tôi sẽ không bao giờ được ra khỏi khám.

Tôi được đưa về Dinh Giám Đốc khám đường khi ấy đã trở thành Tổng Hành Dinh Quân Nhật. Đội Sato gọi anh Tư Có đến văn phòng gặp tôi. Y kể hôm qua y để tôi chờ y ở bệnh viện, y đi có chuyện gấp và y quên tôi. Suốt đêm y thao thức vì chuyện tôi. Sáng sớm y vào khám đón tôi vừa kịp lúc tôi sắp bị đưa đi mất tích. Tại phòng làm việc của Sato tôi được mời hút thuốc điếu Esquire, uống trà Tầu, được ngồi thoải mái. Tôi ở bên anh Tư Có cho đến ngày Tù trên đảo tổ chức lễ Mừng Việt Nam Độc Lập. Lễ này có ông Ủy Viên Công Cán của chính phủ Trần Trọng Kim là bác sĩ Trần Tấn Phát từ Sài Gòn ra đảo ban hành Lệnh Trả Tự Do cho 123 chánh trị phạm bị Pháp giam tù.

Được trả tự do nhưng chúng tôi chưa được về đất liền ngay, chúng tôi phải chờ tầu đến rước. Trong khi chờ đợi chúng tôi trở thành thường dân, được lãnh gạo, rau, thịt cá theo tiêu chuẩn “thầy chú” tức nhân viên công chức làm việc ở đảo.

Đến ngày 25 tháng 8, 1945 có chiếc tầu Nhật đi ngang Côn Đảo. Chánh phủ Trần Trọng Kim nhờ tầu đưa 123 người chúng tôi về Sài Gòn. Chúng tôi về đến bến Sài Gòn đúng ngày Việt Minh cướp chính quyền. Không ai chờ đón chúng tôi ở bến. Chúng tôi bùi ngùi từ biệt nhau, ai về quê nấy. Anh Đào Duy Phiên về Bắc trên chuyến tầu hỏa Xuyên Việt cuối cùng. Không biết ở đất Bắc anh có bị bọn Cộng  sản ám hại như ở Côn Đảo anh đã từng bị người em ruột của anh là cộng sản ám hại hay không. Ông tù Võ Oanh, tú tài Hán học, dường như là người Nghệ An, không trở về Bắc vì khi ông đi tù Côn Đảo gia đình ông đã tan nát. Về sau ở Sài Gòn ông vừa trốn lánh Tây vừa lén lút viết báo kiếm ăn. Có dạo quân Pháp lùng sục tìm bắt những người tù Côn Đảo đưoc chính phủ Trần Trọng Kim cho về đất liền. Chính quyền thực dân Pháp coi những người tù này là tù vượt ngục. Họ bắt người tù trở lại Côn Đảo. Khi bị bắt người tù bỏ chạy bị họ bắn chết tại chỗ. Trong những năm ấy những người cựu tù chính trị Côn Đảo gặp cảnh khốn đốn vô cùng. Vô bưng thì bị bọn Cộng sản ám hại, sống trong thành thì bị Pháp bắt, bị bao bố nhận mặt.

Miền Nam sau năm 1946 có nhiều chánh phủ quốc gia nối tiếp nhau cầm quyền. Bi thảm thay, không một chánh phủ quốc gia nào nghĩ đến việc bảo vệ những chiến sĩ quốc gia, nhứt là những người tù Côn Đảo trở về, khiến người tù Bùi Ái Quốc bị Pháp bắn chết ở Bà Rịa, người tù Võ Oanh và người tù Trịnh Lương bị Pháp bắt lại, đưa ra Côn Đảo lần thứ hai.

Khám Lớn Sài Gòn, đường Gia Long. Năm 1953 khám đường này bị đập bỏ.

Khám Lớn Sài Gòn, đường Gia Long. Năm 1953 khám đường này bị đập bỏ.

CTHĐ: Ông Xếp Khám Lớn Sài Gòn những năm 1942, 1943 là người Pháp. Nhà Văn An Khê không viết rõ về ông này. Nhưng cứ theo sự hiểu bết thông  thường, Xếp Khám – Quản Đốc Nhà Tù Sài Gòn thời Pháp làm chủ Sài Gòn phải là người Pháp. Không biết vì nguyên nhân nào Xếp Tây cho bà mẹ anh An Khê gặp anh trong văn phòng của y. Một việc mà người tù An Khê viết là ít có. Xếp còn lịch sự ra khỏi văn phòng trong ít phút để hai mẹ con người tù nói chuyện với nhau. Xếp còn tự ý đưa cho người tù một bao thuốc điếu Melia để người tù mang về phòng đãi các bạn tù. Với tư cách là một người tù 8 năm trong ngục tù cộng sản, tôi – Công Tử Hà Đông –  cảm khái vì lòng tốt của ông Quản Đốc Khám Lớn Sài Gòn người Pháp trong Hồi Ký của nhà văn An Khê.

Trong Hồi Ký anh An Khê kể người tù trong Khám Lớn Sài Gòn trong những năm 1940 đều trần truồng trong phòng tù. Quần áo của họ bị cất giữ, họ chỉ được phát một cái khố. Khi đi ra gặp thân nhân, người tù cũng ở trần, chỉ mặc có cái khố.

Hồi Ký: Trong những năm ấy những người cựu tù chính trị Côn Đảo gặp cảnh khốn đốn vô cùng. Vô bưng thì bị bọn Cộng sản ám hại, sống trong thành thì bị Pháp bắt, bị bao bố nhận mặt.

“.. bị bao bố nhận mặt..” Một thủ đoạn bắt người của Surete Pháp, cách bắt người này chỉ được làm ở Sài Gòn những năm 1946, 1947. Lính Pháp bao gọn một khu phố – thường là khu lao động, nhà vách ván – bắt hết đàn ông, thanh niên ra ngồi một chỗ. Một người Việt bị bắt bị đưa đến, bị chụp cái bao bố lên đầu, bao bố có hai lỗ thủng để người bị bắt nhìn ra. Đàn ông, thanh niên trong xóm lần lượt đi từng người đến đứng trước “Bao Bố.” “Bao Bố” gật ai là người đó bị bắt. Việc “Báo Bố” bắt người này chỉ xẩy ra ở Sài Gòn những năm 1946 đến 1948. Mật thám Tây dùng bao bố để bảo vệ người bị bắt chịu chỉ cho chúng bắt người khác.

Những năm 1943, 1944, khi nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, Mật Thám Đức dùng “Bao Bố” để bắt những người Pháp chống Đức. Mật Thám Đức khai sinh ra trò “Bao Bố.” Khi trở lại Sài Gòn, bọn Mật Thám Pháp dùng “bao bố” để bắt những người Sài Gòn chống chúng. “Bao Bố” chỉ được Sureté Pháp dùng ở Sài Gòn.

Hồi ký An Khê viết: Từ năm 1946 chính quyền thực dân Pháp coi những người tù chính trị Côn Đảo được chính phủ Quốc gia Việt Nam của Thủ Tướng Trần Trọng Kim trả tự do, đưa về đất liên, là “tù vượt ngục.” Mật thám Tây lùng bắt những người tù này. Chính phủ Quốc Gia thời đó không bảo vệ người tù chính trị quốc gia mà còn làm theo lệnh quan Tây. Dưới đây là Lệnh Bắt Tù Côn Đảo Vượt Ngục:

Việc Từng Ngày 1945-1964. Tác giả Đoàn Thêm.

Ngày 10 – 9 – 1948. Nghị định của Tổng Trấn Nam phần Trần Văn Hữu: Ai bắt được tù khổ-sai vượt ngục Côn Luân được thưởng 200$.

Trong số người tù Côn Đảo về cùng chuyến tầu với Nhà Văn An Khê có các ông Tù Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền, và hai anh tù Việt Cộng Lê Duẩn, Phạm Hùng. Hai anh Việt Cộng đi ngay ra bưng, nhưng ít nhất là có bốn ông Tù Phan Khắc Sửu, Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền, Nguyễn Bính Thinh vẫn sống đàng hoàng ở Sài Gòn mà không bị bắt lại. Ông Tù Phan Khắc Sửu năm 1964 là Quốc Trưởng Quốc Gia VNCH. Ông là vị Quốc Trưởng duy nhất của Quốc gia Việt Nam từng ở tù hai lần ở Côn Đảo. Hai ông Trần Quốc Bửu, Trần Hữu Quyền trở thành hai nhà lãnh đạo Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam. Ông Tù Nguyễn Bính Thinh gia nhập quân đội Quốc gia VN. Năm 1952 ông là Thiếu Tá trong một TIểu Đoàn Khinh Quân dự trận đánh lớn ở đèo An Khê. Ông bị thươngở cánh tay trái  trong trận này. Khi viết tiểu thuyết ông lấy bút hiệu là An Khê.

Như vậy tôi thấy năm xưa ấy chính quyền Pháp và Việt ở Sài Gòn có sự phân biệt đối xử với những ông Tù Quốc gia được đưa từ Côn Đảo về. Một số ông được để sống yên bình, được ra làm việc công, một số ông bị bắt lại.

Khi viết bài này – Tháng Hai 2014 – tôi tìm tiểu sử ông Trần Tấn Phát và ảnh ông trên Internet, tôi tìm không thấy. Tôi nhớ ông là bác sĩ, tên ông được đặt cho một con đường ở Tân Định, Sài Gòn, tôi nghe nói ông bị bọn Việt Minh Trần Văn Giầu bắn chết trong năm 1946.

o O o

Hôm Mồng Ba Tết — tôi, — CTHà Đông — làm cuộc xuất hành đầu năm, tôi đến Trung Tâm Eden chào quốc kỳ, rồi vào một nhà gửi tiền gửi 100 đô về Sài Gòn lì sì cho cháu nội của tôi.

Thường thì tiền gửi ở Virginia — hay ở bất cứ nơi nào trên Xứ Mỹ – gửi ban ngày thì đêm hôm đó, tức ban ngày hôm sau ở Sài Gòn, tiền gửi được đưa đến nhà người được gửi. Như trường hợp của tôi thì con tôi nhận được tiền mang đến lúc ban ngày, buổi tối nó gửi I-Meo cho tôi, sáng hôm sau mở Internet, tôi thấy thư con tôi gửi sang:

Cám ơn Bố. Con nhận được tiền Bố cho hôm nay.

Thường thì như thế. Nói rõ hơn: gửi tiền về Sài Gòn hôm nay, sáng mai tôi được điện thư của con tôi gửi từ Sài Gòn cho biết nó đã nhận được tiền. Nhưng năm nay, gửi tiền hôm Mồng Ba Tết, sáng Mồng Bốn Tết, mở Internet, tôi không thấy thư con tôi báo nhận được tiền như mọi lần trước, qua sáng Mồng Năm rồi sáng Mồng Sáu Tết vẫn không thấy gì cả. Tôi có thể I-Meo hay phôn về Sài Gòn hỏi cháu tôi — dzễ thôi — nhưng tôi không làm thế, để con tôi bất ngờ nhận được tiền Lì Sì Tết, nó sướng hơn.

Đây là việc làm cái trò gọi là surprise mà ông cha tôi học được từ các quan Đại Pháp văn minh, truyền đến tôi là đời thứ hai. Tôi cũng có thể phôn hỏi nhà gửi tiền nhưng nhân có việc lại đến Trung Tâm Eden, tôi ghé vào hỏi cô chủ văn phòng gửi tiền, cô nói:

– Xin lỗi chú. Cháu quên không nói để chú biết trước là ngày Mồng 8 Tết, ở Sài Gòn người ta mới làm việc. Nên tiền chú gửi hôm rồi đến ngày Mồng 8 Tết, người ta mới phát ở Sài Gòn.

Một bà khách gửi tiền nói:

– Ở quê nhà Mồng Bẩy Tết mới hạ cây nêu, hạ nêu rồi mới hết Tết.

Sì ra sế. Sì ra người Việt ở Mỹ Ba Ngày Tết Nguyên Đán vẫn đi cày, chẳng có nghỉ ngơi, ăn chơi Tết nhất gì cả, trong khi ở Sài Gòn người Sài Gòn ăn Tết lu bù kèn.

Lại nhớ đến thời vàng son ngày xưa người Việt ăn Tết, vui Tết, chơi Tết đến những ba tháng:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, Tháng Ba hội hè.

Người Việt ở Mỹ, Tết Nguyên Đán đến, nghỉ chơi ba tháng, có mà ăn đất.

o O o

Trích Thơ Hoàng Cầm. Tết đến:

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?

Tôi mười tuổi năm 1943 Thế Kỷ 20, tôi không được dự một hội hè đình đám nào ở quê tôi xứ Bắc Kỳ. Làng quê tôi ở Gia Lâm, bên bờ sông Đuống, từ làng tôi đến làng Phù Đổng, làng của Thánh Gióng, ở bên kia sông Đưống, đi bộ, đi đò qua sông, mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Gần thôi.

Gia Lâm không có núi đồi, nhưng qua sông Đuống là đồng đất huyện Tiên Du — Vùng này đồi núi cảnh đẹp đến nỗi các nàng Tiên trên Thượng giới phải rủ nhau xuống chơi, vì vậy có tên là Tiên Du.

Ngày xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ quên.

Chàng Từ Thức, Tri Huyện Tiên Du, gặp Tiên nữ Giáng Tiên ở núi Chè, Tiên Du.

Từ Gia Lâm, Tiên Du đi theo sông Đưống ra biển là phủ Thuận Thành, rồi đến huyện Lang Tài.

4 năm đi kháng chiến, từ 1947 đến 1950, tôi đã sống ở trong làng Phù Đổng, trong làng Phù Chẩn. Làng Cháy là tên tục của làng Phù Chẩn, làng này cách làng Phù Đổng một cánh đồng. Tục truyền khi Thánh Gióng vươn vai thành đại lực sĩ, bận giáp sắt, cầm cây thương sắt, nhẩy lên ngựa sắt, thúc ngựa phóng đi đánh giặc Ân, ngựa sắt chồm lên, hí vang, miệng ngựa phun lửa làm cháy làng Phù Chẩn, từ đó làng Phù Chẩn có tên là làng Cháy.

Như vậy sự việc Thánh Gióng và ngựa sắt là huyền sử, làng Phù Đổng và làng Phú Chẩn là những làng có thật.

Tôi đã đi qua Thuận Thành, đến huyện Lang Tài. Tôi chỉ được đến gần núi Thiên Thai mà không được lên núi, vì lúc tôi đến đấy quân Pháp đóng đồn trên núi.

Trai Cầu Vồng, Yên Thế
Gái Nội Duệ, Cầu Lim.

Trong 4 năm kháng chiến nhiều đêm tôi ngủ ở Yên Thế, Nội Duệ, nhưng tôi không có dịp được nghe một bài hát quan họ nào.

o O o

23 Tháng Chạp là ngày Ông Táo về chầu trời, báo cáo với Ngọc Hoàng về những chuyện xẩy ra trong nhà ông Táo có phận sự canh giữ. Tôi không biết chuyện Táo Quân Hai Ông Một Bà có phải là chuyện Tầu mà ông cha tôi lấy làm chuyện của dân mình hay không? Hay đó là chuyện ông cha tôi sáng tác?

Tôi théc méc khi hai Táo Ông về chầu Trời, Táo Bà có đi theo hai ông chồng không? Tôi lại théc méc Táo Quân khác với Thổ Công hay Táo Quân cũng là Thổ Công? Đã có Thổ Công giữ đất, giữ nhà, còn cần có Ông Vua Bếp làm báo cáo làm chi nữa?

Đầu năm, mời quí vị đọc chuyện vui về Thổ Công.

Thổ Công phải đòn.

– Người viết Tản Đà.

Trong một xứ, một khoa thi có hai chuyện.

Một nhà có con gái đã hưá gả cho một người học trò nghèo và trong nhiều năm nuôi người học trò này ăn học. Nhưng thi khoa ấy, anh học trò hỏng thi, bị nhà cô gái chê không gả con.

Cùng khoa thi ấy, anh con nhà kia đi thi, đỗ, về nhà anh bỏ vợ.

Cuối năm, sổ gia thư đệ lên Thiên Tào. Ngọc Hoàng xem sổ, giận lắm, cho đòi hai Thổ Công hai nhà ấy lên hầu, Ngọc Hoàng phán:

– Ta cho các người xuống làm Thổ công nhà người ta, ngày giỗ, ngày Tết, Mồng Một, Ngày Rằm, khi dựng nhà, lúc bán lợn, hai ngươi đều được cơm no, rượu say. Chức vụ hai ngươi phải giữ cho nhà người ta ăn ở có đạo đức. Sao lại để xẩy ra chuyện chỉ vì thi cử trúng, trượt mà con nọ bỏ chồng, thằng kia rẫy vợ? Như vậy các ngươi ở trong nhà đó làm chi?

Ngọc Hoàng truyền nọc cổ hai Thổ Công, đánh mỗi ông 30 roi, cách chức, rồi lại truyền lệnh cho Nam Tào:

– Việc thi cử ở trần gian chỉ làm hại cho đạo đức, luân lý. Từ nay cấm thi.

Vậy là từ đó trần gian không còn nạn thi cử nữa.

Hai Thổ Công bị đòn, bị cách chức, bỏ đi biệt tích.

Hai Táo Quân ở nhà chờ mãi không thấy Thổ Công về, đi tìm nên biết chuyện. Hai Táo Quân bảo nhau;

– May cho chúng ta, lúi húi trong bếp, ăn xó mó niêu, quanh năm chẳng rượu thịt gì nhưng được cái không bị ăn đòn.

Hai Táo Quân cảm khái làm bài thơ:

Trần gian đổi vợ với thay chồng
Ba chục roi đòn đít Thổ Công.
Nhắn bảo trần gian cho chúng biết:
Thi chi cho bận đến phường ông.

– Tản Đà

Tản Đà Tiên sinh viết chuyện chửi đời qua việc Thi Cử cũng phải thôi, vì ông thi truợt nên ông có ác cảm với việc thi cử. Ông đi thi mà cả cái bằng Tú tài như ông Tú Xương ông cũng không có. Thi cử ngày xưa đỗ Tú tài coi như không đỗ đạt gì cả. Nếu ông Tản Đà đỗ Tú tài người đời đã gọi ông là ông Tú Tản Đà hay ông Tú Hiếu. Môt ông làm thơ rất hay mà đi thi không đỗ Tú tài là ông Nhà Thơ Nguyễn Du. Ông Phan Khôi có đi thi chữ Nho, có đỗ Tú tài, nhưng ít khi cái tên Tú Khôi của ông được dùng.

Cứ theo chuyện Tản Đà Tiên sinh kể thì mỗi nhà có hai Ông Táo,một Bà Táo, một Ông Thổ, Nam kỳ gọi là Ông Địa. Những năm 1940 tôi 10 tuổi, Ngày 23 Tết đến, tôi thấy nhiều nhà cúng bộ y phục để hai ông Táo lên chầu trời. Y phục Ông Táo làm bằng giấy xanh đỏ, gọi là hàng mã, gồm mũ cánh chuồn, áo bào, đôi hia, nhưng không thấy có quần. Y phục Táo Ông không có quần chắc y phục Táo Bà cũng không có quần. Vì vậy — tôi nghe nói — thời xưa ấy, những năm trước năm 1940 — có ông làm thơ trào phúng, tức Thơ Riễu:

Vợ chồng Ông Táo dạo chơi xuân
Đội mão, đi hia, chẳng mặc quần.
Ngọc Hoàng phán hỏi: Sao lại thế?
Thưa rằng hạ giới chúng duy tân.

Lại nghe nói bài thơ tả Ông Táo đội mão, đi hia, chẳng mặc quần là do các ông báo Ngày Nay, Phong Hoá làm ra.

Nhắc lại théc méc: Không biết chuyện vợ chồng Táo Quân Hai Ông Một Bà là chuyện riêng của dân tộc An Nam hay chuyện của Tầu? Những năm 1960 ở Sài Gòn tôi biết — chính tôi biết, tôi thấy, không phải tôi nghe ai nói — có hai ông, một bà sống chung một nhà. Bộ ba này hơn tôi khoảng 10 tuổi, dân Bắc kỳ di cư. Họ sống chung với nhau êm ru bà rù. Năm 1980 gặp một ông bạn của họ, tôi hỏi thăm về họ, ông bạn nói:

– Lúc đầu ba đưá chúng nó sống với nhau một nhà, bọn moa đều khó chịu, thằng nào cũng bảo một vợ hai chồng là không được. Nhưng chúng nó sống với nhau êm đẹp đến nỗi bọn moa phải phục, bọn moa phải chapeau.

“Phải chapeau” tức phải ngả mũ, cúi đầu chào thán phục.

Virginia is for Lovers nghe nói có một bà có hai, ba ông chồng sống chung một nhà, ông chồng nào cũng ngoan — có ông nghe nói xưa là Tá, Tướng — các ông Táo đi cày về có check đều nộp cho bà vợ chung, không ông nào bày đặt ghen tuông, tranh dành chi cả. Tôi viết rõ: tôi nghe nói, không biết chuyện Vợ Chồng Ông Táo Hai Ông Một Bà Virginia có thật không? Hay là chuyện người ta đồn?

o O o

Tôi thấy Xuân và Thời Gian đi qua mỗi khi tôi đọc bài Thơ này.

Mời quí vị cùng đọc Thơ, không biết Thơ có làm quí vị cảm thấy như tôi không?

Vuờn Xưa

– Thơ Tế Hanh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc.
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thỉ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.

Mản vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ờ hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Sao y bản chánh Thơ Tế Hanh.

3 Responses

  1. Bác ở bên ấy có nhớ làng Linh qui không , tục gọi là làng Vụi ấy , bây giờ đổi thay nhiều rồi , không còn giếng làng và những cái ao làng nữa , tre cũng còn rất ít , nhà cổ chỉ còn vài cái , đa phần là nhà 2.3 tầng . nhưng những cái cổng làng và đình , chùa thì vẫn còn và đẹp hơn trước nhiều , họ hàng vẫn đông đúc và còn nhiều người biết bác đấy .

  2. Thưa Bác,
    Cháu có người quen vừa forward một bài viết của Bác, có câu mở đầu là “Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục…” Cháu google thì thấy nhiều nguồn đăng bài này nhưng với nhiều tựa đề khác nhau. Cháu vào trang này của Bác nhưng không tìm thấy bài này. Bác có thể cho cháu biết tựa của bài viết không ạ? Cháu cám ơn Bác và kính chúc Bác luôn dồi dào sức khỏe.

  3. Thưa Bác, cháu đã kiếm ra bài viết ÐA THỌ ÐA KHỔ rồi. Cháu cám ơn Bác. Bài viết đọc thấm thía quá! Lúc nhỏ ở VN cháu rất mê truyện dịch của Bác. Cháu rất mừng đã kiếm được trang này để lại được tiếp tục đọc những áng văn tuyệt vời của Bác.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: